|
S |
au đợt huấn luyện và diễn tập thực binh ở thao trường Xuân Mai, Hà Tây, qua các cuộc chỉnh huấn chính trị, được học tập chu đáo chính sách dân vận đối với đồng bào vùng mới được giải phóng, cánh lính 308 đoán là năm 1972, sư đoàn sẽ tác chiến ở đồng bằng. Nhưng tác chiến ở vùng nào? Sau nhiều cuộc tranh luận, với những dẫn chứng, tạm gọi là có cơ sở, cánh tham mưu con ở các tiểu đoàn, phần nào đoán ra được hướng tác chiến của sư đoàn là Quảng Trị. Tác chiến ở Quảng Trị như thế nào? Lực lượng sử dụng ra sao? Đó là ý đồ của cấp trên, của các nhà hoạch định chiến lược. Về phần mình, những người thực thi chiến thuật, rất yên tâm, vì đã được huấn luyện kỹ về kỹ chiến thuật. Tư tưởng bộ đội rất thoải mái, có quyết tâm cao, mỗi người đều mong muốn hoàn thành nhiệm vụ, và cùng nhau xây dựng hơn nữa truyền thống vẻ vang "Quân tiên phong". Đó là:
"Hễ đánh là thắng
Hễ đánh là tiêu diệt sinh lực địch
Càng đánh càng vững mạnh
Quyết định chiến trường"
Với truyền thống như vậy, mỗi khi được cấp trên sử dụng, sư đoàn đều có mặt ở hướng chủ yếu của chiến dịch. Vì vậy, những ngày cuối năm 1971, sư đoàn thực thi cuộc hành quân đèn cù, vừa tạo cho mình yếu tố "Bí mật bất ngờ", vừa giữ bí mật cho hướng tấn công của quân ta. Ngày 25 tháng 3 năm 1972, toàn sư đoàn đã có mặt đầy đủ ở Vĩnh Linh và Hướng Hóa, những địa danh không xa lạ gì với "Quân tiên phong". Bởi lẽ, từ năm 1968, năm nào đi chiến dịch, từ Khe Sanh, nam Lào sư đoàn đều dừng ở đây vài ngày để củng cố lực lượng và tạm biệt hậu phương.
Sau một ngày "sốc" lại đội hình, bổ sung quân trang quân dụng, lương thực thực phẩm, ngày 27 tháng 3 năm 1972, sư đoàn vượt sông Bến Hải ở thượng nguồn, hành quân "ém" ở phía tây đồi Không Tên. Ở khu đồi lúp xúp lừng danh với những chiến công của tiểu đội Bùi Ngọc Đủ, suối La La, sư đoàn được mang biệt danh là đoàn Đông Hà, có nghĩa là mục tiêu tác chiến của sư đoàn đã được cụ thể hóa. Nhưng cho đến lúc ấy, sư đoàn vẫn phải tuyệt đối giữ bí mật, không được dùng vô tuyến, mọi hình thức liên lạc, gần thì chạy bộ, xa thì dùng hữu tuyến, không riêng gì sư đoàn, cả mặt trận đều hồi hộp chờ đợi giờ D.
Mười một giờ ngày 30 tháng 3 năm 1972, giờ cáo chung đối với lực lượng quân ngụy ở Quảng Trị nói chung, Đông Hà nói riêng đã điểm. Mặc dù đã được cấp trên quán triệt, phổ biến khá chi tiết, những người lính vẫn không ngờ sức mạnh của quân ta ở chiến dịch lịch sử nàu vang dội đến thế. Các trận địa pháo chiến dịch từ bờ bắc sông Bến Hải, các trận địa tên lửa, các trận địa sơn pháo, lựu đạn pháo của ta ầm ầm dội lửa vào các cứ điểm của quân ngụy khắp mặt trận Quảng Trị. Hai ngày 31 tháng 3 và 1 tháng 4 quân ta thắng lớn, một loạt căn cứ ngụy ở ngoại vi Đông Hà bị tiêu diệt. Tình hình xung quanh Đông Hà diễn biến thuận lợi:
Phía Bắc: Hai trung đoàn 27 và 48 của ta chiếm cao điểm 544, đồi Tròn, diệt quân ngụy ra ứng cứu ở Quất Lai, Thiện Xuân, Đèo Cùa.
Phía Nam: Sư đoàn 324 tiêu diệt Động Ngo, chiếm 365, bao vây căn cứ Phượng Hoàng.
Phía Đông: Hải đoàn 126 đánh chiếm Cửa Việt. Quân ngụy bỏ Dốc Miếu, Sỏi, chạy về Quán Ngang, Đông Hà.
Phía Tây - Tây Bắc: Sư đoàn 304 tiêu diệt, làm chủ Ba Hồ, Ba Tum, Đầu Mầu, Động Toàn.
Trước diễn biến quá nhanh của chiến trường, Bộ tư lệnh sư đoàn 308 quyết định tung lực lượng dự bị chiến lược vào cuộc sớm hơn dự định hai ngày. Đêm mùng 3 rạng ngày 4 tháng 4, trung đoàn 36, hướng chủ yếu của sư đoàn, cùng chỉ huy sở tiền phương sư đoàn men theo đồi Không Tên tiến ra suối La La, đến đồi con Thỏ, chuẩn bị đánh miếu Bái Sơn. Quân ngụy ở căn cứ này tháo chạy về Đông Hà từ nửa đêm, chúng bỏ lại toàn bộ trận địa pháo 155 li cùng toàn bộ trang kỹ thuật. Thậm chí thương binh nặng chúng cũng bỏ lại. Bộ Tư lệnh sư đoàn ra lệnh cho trung đoàn 36 truy kích địch chạy về Đông Hà. Trung đoàn 36 chia thành hai cánh. Cánh thứ nhất gồm tiểu đoàn 1 và 2, có một đại đội xe tăng T54, tiến xuống ngã tư Sòng, theo đường số 1, vừa hành tiến, vừa đánh trả máy bay địch, bắn cháy một trực thăng. Tới đầu cầu Đông Hà, quân ta chững lại, vì cầu đã bị quân địch phá hoảng, xe tăng không tiến về phía nam được. Chính trị viên tiểu đoàn 1 Nguyễn Hải Triều, và Trưởng Ban tác chiến Hoàng Văn Mừng, cùng một số chiến sĩ bám được vào đầu cầu phía Nam nhưng do lực lượng quá mỏng, chính trị viên Triều và Hoàng Văn Mừng đều bị thương, anh em đành mang thương binh trở lại đầu cầu phía Bắc, chờ lệnh mới. Cánh thứ hai gồm tiểu đoàn 3 và đại đội 3 tiểu đaàn 1, tiến về hướng cầu Đuồi, áp sát Đông Hà ở hướng Tây Bắc. Chủ nhiệm hậu cần trung đoàn Nguyễn Văn Thích, cùng một số anh em biết lái xe, dùng hàng chục xe của địch bỏ lại đưa cánh quân này đến đầu cầu Đuồi (cầu này đã bị hỏng từ lâu). Tiểu đoàn 3 và đại đội 3 vượt sông Cam Lộ ở đoạn cạn, áp sát được bờ phía Nam, vừa tiến về Đông Hà vừa đánh, vừa bắt tàn quân ngụy ở ngã ba Bình Đại, Vĩnh An, Tân Trúc, Tam Hiệp, diệt và bắt 83 tên địch. Đến cao điểm 30 sát đường 9, cách Đông Hà 3km về hướng tây gặp quân ngụy quá đông, tiểu đoàn 3 đánh nhiều lần nhưng không vượt qua nổi.
Lực lượng quân ngụy co cụm ở Đông Hà vào thời điểm đó gồm trung đoàn 57 sư 3 bộ binh; hai liên đoàn biệt động quân 4, 5; hai thiết đoàn 17 và 20. Lực lượng ngụy tương đương với một sư đoàn binh chủng hợp thành. Đây là cụm căn cứ chủ yếu của quân ngụy ở chiến trường Quảng Trị.
Trước tình hình vô cùng khẩn trương đó, Bộ tư lệnh sư đoàn 308 quyết định cho cánh quân thứ nhất vượt sông Cam Lộ, khẩn trương đánh chiếm thôn Tây Trì, xây dựng ở đây một chốt chặn, làm bàn đạp cùng toàn chiến dịch, tiến tới giải phóng Đông Hà.
Cuộc vượt sông của các chiến sĩ trung đoàn 36 trong điều kiện vô cùng khẩn trương, không hề được chuẩn bị, không có hỏa lực yểm hộ, lại bị xe tăng, pháo binh ngụy từ các dải đồi cao phía Nam Đường 9 bắn chặn dữ dội. Với tinh thần chấp hành mệnh lệnh nghiêm, quyết tâm chiến đấu cao, từ 4 giờ đến 7 giờ 15 ngày 3 tháng 4, tiểu đoàn 2 và một phần tiểu đoàn 1, khoảng chừng 20 người do tiểu đoàn phó Nguyễn Văn Toán, và đại đội trưởng Đại đội 1 Nguyễn Văn Đồng dùng bè chuối, túi ni lông dũng cảm vượt sông. Địa hình thôn Tây Trì sơ bộ như sau: Đường sắt xuyên Việt chia Tây Trì thành hai khu Đông và Tây, phía Nam Tây Trì cách Đông Hà một con suối nhỏ và cánh đồng cạn trống trải. Trên tuyến đường sắt có chiếc cầu hỏng, từ chiếc cầu hỏng là ngã ba đường đi vào thôn Đông Hà, chếch về hướng Đông là khu chùa tám mái. Đây là ngôi chùa, nơi thờ Phật. Vào thời điểm đó quân ngụy dồn về đây gần một vạn dân, chính sách dân vận không cho phép quân ta "kích" pháo vào. Vì vậy đánh chiếm khu cửa ngõ Đông Hà này không phải dễ.
Trở lại với tiểu đoàn 1, sau khi tiểu đoàn phó Nguyễn Văn Toán và đại đội trưởng Nguyễn Văn Đồng đưa được một số anh em, đa số là chiến sĩ hỏa lực vào thôn Tây Trì, do địa hình hoàn toàn mới lạ, địch lại đưa lực lượng lớn ra ngăn chặn, tiểu đoàn phó Toán và đại đội trưởng Đông chỉ huy bộ đội lấy vũ khí của ngụy, cương quyết đánh trả chúng. Cuộc giành giật từng mét đất, từng ngôi nhà diễn ra khá căng thẳng, có lúc quân ngụy đã đẩy quân ta trở lại giáp bờ sông. Quân ta được huấn luyện kỹ, sử dụng thành thạo vũ khí của quân ngụy bỏ lại, anh em cùng anh Toán, anh Đồng giữ vững trận địa đã chiếm được. Trong trận chiến không cân sức này, Đinh Văn Nguyên người con của quê hương Chân Mộng, một địa danh lừng tiếng của trung đoàn 36 trong cuộc kháng chiến chống Pháp, đã sử dụng tới 41 loại vũ khí đánh trả quân ngụy quyết liệt, cùng hai người chỉ huy và anh em hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh chiếm thôn Tây Trì, tạo điều kiện cho lực lượng còn lại của tiểu đoàn vượt sông vào đêm 3 tháng 4, xây dựng ở đây một chốt chiến dịch liên hoàn, sáng tạo ra một cách đánh mới cho toàn chiến dịch học tập.
Sau khi làm chủ thôn Tây Trì, lực lượng của trung đoàn 36 được bố trí: Chỉ huy sở trung đoàn ở Nghĩa An, tiểu đoàn 1 ở hướng chính diện, đối diện với chùa tám mái; tiểu đoàn 2 rải đều từ hướng tây thôn Tây Trì, nối liền với tiểu đoàn 3; phía đông là đại đội 1, kéo dài từ đầu cầu sắt về hướng Đông, đối diện với thôn Đông Hà. Toàn trung đoàn trụ vững, tạo thành một vòng cung vây hãm phía bắc Đông Hà suốt từ ngày 5 tháng 4 đến ngày 28 tháng 4 năm 1972.
Vào khoảng 7 giờ ngày 5 tháng 4, trung đội 3 đại đội 1, được hỏa lực của đại đội và tiểu đoàn hỗ trợ đã đánh lui một trung đội thám báo mò ra thăm dò, diệt 10 tên, từ đó quân ngụy ở Đông Hà không dám tấn công vào chốt chặn này nữa. Vào thời điểm này, quân ngụy thực thi chiến thuật "Di tản cơ động". Sáng sớm chúng cho quân nống ra khu Tám mái, có xe tăng trợ giúp, tối chúng rút về làng Đông Hà, trà trộn vào với dân, vì vậy khu tám mái gây cho trung đoàn, nhất là tiểu đoàn 1 của ta không ít khó khăn. Ngày 7 tháng 4, một tổn thất nặng nề đến với trung đoàn, trung đoàn trưởng Chữ Văn Trác và chính ủy Phan Văn Bích hy sinh vì pháo kích. Toàn trung đoàn dấy lên phong trào "Quyết tâm giữ vững trận địa, tìm mọi cách tiêu diệt địch, trả thù cho các thủ trưởng". 5 giờ sáng ngày 9 tháng 4 toàn trung đoàn triển khau lực lượng, chuẩn bị cùng toàn mặt trận nổ súng tấn công Đông Hà. Trung đoàn được chỉ định đánh chiếm khu hành chính. Tiểu đoàn áp sát khu Tám mái, chờ lệnh là nổ súng, do các hướng khác của mặt trận không bám được mục tiêu, trận đánh không tiến hành được, nhưng tiểu đoàn 1 vẫn "ém" quân cách khu chùa Tám mái không xa, mãi đến 19 giờ ngày 10 tháng 4 mới thu quân. Ngày 13 tháng 4, vào hồi 3 giờ sáng, đại đội 1 được phối thuộc khẩu ĐKZ 75, đại đội đã bí mật đưa lực lượng vượt suối, đào công sự, chờ trời sáng nổ súng vào khu chùa Tám mái. Vì địa hình quá trống trải, không thuận lợi cho việc vận động, tiểu đội trưởng hỏa lực Đỗ Tiến và số anh em đều bị thương, nhưng đại đội 1 đã nêu tấm gương tìm địch mà đánh.
Thời gian này, trung đoàn, nhất là đoàn 1 phải cáng đáng một áp lực khá nặng nề. Quân ngụy thực thi chiến thuật "Di tản cơ động", thường xuyên cho bộ binh, xe tăng uy hiếp, hòng chiếm lại những vị trí đã bị bộ đội ta chiếm giữ. Lực lược phi pháo của Mỹ được huy động tối đa. Ngày 10 tháng 4, Mỹ sử dụng vũ khí la-de, những quả bom "tìm diệt" lần đầu được Mỹ sử dụng ở Đông Hà. Vì vậy, việc tiếp tế cho bộ đội gặp không ít khó khăn, nhiều ngày bộ đội phải dùng lương khô thay cơm, sức khỏe giảm sút nhiều, nhưng các vị trí của trung đoàn vẫn được giữ vững. Ngày 15 tháng 4 tiểu đoàn 3 nắm địch ở cao điểm 30, phát hiện thấy một đại đội bộ binh và 7 xe tăng địch. 5 giờ sáng ngày 16 tháng 4 tiểu đoàn nổ súng và làm chủ trận địa, diệt 50 tên, nhưng không tìm thấy lực lượng chính của địch. 7 giờ sáng, bộ binh, xe tăng địch từ sườn cao điểm bất ngờ phản kích, đánh bật tiểu đoàn 3 ra khỏi cứ điểm. Nghiên cứu trận này, và qua trinh sát trung đoàn phát hiện thời cơ diệt nhiều sinh lực địch nhất là ban ngày, và khi trời sắp tối. Đó là lúc địch bị lộ lực lượng, triển khai quân giữ cao điểm và thu quân về di tản. Tình trạng này thường diễn ra ở khu chùa Tám mái, cứ điểm án ngữ và gây cho trung đoàn thương vong không nhỏ. Phát hiện kẽ hở của địch, đêm ngày 16 tháng 4, tiểu đoàn 1 tổ chức đoàn cán bộ đi trinh sát cụ thể khu chùa Tám mái. Không may đoàn cán bộ trúng mìn của địch, 6 cán bộ, và 2 chiến sĩ trinh sát đã hy sinh. Tiểu đoàn phó Nguyễn Văn Toán, người con của quê hương Điện Ngọc, Điện Bàn, Quảng Nam đã hy sinh trong hoàn cảnh ấy. Tin đau thương này được thông báo đến toàn chiến dịch và loang nhanh đến các quân y viện có thương binh của trung đoàn đang diều trị như viện 105 Hà Tây, 110 Bắc Ninh vân vân, tổn thất này là một tổn thất đau đớn nhất của trung đoàn sau khi trung đoàn trưởng và chính ủy hy sinh.
Chấp hành mệnh lệnh của sư đoàn và mặt trận, tiểu đoàn 1 lui quân về hướng đồi con thỏ củng cố. Trong lúc tiểu đoàn 1 lui ra củng cố, chờ lệnh mới, đêm ngày 22 tháng 4, trung đoàn tiếp tục đánh địch ở các cao điểm 28, 30 Tây Bắc Đông Hà, diệt 150 tên. Sáng ngày 27 tháng 4, với lực lượng đầy đủ, kể cả tiểu đoàn 1 đã củng cố xong và trở về đội hình trung đoàn. Tuy không có xe tăng phối thuộc, được sự chi viện cao của traanh địa pháp 22 của sư đoàn, đặt ở miếu Bái Sơn và hỏa lực của trung đoàn, tiểu đoàn 3 đánh chiếm và đuổi được quân ngụy ra khỏi chùa Tám mái, mở thông cửa ngõ vào Đông Hà. Tiểu đoàn 3 tiếp tục đánh chiếm cao điểm 19, phối hợp với tiểu đoàn đặc công, từ cao điểm 30 vòng xuống phía Nam bao vây tiểu đoàn 1 trung đoàn 57 ngụy. Trung đoàn chủ trương tấn công bằng hỏa lực, bức quân ngụy đầu hàng, nhưng đến 17 giờ cùng ngày, quân địch tháo chạy về Trung Chỉ, Đại Áng, qua đường sân bay Đông Hà, và bị tiểu đoàn 4 trung đoàn 88 chặn đánh diệt 100 tên cùng 4 xe tăng. Quân địch ở cao điểm 19 cũng bị tiểu đoàn 3 vây đánh và bị tiêu diệt gọn.
Đúng 5 giờ sáng ngày 28 tháng 4 năm 1972, toàn trung đoàn theo hướng Đường 9 và Tây Bắc sân bay tiến vào khu hành chính Đông Hà, Điếu Ngao và các khu phố trong thị xã Đông Hà, nhanh chóng đánh tan tiểu đoàn 2 trung đoàn 57, và chi đội thiết giáp, làm chủ chiến trường trong tiếng reo hò vang dậy của quân ta. Chiến dịch Đông Hà đã toàn thắng!
Ngày 23 tháng 9 năm 1973, tiểu đoàn 1 được Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên dương đơn vị anh hùng.
Ngày 3 tháng 6 năm 1976, trung đoàn 36 cũng được tuyên dương đơn vị anh hùng. Trong bản thành tích tuyên dương công trạng của trung đoàn có đoạn ghi "Chiến dịch Quảng Trị, trung đoàn đánh những trận nổi tiếng ở thôn Tây Trì, Đông Hà… Bằng chiến thuật "Phòng thủ cụm chốt liên hoàn" trung đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ!
B.T




