Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 01/02/2023 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Ðình trong thiết chế văn hóa làng cổ truyền người Việt ở Quảng Trị

Đình làng là một thiết chế văn hóa tín ngưỡng ra đời từ thời Lê Sơ, đánh dấu một bước phát triển của cơ cấu làng xã cổ truyền. Đình làng là một biểu tượng của tính cộng đồng. Đình phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng cũng như cấu trúc phân tầng trong cộng đồng làng xã.

Mặc dù cho đến nay, tuy không còn mang đầy đủ các chức năng vốn có, nhưng đình vẫn là một trung tâm sinh hoạt văn hóa của cộng đồng làng xã mà thể hiện cô đọng nhất là lễ hội... Hiện nay, nhiều đình làng đang được trùng tu hoặc tôn tạo; các phong tục tập quán của làng nhiều nơi đang được khôi phục, đặc biệt là lễ hội.

Từ “đình” xuất hiện sớm nhất trong lịch sử Việt Nam là vào thế kỷ II. Trong “Lục độ tập kinh” của Khang Tăng Hội có đoạn: “Đêm đến ông lặng lẽ trốn đi. Đi hơn trăm dặm vào nghỉ ở một ngôi đình trống. Người giữ đình hỏi: “Ông là người nào?”. Ông trả lời: “Tôi là người xin ngủ nhờ”... Chi tiết “ngôi đình trống” trong đoạn văn trên cho ta cơ sở khẳng định đó là trạm nghỉ chân dọc đường, còn chi tiết “người giữ đình” cho ta giả thiết đó là ngôi đình là nhà công cộng của làng xã. Tuy nhiên, giả thiết này còn thiếu chắc chắn!

Đình làng Trung Chỉ, Đông Lương, Đông Hà - Ảnh: Lê Thi

Đình làng Trung Chỉ, Đông Lương, Đông Hà - Ảnh: Lê Thi

Như vậy, đình trạm là hiện tượng phổ biến ít nhiều từ thế kỷ thứ II. Thời nhà Đinh, ở cố đô Hoa Lư đã có dựng đình cho sứ thần nghỉ chân trước khi vào diện kiến vua. Đến đời Trần, đình với tư cách là trạm nghỉ chân được ghi trong Đại Việt Sử kí toàn thư: “Thượng hoàng (Trần Thái Tông) xuống chiếu rằng, trong nước hễ chỗ nào có đình trạm đều phải đắp tượng phật để thờ. Trước đây, tục nước ta vì nống bức, nên làm nhiều đình cho người đi đường nghỉ chân, thường quét vôi trắng, gọi là đình trạm”. 

Dưới thời nhà Lê, đình làng đã phát triển. Một sự kiện quan trọng dưới thời Lê Thánh Tông đã được Hồng Đức thiện chính thư ghi chép về việc lập đình như sau: “…Người giàu đã bỏ tiền của làm đình hay công đức làm chùa. Thế mà (người sau giữ việc hậu) không biết đền đáp ơn đức, chỉ lừa người lấy của, chẳng bao lâu, tình nhạt lễ bạc, quên cả lời đoan, sinh thói bạc ác hoặc bỏ cả giỗ chạp, không như đời trước, hoặc là làm cỗ bàn không như khoán ước, hoặc năm thì trước năm thì sau, không đúng tháng hoặc trẻ thì lạy lớn thì không, chẳng đồng lòng. Vậy con cháu nhà đặt hậu ở đình hay ở chùa mà thấy kẻ giữ việc hậu có trái lễ thì trình báo với nha môn để thu lại tiền công đức…”.

Về nguồn gốc đình làng cũng có nhiều ý kiến khác nhau và cũng chưa có giải đáp chắc chắn. Có ý kiến cho rằng, đình vốn là hành cung của vua, được xây dựng dành cho vua khi đi tuần thú, sau mới thành đình làng. Có ý kiến khác cho rằng, vào thời Lý ở Thăng Long, người ta xây dựng những phương đình (có quy mô nhỏ) để dán các thông báo của chính quyền, hoặc là nơi người ta tuyên đọc các văn kiện của nhà vua. Sau đó, kiến trúc loại này tỏa về làng với chức năng như trụ sở hành chính của làng. Một vài ý kiến khác cho rằng đình làng có thể bắt nguồn từ các kiến trúc thờ thần đất và thần nước. Các cư dân Việt cổ trong tín ngưỡng bản địa, sùng bái thần đất và thần nước - những vị thần đã che chở nuôi sống họ.

Do vậy, đình làng với tín ngưỡng của nó có thể có nguồn gốc từ việc thờ thần đất, nước, hai vị thần quan trọng nhất của cư dân nông nghiệp Việt Nam. Trong tiến trình lịch sử tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng phồn thực, thờ mẫu, thờ sức mạnh tự nhiên, và có phần ảnh hưởng không lớn lắm của đạo Phật, đạo Nho đã được bổ sung tạo ra những biến thể phong phú của Thành hoàng làng Việt Nam.

Trong thiết chế văn hóa làng cổ truyền người Việt nói chung và ở Quảng Trị nói riêng, chúng ta có thể nhận thấy nổi bật lên những loại hình kiến trúc phổ biến về tín ngưỡng, tôn giáo như Ðình, Chùa, Ðền, Miếu thờ... Trong đó, đối tượng quan trọng nhất là Ðình làng. Với chức năng là nơi thờ thần và là nơi hội họp bàn việc của cộng đồng làng, đình làng thường do dân làng tự nguyện đóng góp để xây dựng và tu sửa qua từng thời điểm.

Ðình làng là một dạng kiến trúc khá đặc biệt, chúng được xem như là sản phẩm riêng của người Việt. Khởi thủy đình là sản phẩm của chính quyền, mang tư cách như một trụ sở trong mối quan hệ với quần chúng, hay nói cách khác là quan hệ làng - nước. Ðến cuối thế kỷ XVI khi yếu tố đình được dân gian đón nhận thì đình làng đã trở thành một thực thể văn hóa của làng xã. Thời điểm này ngoài chức năng là trụ sở của chính quyền để ban bố chính lệnh của triều đình, đình còn là nơi thờ cúng Thành hoàng làng và là nơi giải quyết các công việc trong nội bộ cộng đồng làng.

Mỗi làng người Việt ở Quảng Trị đều tồn tại một ngôi đình làng dù lớn nhỏ tùy theo điều kiện kinh tế của cộng đồng làng. Ðình làng tọa lạc ở một vị trí lý tưởng nhất, phía trước thường có đồng ruộng, hồ nước hoặc con sông chảy ngang, và đình thường gắn với chợ, như đình và chợ làng Câu Nhi, đình và chợ Phiên Cam Lộ, đình Hà Trung gắn với Chợ Cầu (nay chợ cầu đã chuyển lên vị trí mới), Chợ đình Bích La,…   Ðình có thể được xem là bộ mặt của cộng đồng làng, là chốn thiêng liêng đoàn tụ của những lớp người đã xây dựng và gìn giữ làng xã.

Đa phần các đình làng hiện hữu ở Quảng Trị đều được tạo dựng theo lối kiến trúc dân gian truyền thống đó là mô thức nhà rường 5 gian 2 chái hay 3 gian 2 chái, họa tiết trang trí bởi nét đặc trưng theo hình thức chạm khắc trên gỗ hay đắp nổi và ghép mảnh sành sứ ở các mái đình, cổng trụ, bình phong. Đây là nét kiến trúc đặc trưng của các đình làng ở miền Trung cũng như ở Quảng Trị. Những đề tài trang trí này đều xoay quanh mục đích thể hiện quan niệm, triết lý nhân sinh quan, vũ trụ quan theo quan điểm đạo Nho; đồng thời gửi gắm những điều ước muốn cầu cho vật thịnh, dân an, ấm no, hạnh phúc của người dân làng xã. Ðặc biệt, ở đình làng Nghĩa An (phường Đông Thanh, thành phố Đông Hà) người ta còn gắn bức hoành phi 4 chữ Hán: Mi mục cải quan (Chớp mắt đã nhìn thấy sự thay đổi) với một hàm ý đầy tính triết học; hay đình làng Trung Chỉ (phường Đông Lương, thành phố Đông Hà), đình làng Câu Nhi (xã Hải Tân, huyện Hải Lăng) với lối trang trí các cột kèo bên trong là những họa tiết trang trí khắc chạm trên gỗ hết sức tinh xảo. Điều đó cho thấy đình làng là nơi kết tụ những tinh hoa của thời đại và lòng tôn kính mà người thợ muốn gửi gắm khi xây dựng.

Kiến trúc đình làng ở Quảng Trị từ xưa đến nay được sắp xếp theo 3 dạng: Một là những ngôi đình có bố trí mặt bằng chỉ gồm một toà đại đình nằm theo chiều dọc (đình làng Bích La - xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong; đình Hà Thượng - thị trấn Gio Linh, huyện Gio Linh; đình làng Diên Sanh - xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng), mặt tiền mở ra từ gian chái dạng này xuất hiện chủ yếu ở thời điểm những thế kỷ 17 - 18, tuy nhiên hiện nay không còn nguyên bản vì đa số đã thay đổi và chuyển sang bố trí theo chiều ngang ví như: đình làng Nghĩa An (phường Đông Thanh, thành phố Đông Hà). Hai là đại đình chỉ gồm một nếp nhà nằm ngang như: đình làng Trung Chỉ (phường Đông Lễ, thành phố Đông Hà), đình làng Hà Trung (xã Gio Châu, huyện Gio Linh)... Ba là gồm hai nếp nhà song ngang bố trí theo lối chữ nhị như: đình Lập Thạch (phường Đông Lễ, thành phố Đông Hà), đình Câu Nhi (xã Hải Tân, huyện Hải Lăng), ngôi nhà trước là tiền đường làm nơi tổ chức các cuộc hội họp, ăn uống; ngôi nhà sau là hậu liêu làm nơi thờ cúng; ngăn cách giữa hai nếp nhà là hệ thống cửa bản khoa. Ngoài ra, trong khuôn viên của nhiều ngôi đình còn có một số ngôi miếu thờ như: Bổn thổ, thuỷ tổ các họ tộc, các vị nhân thần hoặc nhiên thần.... Ngoài 3 dạng kiến trúc đình làng nêu trên, từ xưa đến nay trên mảnh đất Quảng Trị đã và đang hiện hữu những ngôi đình làng không có nhà (đình trần), loại đình này ngoài hệ thống tường bao bọc, trụ biểu và bình phong thì chỉ gồm các án thờ được xây bằng gạch và vôi vữa, các án thờ được bố trí theo chiều ngang.

Mỗi ngôi đình thường được giới hạn trong một khuôn viên cụ thể bởi hệ thống la thành bao quanh, thành thường không cao và dày mỏng khác nhau. Lối vào đình thường được xây theo kiểu thức 4 hoặc 2 trụ biểu hình vuông tạo ra 3 hoặc 1 lối vào đình, trên trụ biểu thường có đề câu đối thể hiện nội dung ca ngợi về vùng đất và con người của cộng đồng làng đó, đầu trụ biểu được trang trí búp sen hoặc đèn lồng cổ lâu; bên cạnh đó, lối vào đình còn có thể được dựng theo kiểu thức nghi môn, kiến trúc theo kiểu vòm cuốn, bên trên có gác vọng lâu từ 1 đến 2 tầng được trang trí rất đẹp như: nghi môn đình Lập Thạch, đình Trung Chỉ, đình Nghĩa An, đình Hà Thượng…

Qua nghi môn, phía trong sân, được bố trí một bức bình phong. Bức bình phong dùng để chắn tà khí, chắn những cặp mắt xoi mói xấu xa, trần tục nhìn vào đình. Thường các bức bình phong được xây bằng gạch và trang trí bằng cách đắp nổi vôi vữa và ghép mảnh sành sứ với hình long mã chở lạc thư, long mã phụ hà đồ, mặt hổ phù... Xung quanh là các tiểu cảnh hoa lá, chim muông dùng để trang trí. Ðây là những hình ảnh thể hiện lòng ước mong của dân làng về mọi điều tốt đẹp sẽ đến trong cuộc sống.

Kiến trúc đình làng dù có khác nhau về quy mô, diện tích sử dụng nhưng đều thống nhất tương đối ở việc bố trí mặt bằng nội thất. Ðó là việc phân định không gian nội thất thành 2 phần là: tiền đường và hậu điện. Tiền đường thường được dùng làm nơi sinh hoạt, hội họp, ăn uống. Hậu điện là nơi thờ tự, là chốn trang nghiêm.

Ðình làng ở Quảng Trị dù chỉ là một toà đại đình hay hai nếp nhà song ngang thì phần tiền đường thường để thông thoáng với bên ngoài. Kiến trúc đình làng được xây dựng theo một mô thức kiến trúc độc đáo mà người ta quen gọi là kiểu nhà rường với kết cấu của một bộ khung gỗ chịu lực có từ 3 đến 5 gian và 2 chái, được liên kết bởi các thành phần cấu kiện gỗ lại với nhau. Nó không giống như cấu trúc khung gỗ chịu lực ở kiến trúc miền Bắc và càng khác biệt so với kiến trúc ở miền Nam.

Kiến trúc đình làng ở Quảng Trị thường có 2 dạng vài kèo: vài chồng và vài luôn. Các bộ phận ở gian chái thường được kết cấu theo kiểu chái kép. Có thể coi đình làng Trung Chỉ là một kiến trúc có bộ khung gỗ được trang trí đẹp nhất của vùng Ðông Hà nói riêng và của cả Quảng Trị nói chung; xứng đáng trở thành một di sản quý về nghệ thuật điêu khắc đình làng miền Trung.

Quảng Trị là mảnh đất có khí hậu khắc nghiệt nên khi xây dựng đình làng để chống chọi với gió bão, thì các bờ nóc, bờ dải đều được đắp to, đè mái chắc chắn nhưng được cách điệu trang trí rực rỡ nhờ việc gắn lên trên đó các hình ảnh thuộc bộ “tứ linh”, giao lá… bằng nghệ thuật đắp vữa, ghép mảnh sành sứ, làm cho bộ mái nhẹ nhàng hẳn đi và có cảm giác như vút lên. Với những ưu điểm như thế, bộ mái của ngôi đình vừa có vẻ cứng cáp và mảnh mai nhưng không yếu ớt, vừa thích hợp với môi trường khí hậu của miền Trung đồng thời phù hợp với thẩm mỹ và cảnh quan của kiến trúc tại Quảng Trị.

Đình làng ở Quảng Trị có nhiều nét khác biệt về kiến trúc, văn hóa làng so với những vùng miền khác của miền Bắc hay miền Nam. Điều này đã tạo nên nét đặc trưng riêng cho đình làng ở Quảng Trị.

Chính những nét đẹp văn hóa hiện hữu cùng thời gian vượt qua sự nghiệt ngã của quy luật sinh diệt, con người Quảng Trị bao đời nay nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác ý thức bảo vệ, phát huy những giá trị văn hóa lịch sử cho lớp người đi sau mãi ghi nhớ nguồn cội, kế thừa giá trị chân, thiện, mỹ trong đời sống cộng đồng. Muốn phát huy điều đó cần sự chung tay của mỗi cá nhân cùng các cơ quan chức năng nhằm bảo tồn giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể trường tồn cùng năm tháng. Để dù có đi đâu làm gì thì những giá trị ấy mãi trở thành hồn làng đưa mỗi người tìm về chốn bình yên sau bao đổi thay của thời cuộc.

Đình làng là một thiết chế văn hóa - tín ngưỡng tổng hợp, có ba chức năng chính: Tín ngưỡng, hành chính, văn hóa. Rất khó để xác định chức năng nào có trước, chức năng nào được bổ sung. Hơn nữa, ba chức năng đan xen, hòa quện với nhau đến mức khó có thể phân biệt.

Chức năng tín ngưỡng: Trong các đình làng Việt Nam, vị thần được thờ cúng là Thành hoàng làng, vị vua tinh thần, thần hộ mệnh của làng. Khi tín ngưỡng Thành hoàng du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc cũng nảy sinh ra một số Thành hoàng mà chức năng cũng giống như ở Trung Quốc… Các vua triều Nguyễn còn lập miếu thờ Thành hoàng làng ở tỉnh và huyện. Nhưng khi tín ngưỡng Thành hoàng về làng, xã thì nó đã biến đổi khác với tín ngưỡng Thành hoàng ở Trung Quốc. Như vậy, tín nguỡng Thành hoàng Trung Quốc khi du nhập vào làng xã Việt Nam thì các yếu tố văn hóa Hán, hoặc hiện tượng Hán hóa khác bị cổng làng chặn lại thì nó lại tìm thấy các tín ngưỡng bản địa có tính tương đồng, nên hội nhập rất thuận lợi với hệ thống tín ngưỡng đa nguyên của Việt Nam.

Nguồn gốc của Thành hoàng cũng rất đa dạng. Trước hết là các thần tự nhiên (thiên thần hay nhiên thần) được thờ ở rất nhiều đình làng. Các vị thần này đều có tiểu sử mang tính huyền thoại và truyền thuyết (thần đá, thần sông, thần núi…). Để có được một điểm tựa tinh thần, một số cộng đồng làng đã tôn những vị thần này làm Thành hoàng làng; Thành hoàng làng thứ hai là các nhân thần. Các nhân vật lịch sử, đã có công chiêu dân lập làng, mở rộng cương vực của làng; Thành hoàng làng thứ ba gắn liền với tín ngưỡng bản địa, như tục thờ cây, thờ đá thời nguyên thủy...

Ngoài các vị thần, ở đình làng còn thờ những người đã có công khai phá đất mới, lập làng, như: “tiên hiền” là những người đến trước, “hậu hiền” là những người đến sau tiếp tục công cuộc “khai canh, khai khẩn”…

Những người có công đóng góp cho làng sau khi chết được dân làng thờ làm “hậu thần”, hàng năm cúng giỗ ở đình. Có người khi còn sống đóng góp cho làng trên cơ sở có khoán ước với làng, được ghi thành văn bản, đôi khi được khắc vào bia đá. Họ được “bầu hậu” khi chết đi được thờ làm “hậu thần” và được làng hương khói hàng năm. Ngoài ra, ở một số làng nghề thủ công người ta còn thờ tổ nghề gọi là “tiên sư”.

Tóm lại, các thần làng Việt Nam biểu hiện một hệ thống tín ngưỡng đa nguyên. Đó là một hệ thống pha lẫn nhiều yếu tố tín ngưỡng sơ khai của cư dân nông nghiệp (tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ mẹ, các thần sức mạnh tự nhiên…) với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, những người anh hùng và có phần ảnh hưởng không nhiều của của đạo Phật và đạo Nho.

Chức năng hành chính: Đình làng thực sự là trụ sở hành chính - nơi mọi công việc về hành chính của làng đều được tiến hành ở đó. Từ việc xét xử các vụ tranh chấp, phạt vạ, khao vọng, từ thu tô thuế đến việc bắt lính, bỏ các xuất phu đinh.

Chủ thể tiến hành các hoạt động hành chính ở đình làng là các vị có chức danh Chánh tổng, Lý trưởng, Phó lý, Trưởng tuần và các viên quan của Hội đồng hương kì, kì mục. Cơ sở để giải quyết các công việc của làng được dựa vào lệ làng hoặc hương ước. Hương ước là một hình thức luật tục. Gắn với hoàn cảnh, phong tục, tập quán lâu đời của từng làng mà nhân dân có các bộ luật nhà nước không thể bao quát được.

Các làng đều có hương ước riêng với nội dung rất cụ thể khác nhau. Tuy nhiên, hương ước làng bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

Những qui ước về ruộng đất: việc phân cấp công điền, công thổ theo định kì và qui ước về việc đóng góp (tiền và thóc).

Quy ước về khuyến nông, bảo vệ sản xuất, cấm bỏ ruộng hoang, chặt cây bừa bãi.

Những quy ước về tổ chức xã hội và trách nhiệm của các chức dịch trong làng. Việc xác định chức dịch trong làng nhằm hạn chế họ lợi dụng quyền hành và thế lực để mưu lợi riêng.

Những quy định về văn hóa tư tưởng, tín ngưỡng. Đó là những quy ước nhằm đảm bảo các quan hệ trong làng xóm, dòng họ, gia đình, láng giềng, được duy trì tốt đẹp. Quy định về việc sử dụng hoa lợi của ruộng công vào việc sửa chữa, xây dựng đình, chùa, điện, quy định về thể lệ tổ chức lễ hội, khao vọng, lễ ra làng, lễ nộp cheo…

Hương ước còn có những quy định về hình phạt đối với ai vi phạm. Vi phạm mức độ nào thì nộp phạt hoặc phải làm cỗ ở đình làng để tạ tội với Thành hoàng làng. Hình phạt cao nhất là bị đuổi ra khỏi làng.

Có thể nói, hương ước là một bộ luật của làng xã. Về cơ bản, hương ước chứa đựng nhiều giá trị văn hóa dân gian tốt đẹp, được hình thành lâu đời và nếu được chắt lọc có thể phát huy những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống làng xã hiện nay.

Với đặc điểm của tính tự trị và tính cộng đồng của làng xã, hoạt động hành chính và quản lí của làng xã được tiến hành có hiệu quả. Đình làng với tư cách là trụ sở hành chính đã trở thành biểu tượng của tính tự trị và sự cố kết cộng đồng trong suốt chiều dài lịch sử của mình.

Chức năng văn hóa: Đình làng là trung tâm sinh hoạt văn hóa của cả làng. “Cây đa, bến nước, sân đình” đã đi vào tâm hồn của người dân quê. Đỉnh cao của các hoạt động văn hóa ở đình làng là lễ hội, đó là hoạt động có quy mô và gây ấn tượng nhất trong năm đối với dân làng. Ở các làng quê Việt Nam còn có hội chùa, hội đền nhưng phần lớn là hội làng được diễn ra ở đình làng gắn với đời sống của dân làng. Lễ hội bao gồm hai phần chính là: Phần lễ và phần hội:

Lễ là các hoạt động có tính nghi lễ liên quan đến tín ngưỡng của cộng đồng làng.

Hội là hoạt động mang tính giải trí, gắn liền với thế tục, nghệ thuật, thể dục, thể thao. Nhưng trong một số trò chơi hội làng cũng có ý nghĩa tâm linh, gắn với mục đích cầu mưa, cầu mùa. Lễ hội ở làng diễn ra “xuân thu, nhị kì” vào các dịp nông nhàn. Lễ hội phần lớn vào tháng giêng, có nơi vào thành hai, tháng ba âm lịch. Lễ hội thu thường vào tháng bảy, tháng tám. Đó là hai lễ hội lớn, còn trong năm người ta cúng lễ Thành hoàng làng.

Sau phần tế lễ là các hoạt động vui chơi, giải trí. Mỗi địa phương có trò chơi khác nhau, thỏa mãn con người với nhiều nhu cầu như: Nhu cầu tâm linh (các trò chơi gắn với cầu mưa, cầu mùa, cầu ngư...), nhu cầu cộng cảm, nhu cầu thể hiện sức mạnh, sự tài trí. Các trò chơi gắn liền với nghi lễ cầu mưa, cầu mùa, như: Cướp cầu/cù, kéo co, đua thuyền, cờ chòi…; ngoài ra, sân đình trở thành sân khấu cho các hoạt động diễn xướng, ca hát (hò đối đáp, hát bội, chèo cạn…).

Lễ hội diễn ra tại đình làng là cầu nối tâm linh giữa con người, giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa ở làng xã, bảo tồn những vốn quý của di sản văn hóa tinh thần của dân tộc. Khôi phục các lễ hội ở đình làng cũng là góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng được đời sống văn hóa cơ sở, tạo được sân chơi cho đông đảo dân làng mỗi kỳ lễ hội, đồng thời tạo được một điểm tham quan, vui chơi giải trí cho khách du lịch, nhất là du khách nước ngoài.

N.T.H

          

Tài liệu tham khảo.

1. Hà Văn Tấn và Nguyễn Văn Kự. Đình Việt Nam. Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1998.

2. Viện Khoa học xã hội Việt Nam. Đại Việt sử ký toàn thư (tập II, dịch và chú giải Hoàng Văn Lâu). Nxb Khoa học xã hội, 1993.

3. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch - Bảo tàng Quảng Trị. Di tích Lịch sử văn hóa và Danh lam thắng cảnh tỉnh Quảng Trị. Tái bản năm 2004.

NGÔ THANH HOÀNG
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 339

Mới nhất

Tạo diện mạo mới từ nông thôn mới

20/01/2023 lúc 21:28

LTS: Sau hơn 1 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TU về thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị còn gặp phải những vướng mắc, khó khăn gì? Những giải pháp nào được xem là trọng tâm và mang tính đột phá để việc thực hiện Chương trình có hiệu quả?...

Vần tháng giêng

20/01/2023 lúc 16:23

Thơ

Xuân miên man

20/01/2023 lúc 16:20

thơ

Không tưởng tượng ra

20/01/2023 lúc 16:17

thơ

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

02/02

25° - 27°

Mưa

03/02

24° - 26°

Mưa

04/02

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground
Gốm sứ Tâm An