Tạo ra cái mới cho du lịch Quảng Trị, đó là nỗi trở trăn lâu nay, đó là một trong những quyết tâm lớn và mới của tỉnh. Trong các chương trình, đề án, lĩnh vực mang tính đột phá mà Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã xác định, có đề án trọng điểm “xây dựng một số sản phẩm du lịch mới dựa trên lợi thế của tỉnh (du lịch tâm linh, du lịch hoài niệm, du lịch sinh thái biển… )”. Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015 - 2020, tại Kết luận số 01-KL/TU ngày 27/11/2015 của Tỉnh ủy Quảng Trị kết luận Hội nghị lần thứ 2, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVI về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2016, ở phần đề cập về “Triển khai các chương trình, đề án, dự án trọng điểm” đã nêu: “Lập hồ sơ đề xuất công nhận di sản thế giới đối với di tích địa đạo Vịnh Mốc; xây dựng 1 - 2 sản phẩm mới cho du lịch Quảng Trị”.
Quyết tâm cao đã có rồi. Vấn đề là ở chỗ tạo ra cái mới từ đâu và bằng cách nào? Cái mới đến từ nhiều nguồn và bằng nhiều cách, trong đó có một nguồn phong phú, hấp dẫn là văn hóa và bằng cách khai thác chiều sâu văn hóa của các di tích lịch sử, văn hóa đặc biệt, tiêu biểu ở Quảng Trị. Với những di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng trên đất Quảng Trị, tưởng như mọi người đều thuộc nằm lòng về giá trị của nó. Nhưng thật ra, một di tích cũng như một tác phẩm văn học nghệ thuật, mỗi lần đọc, mỗi người đọc và kể cả mỗi thế hệ đọc đều khám phá những chiều sâu mới, khía cạnh mới. Giúp du khách “đọc” được nhiều điều mới mẻ, bất ngờ, thú vị ở di tích hay không, điều này tùy thuộc vào khả năng khai thác chiều sâu văn hóa tiềm ẩn ở di tích của tỉnh nói chung, của ngành du lịch Quảng Trị nói riêng. Trong phạm vi bài viết này, xin đề cập đến việc khai thác chiều sâu văn hóa của hai di tích lịch sử quốc gia đặc biệt: Địa đạo Vịnh Mốc, Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải và một di tích lịch sử nổi tiếng nhưng chỉ mới được xếp hạng cấp tỉnh (đang đề nghị xếp hạng cấp quốc gia), đó là di tích Địa điểm lỵ sở dinh chúa Nguyễn (1558 - 1626).
1. Đối với địa đạo Vịnh Mốc, trang du lịch Thrillist (Mỹ) đã nêu một thông tin “đắt giá”, đó là liệt kê địa đạo Vịnh Mốc vào danh sách những điểm đến hấp dẫn ở châu Á nhưng chưa được khám phá. Ở trong nước, chuyên trang “Di sản thế giới” (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho biết địa đạo Vịnh Mốc có khả năng được đưa vào danh mục dự kiến xây dựng hồ sơ di sản thế giới.
Hồ sơ đề nghị công nhận di sản văn hóa thế giới cho địa đạo Vịnh Mốc sẽ được tỉnh lập và trình theo đúng quy định. Điều quan trọng là hồ sơ này phải thể hiện được tính độc đáo, khác biệt, hấp dẫn, thể hiện được những giá trị toàn cầu do chiều sâu văn hóa của di tích địa đạo Vịnh Mốc mang lại. Theo định nghĩa về di sản văn hóa được nêu tại Điều 1 của Công ước Di sản Thế giới 1972, trong những đối tượng được coi là “di sản văn hóa”, có “các di tích: các nơi cư trú hang động và tổ hợp các đặc điểm, có Giá trị Nổi bật Toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hay khoa học”. Theo “Tài liệu hướng dẫn thực hiện Công ước Di sản Thế giới” của Trung tâm Di sản Thế giới của UNESCO: “Giá trị Nổi bật Toàn cầu là ý nghĩa văn hóa đặc biệt đến mức vượt qua các biên giới quốc gia và có thể có tầm quan trọng chung cho các thế hệ hiện tại và tương lai của toàn nhân loại”. Đối chiếu với định nghĩa và hướng dẫn nêu trên, địa đạo Vịnh Mốc là một di tích có các giá trị phù hợp như: Là địa chỉ du lịch hấp dẫn từ lâu với du khách quốc tế, có tầm quan trọng trong việc gìn giữ, vun đắp những giá trị phổ quát, toàn nhân loại như: quyền sống, duy trì sự sống, quyền tự do, hòa bình…
Ủy ban Di sản Thế giới coi một di sản là có Giá trị Nổi bật Toàn cầu nếu di sản đó đáp ứng ít nhất là một trong những tiêu chí xác định. Đối chiếu với không chỉ một mà nhiều tiêu chí xác định Giá trị Nổi bật Toàn cầu như: Là một tuyệt tác của thiên tài sáng tạo; Chứa đựng một minh chứng duy nhất hoặc ít nhất cũng hết sức khác biệt về một truyền thống văn hóa…, Là một ví dụ nổi bật về một hình thức cư trú truyền thống của con người, việc sử dụng đất đai hay biển cả, đại diện cho một (hay nhiều) nền văn hóa, hoặc sự tương tác giữa con người và môi trường đặc biệt là khi nó đã trở nên dễ tổn thương do ảnh hưởng của những đổi thay không thể đảo ngược. Địa đạo Vịnh Mốc đáp ứng được các tiêu chí này, bởi lẽ, địa đạo Vịnh Mốc được coi như một tòa lâu đài cổ độc đáo trong lòng đất, có kết cấu nhiều tầng, có bệnh xá, nhà hộ sinh, nhà bếp, hội trường, giếng nước, lỗ thông hơi… là một minh chứng độc đáo về truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam; là ví dụ nổi bật về cư trú trong hang động - một hình thức cư trú truyền thống của con người, về sử dụng lòng đất đỏ bazan để làm nơi sinh sống, bảo toàn và duy trì sự sống (đặc biệt, có 17 đứa trẻ đã được sinh ra trong lòng địa đạo) và chi viện, tiếp tế cho đảo Cồn Cỏ. Nói theo cách của họa sĩ Võ Xuân Huy, vào địa đạo Vịnh Mốc là “Xuống đất gặp trời” (tên cuộc triển lãm nghệ thuật thị giác của họa sĩ Võ Xuân Huy tại địa đạo Vịnh Mốc ngày 26 - 5 - 2015), bầu trời trong lòng đất, bầu trời lấy trái tim người làm mặt trời soi. Như thế, khác nào “Ngoài trời lại có trời soi nữa” (Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu), như câu thơ trong bài thơ của Lý Giác, sứ giả nhà Tống đi sứ sang Đại Việt đã viết tặng nhà thơ Đỗ Thuận (người được vua Lê Hoàn sai đóng vai người lái đò đi đón Lý Giác) vì khâm phục tài ứng tác văn thơ của nhà sư này.
2. Lễ hội “Thống nhất non sông” (tổ chức quy mô cấp tỉnh 1 năm/lần, cấp quốc gia 5 năm/lần) là phương thức khai thác chiều sâu văn hóa di tích Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải có hiệu quả vừa nhằm tôn vinh các giá trị truyền thống lịch sử, vừa nhằm tạo sức thu hút cho tuyến, điểm du lịch. Những năm qua, lễ hội này đã được tổ chức trang nghiêm, rộn rã và xúc động. Kịch bản lễ hội qua các năm có những chi tiết sáng tạo, sinh động và mới mẻ như: Dâng “đất thiêng” hai đầu Tổ quốc là Lạng Sơn và Cà Mau lên Kỳ đài Hiền Lương; hòa các bầu nước lấy từ đầu nguồn Pắc Bó, Cao Bằng và từ cuối dòng Hậu Giang với nước dòng Bến Hải; tiếp nhận đá chủ quyền và trồng cây bàng trái vuông Trường Sa tại khuôn viên di tích Hiền Lương… Tuy nhiên, để lễ hội này, nhất là chương trình nghệ thuật trong phần hội tránh sa vào lặp lại, cần gia tăng các yếu tố nội dung mới hơn nữa, sâu hơn nữa. Chúng ta không quên câu ca nghẹn ngào của một thời đau thương chia cắt: Cách một dòng sông mà đó thương đây nhớ/ Chung một nhịp cầu mà duyên nợ cách xa... Vậy tại sao mãi đến nay, trên chiếc cầu Hiền Lương lịch sử vẫn chưa tái hiện sinh động, náo nức cảnh “Đưa dâu qua cầu Bến Hải” như trong bài thơ nổi tiếng của Cảnh Trà? Nếu thể hiện được những nội dung độc đáo như vậy sẽ làm nổi rõ tính chất, ý nghĩa nhân văn của cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, chiều sâu nhân văn hàm chứa trong di tích lịch sử. Chúng ta vẫn thường nói đến việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là một trong những nguyên nhân quan trọng để làm nên chiến thắng, đất nước thống nhất, hòa bình. Nhưng nội dung các kỳ Lễ hội “Thống nhất non sông” đã được tổ chức thường chỉ nhấn mạnh về sức mạnh dân tộc, còn sức mạnh thời đại và việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại chưa được đề cập đúng mức, đúng tầm vóc vốn có. Cùng với việc thể hiện tinh thần, ý chí kiên cường, bất khuất trong đấu tranh thống nhất nước nhà của dân tộc, cần thể hiện tinh thần giúp đỡ, ủng hộ Việt Nam giải phóng dân tộc của nhân loại yêu chuộng hòa bình trên thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ. Những vần thơ xưng tụng Việt Nam của các nhà thơ thế giới như Menelaos Lountemis (1912 - 1977), nhà thơ Hy Lạp, người từng đến Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cần được ngân lên hoặc dựa vào đó để dựng thành các tiết mục nghệ thuật đặc sắc trong chương trình “Bài ca Thống nhất” của Lễ hội “Thống nhất non sông”: Việt Nam... đất nước biếc xanh/ Và dài như một chiếc đàn bầu/ Mà sợi tơ đàn bỗng bị đứt ngang/ Nơi cái lẩy đàn: sông Bến Hải/ Bờ sông đó hãy còn lệ chảy/ Và tiếng ca đang hát nửa chừng/ … Ôi đất nước những căn nhà nhỏ/ Những người tầm vóc không cao/ Nhưng chiến công hiển hách lớn lao/ …Việt Nam... Tôi đi càng đơn độc/ Vì khi bánh con tàu/ Chuyển lăn về phía trước/ Trái tim tôi đi ngược sau/ Sẽ có ngày tôi đi tìm trái tim tôi trở lại/ Việt
3. Di tích “Địa điểm lỵ sở dinh chúa Nguyễn (1558 - 1626)” ở Triệu Phong vừa được UBND tỉnh đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng cấp quốc gia. Di tích này đã được nước ngoài, trong đó có giới nghiên cứu biết đến, do tầm vóc lịch sử của chúa Nguyễn Hoàng. Di tích này được tôn tạo xứng đáng sẽ tạo ra cái mới cho du lịch Quảng Trị. Phát biểu tổng kết Hội thảo khoa học “Quảng Trị - Đất dựng nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng (1558 - 1613)” do UBND tỉnh phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức ngày 25 - 9 - 2013 tại Triệu Phong, GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã nhấn mạnh ý tưởng xây dựng tượng đài Nguyễn Hoàng: “Đây phải là một tượng đài mang tầm quốc gia, tức là tiêu biểu cho sự tôn vinh của nhân dân cả nước đối với Nguyễn Hoàng. Cùng với tượng đài nên có một nhà thờ phù hợp với tín ngưỡng truyền thống và yêu cầu của đời sống tâm linh của nhân dân”. Nhà thờ mà GS Phan Huy Lê nói đến, tôi muốn hình dung rộng ra hơn, đó phải là khu lưu niệm Nguyễn Hoàng. Trong khu lưu niệm này, có tượng đài bề thế về Nguyễn Hoàng, có nhà thờ Nguyễn Hoàng, có nơi trưng bày các tư liệu về sự nghiệp của Nguyễn Hoàng và Nguyễn Phúc Nguyên được tạo dựng thành công từ Quảng Trị. Nguyễn Hoàng đã mở mang buôn bán với Nhật Bản, quan hệ gắn bó đến mức Nguyễn Hoàng đã nhận một thương gia Nhật Bản là Hunamoto Yabeije (Di Thất Lang) làm con nuôi. Năm 1620, Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái là Nguyễn Phúc Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp là Chey Chetta II. Nhờ ảnh hưởng mạnh mẽ của cuộc hôn nhân này, năm 1623, Chân Lạp đã đồng ý cho chúa Nguyễn được đặt một sở thu thuế hàng hóa ở Prey Kôr, tức thành phố Hồ Chí Minh ngày nay. Cũng như Nguyễn Hoàng sớm hướng tầm nhìn ra biển, Nguyễn Phúc Nguyên đã lập đội Hoàng Sa để thực hiện chủ quyền biển đảo… Vì vậy, trong khu lưu niệm Nguyễn Hoàng ở Ái Tử, Triệu Phong, cần trưng bày các tư liệu, hình ảnh về mở mang ngoại thương với Nhật Bản; về sự phồn thịnh của thương cảng Hội An, về Hải Vân “yết hầu của miền Thuận Quảng” (lời của chúa Nguyễn Hoàng), về việc Nguyễn Hoàng lập phủ Phú Yên, về sự hình thành, phát triển của thành phố Hồ Chí Minh, về đội Hoàng Sa, về thực thi chủ quyền biển đảo… Cùng với khu lưu niệm Nguyễn Hoàng, cần xây dựng nhà thờ các cận thần có công giúp sức cho Nguyễn Hoàng như Nguyễn Ư Dĩ (cậu ruột và là quân sư của Nguyễn Hoàng), Mạc Cảnh Huống, Tống Phước Trị…
Các di tích nổi tiếng trên đất Quảng Trị có chiều sâu văn hóa độc đáo, nhiều tầng nghĩa lấp lánh. Phát hiện, khai thác các tầng nghĩa này, nhất là phát hiện, khai thác các giá trị nhân văn, các giá trị phổ quát toàn cầu, toàn nhân loại được lưu giữ trong di tích sẽ tạo nên sức mạnh lan tỏa, quảng bá cả trong nước và nước ngoài cho di tích, và như thế ắt tạo nên cái mới mà mọi người đón đợi.
N.H




