Trằm Trà Lộc thuộc địa phận làng Trà Lộc, xã Hải Xuân, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Đến với Trằm, du khách không chỉ được hòa mình với khung cảnh thiên nhiên cỏ cây hoa lá, hít thở không khí trong lành, mát mẻ giữa mùa hè oi bức, được thưởng thức những món ngon của quê hương Hải Lăng như cháo cá, gà hấp… mà còn được tham dự hội phá Trằm với dân làng thường tổ chức vào tháng 8 âm lịch hàng năm.
1. Đôi nét về làng Trà Lộc
Trà Lộc là một làng quê thuần nông nằm ở vị trí trung tâm của xã Hải Xuân, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị; phía Bắc giáp sông Vĩnh Định, phía Nam giáp làng Lam Thủy (xã Hải Vĩnh), phía Đông giáp làng Duân Kinh, phía Tây giáp làng Trà Trì (Hải Xuân); diện tích tự nhiên hơn 210 ha; dân số khoảng 2.000 người, sống phân bố trên 12 xóm (xóm Trại, xóm Phường, xóm Miệu, xóm Hói, xóm Xạ, xóm Đình, xóm Lộc, xóm Mị, xóm Ồ, xóm Áy, xóm Chợ, xóm Soi). Làng Trà Lộc có danh lam thắng cảnh Khu sinh thái Trằm Trà Lộc nổi tiếng, có di tích khảo cổ học tháp Chăm.
Trà Lộc là một trong số các làng được hình thành khá sớm trên vùng đất Hải Lăng. Mảnh đất làng Trà Lộc, xã Hải Xuân hiện nay vào thời Lê - Mạc (thế kỷ XV - XVI) thuộc huyện Hải Lăng, phủ Triệu Phong, thừa tuyên Thuận Hóa. Theo ghi chép của Dương Văn An trong “Ô Châu cận lục”, đến giữa thế kỷ XVI, trên địa bàn huyện Hải Lăng có 49 xã trong đó có hai xã Trà Trì thượng và Trà Trì hạ (tức Trà Lộc nay). Đây là hai làng cổ nhất của xã Hải Xuân.
Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, huyện Hải Lăng giữ nguyên tên gọi 5 tổng: Hoa La (19 xã, 2 phường, 1 thôn), An Thơ (5 xã, 1 thôn), An Dã (21 xã, 1 phường), Câu Hoan (6 xã, 1 thôn, 1 phường) và An Khang (16 xã, 1 thôn, 2 phường). Tên làng Trà Lộc xuất hiện đầu tiên trong lịch sử là vào năm 1776; theo ghi chép của Lê Quý Đôn trong “Phủ biên tạp lục” thì không còn tên xã Trà Trì hạ nữa mà thay vào đó là xã Trà Lộc còn Trà Trì thượng vẫn giữ nguyên. Xã/làng Trà Lộc là một trong 16 xã thuộc tổng An Khang. Như vậy, làng Trà Trì hạ đổi thành Trà Lộc dưới thời chúa Nguyễn (1558 - 1776).
Dưới thời nhà Nguyễn, sau khi tổ chức, sắp xếp lại các đơn vị hành chính các cấp trong cả nước, hai huyện Hải Lăng, Đăng Xương thuộc phủ Triệu Phong và huyện Minh Linh thuộc phủ Quảng Bình được sáp nhập và lập dinh/trấn/tỉnh Quảng Trị. Lúc này huyện Hải Lăng được sắp xếp lại còn 4 tổng, 65 xã, thôn, phường bao gồm tổng An Thái (24 xã, 1 phường), tổng Câu Hoan (9 xã, 1 thôn, 1 phường), tổng An Thư (6 xã, 1 thôn) và tổng An Nhân (23 xã, 1 thôn, 1 phường). Thời kỳ này vùng đất làng Trà Lộc ngày nay thuộc tổng An Thái, huyện Hải Lăng, phủ Triệu Phong.
Dưới thời thuộc Pháp, về cơ bản các đơn vị hành chính làng/xã vẫn giữ nguyên như thời Nguyễn. Làng Trà Lộc thuộc tổng An Thái huyện Hải Lăng.
Sau ngày đất nước thống nhất (2 - 1976), tỉnh Bình - Trị - Thiên được thành lập bao gồm tỉnh Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh (của miền Bắc) và tỉnh Quảng Trị, tỉnh Thừa Thiên Huế (của miền Nam). Lúc này làng Trà Lộc thuộc xã Hải Xuân, huyện Triệu Hải, tỉnh Bình Trị Thiên.
Ngày 1 - 7 - 1989, tỉnh Quảng Trị được tái lập. Ngày 23 - 3 - 1990, huyện Triệu Hải được tách thành 2 huyện Hải Lăng và Triệu Phong. Huyện Hải Lăng gồm 20 xã. Làng Trà Lộc là một trong 5 làng (Trà Trì, Trà Lộc, Duân Kinh, Phú Xuân, La Duy) thuộc xã Hải Xuân, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Từ đó đến nay đơn vị hành chính của xã vẫn giữ nguyên.
Làng Trà Lộc ngày nay được hình thành từ các chính sách di dân, mở rộng lãnh thổ về phương Nam của nhà nước phong kiến Đại Việt dưới thời nhà Lê, thành phần cư dân chủ yếu đến từ các vùng Thanh, Nghệ, Tĩnh. Ra đi từ những vùng đất còn nghèo khó, chật chội, họ ước mơ tìm đến vùng đất mới rộng rãi, màu mỡ hơn để canh tác, ổn định đời sống. Vùng đất của làng Trà Trì, Trà Lộc ngày nay nguyên xưa là vùng tiếp nối giữa rú cát và đồng bằng thấp của người Chăm sinh sống. Trong khu vực làng Trà Lộc ngày nay còn gìn giữ công trình thủy lợi lớn của người Chăm đó là Trằm Trà Lộc. Lợi dụng địa hình cồn - bàu, cư dân cổ Chămpa đã đắp đập phía Đông của bàu nước - nơi tiếp giáp với đồng ruộng để tạo ra hồ chứa; sau đó, đào kênh, khơi mương dẫn nước tưới cho đồng ruộng.
Đối với tên làng Trà Trì hạ xuất hiện trong thư tịch cổ mà hiện nay chúng ta biết đến là trong tập sách “Ô Châu cận lục” của Dương Văn An viết năm Ất Mão (1555). Theo lược sử bổn tộc họ Lê (nhất) - một trong 3 họ (Lê, Cái, Dương) đến tụ cư sớm nhất và có công thành lập làng thì nguồn gốc cư dân từ miền Bắc di cư vào theo chính sách di dân dưới thời Lê Thánh Tông (1471).
Theo các cụ cao niên trong làng cho biết: trải qua bao đời nay, làng Trà Lộc không phong lập họ nào làm tiền khai khẩn. Trong văn tế của làng thì các dòng họ được xếp theo thứ tự: Lê gia tiên tổ, Cái gia tiên tổ, Dương gia tiên tổ. Nghĩa là cả ba dòng họ đều có công khai lập làng. Hiện tại chùa làng là nơi thờ Thần chủ khai khẩn, khai canh của làng (thờ vọng) và thờ thủy tổ của ba dòng họ này.
Vào thế kỷ XV, khi người Việt đến cư trú trên vùng đất mới ở khu vực châu Thuận, trong đó có địa bàn huyện Hải Lăng ngày nay thì vẫn còn nhiều bộ phận cư dân Chămpa sinh sống, tạo nên sự giao thoa văn hóa giữa hai quốc gia Đại Việt và Chămpa. Những bộ phận cư dân này được triều Lê nhập vào lãnh thổ Đại Việt và đặt tên cho các dòng họ là: Ôn, Ma, Trà, Chế... Như vậy, người Việt sau khi đến định cư trên vùng đất mới mà nguyên trước đây là địa bàn của người Chăm sinh sống, các cư dân Việt bên cạnh tạo lập những phong tục, văn hóa, tín ngưỡng của riêng mình, họ còn duy trì những nét văn hóa, tín ngưỡng của người bản địa. Và việc lưu lại tên địa danh của người Chăm bản địa là một trong những yếu tố đó, một số xóm của làng Trà Lộc ngày nay vẫn còn mang âm hưởng của Chămpa như: xóm Xạ, xóm Ồ, xóm Áy...
Từ xưa đến nay, cư dân làng Trà Lộc chủ yếu sống bằng nghề thuần nông, trồng lúa nước, trồng hoa màu và một số nghề thủ công truyền thống như làm nón lá...
2. Khu du lịch sinh thái Trằm Trà Lộc
Khu du lịch sinh thái Trằm Trà Lộc rộng khoảng 100ha. Riêng hồ nước/Trằm - theo cách hiểu của nhân dân địa phương là bàu nước vì thế còn có tên khác là Bàu Giàng có diện tích khoảng 20ha, nằm giữa một vùng tiếp giáp giữa đồi cát và vùng đồng bằng ruộng trũng. Đây là nơi hội tụ các luồng, mạch nước từ trong các cồn cát tiết ra, dẫn về theo vô số các lạch nhỏ. Khu vực làng Trà Trì, Trà Lộc ngày nay, nguyên xưa là vùng đất cư trú của người Chăm. Cư dân Chăm nổi tiếng trong việc tìm nguồn nước, kỹ thuật xây dựng các công trình thủy lợi, xây dựng đền tháp và đã để lại cho dải đất miền Trung nói chung và Quảng Trị nói riêng một di sản văn hóa đồ sộ về lĩnh vực này. Vì thế ở khu vực Trằm thời bấy giờ, người Chăm đã lợi dụng địa hình cồn - bàu để đắp đập phía Đông của bàu nước - nơi tiếp giáp với đồng ruộng nhằm tạo ra hồ chứa; sau đó, đào kênh, khơi mương dẫn nước tưới cho đồng ruộng. Trải qua nhiều lớp cư dân từ người Chăm đến người Việt, bàu nước này đã được người dân địa phương sử dụng để trở thành một công trình thủy lợi khá hoàn chỉnh với một hệ thống mương máng phục vụ việc tưới tiêu cho vùng đồng ruộng phía Tây làng Trà Lộc.
Tuy nhiên, với người dân làng Trà Lộc thì người ta quan niệm rằng Trằm có từ thời xa xưa. Theo truyền thuyết kể rằng: Có một ông tiên gánh một đôi quang gánh, một đầu là một viên đá dùng để đánh lửa và đầu kia là sọt cát để đi lấp biển. Trên đường đi chẳng may đòn gánh bị gãy, hòn đá rơi xuống và tạo nên Trằm bây giờ còn sọt cát thì tạo thành một sa động mang tên là động Cát Tiên. Cũng có tích cho rằng: Trằm là nơi các vị thần linh, tiên nữ về hội tụ trong một lễ hội du thủy nên mới có tên là Bàu Giàng, còn động Cát Tiên là nơi các tiên ông thường xuống chơi cờ… Tất cả những truyền thuyết hay những câu chuyện đó đều là hư cấu nhằm thỏa mãn nhu cầu được tự hào, ngợi ca và ngưỡng vọng của dân làng đối với một khung cảnh thiên nhiên trữ tình thơ mộng nằm giữa một vùng đồi cát trắng mênh mông trên dải trường sa của vùng Hải Lăng. Dẫu sao thì giữa một vùng đồi cát mênh mông lại tồn tại một bàu nước với không gian xung quanh là khu rừng thuộc thảm thực vật vùng cát xanh tươi thì có thể xem đây như là một “cỗ máy điều hòa” mà thiên nhiên đã ban tặng cho người dân nơi này.
Bao bọc xung quanh Trằm là thảm thực vật nguyên sinh được dân địa phương gọi là rú với một diện tích khoảng 65ha; trong đó một nửa gọi là Rú Cao, nửa còn lại gọi là Rú Phá. Gọi là Rú Cao bởi từ bao đời nay theo quy ước bất thành văn của làng, khu vực này được bảo vệ hết sức nghiêm ngặt, không một ai được chặt cây, đốn củi ở khu vực này. Khu vực Rú Phá thì theo lệ 3 năm 1 lần làng cho toàn dân trong làng chặt ngang gốc để lấy củi. Chính vì thế mà thảm thực vật xung quanh Trằm Trà Lộc được phân thành hai khu vực rất dễ nhận diện. Khu vực vành đai phía Đông Nam và Tây Bắc là khu bảo tồn tương đối nguyên vẹn. Chính dải rừng nguyên sinh này đã tạo nên một vành đai có tác dụng chắn cát từ phía Tây tràn xuống để bảo vệ đồng ruộng. Đây là khu bảo tồn được nhiều gen thực vật thuộc hệ sinh thái thảm thực vật vùng cát rất quý với nhiều cây lấy gỗ lâu năm như tran, săng ve, đá lã, trai, rỏi, tràm…
Đặc biệt, bên trong khu vực Lùm Giàng, phía Tây Bắc Trằm Trà Lộc trước đây đã từng tồn tại một đền tháp Chăm nhưng trải qua thời gian, ngày nay chỉ còn là phế tích, rải rác đây đó là một vài mảnh gạch vỡ còn sót lại. Phía trước ngôi miếu Bà Giàng vẫn còn hiện hữu một bệ Yoni bằng đá sa thạch. Người Việt ở làng Trà Lộc đến định cư lập làng ở vùng này (khoảng cuối thế kỷ XV) khi mà ngôi tháp đã bị đổ nát. Họ xây cất lên đó một ngôi miếu để thờ phụng lại chính thần linh xưa của người tiền chủ. Và chính họ cũng đã mô phỏng lại “chân dung” của vị thần Siva - biểu tượng bằng Linga - với ít nhất là hai “chỏm hình cầu” bằng vôi gắn vào giữa Yoni để thờ phụng với mục đích cầu mong sự tươi tốt cho mùa màng, sự sinh sôi nảy nở cho muôn vật, muôn loài.
Điều đáng nói thêm là trong những năm gần đây, ở quanh khu vực Lùm Giàng cũng như ven Bàu Giàng của làng Trà Lộc các nhà nghiên cứu đã tìm thấy nhiều di vật khảo cổ học như những chiếc rìu, bôn đá, bàn mài... từ thời đại cuối đá mới, sơ kỳ kim khí trống đồng thuộc Đông Sơn thuộc loại I theo cách phân loại của Heger, có niên đại cách ngày nay từ 2.000 - 2.500 năm và nhất là những đồ gốm sứ thuộc thời kỳ trước và trong giai đoạn phát triển của vương quốc Chămpa; trong đó có nhiều đồ bán sứ Trung Hoa dưới các thế kỷ VII - IX như gốm sứ Hán, Lục triều, Đường... Đây là những bằng chứng về sự định cư lâu dài, liên tục của các lớp cư dân dọc dải cồn cát tiểu trường sa nói chung, quanh Trằm Trà Lộc nói riêng trong lịch sử từ xa xưa đến tận ngày nay.
Trong chiến tranh, địa bàn xã Hải Xuân nói riêng và Trà Lộc nói chung là vùng giáp ranh trên tuyến liên lạc giữa vùng căn cứ cách mạng phía Tây và các xã đồng bằng phía Đông. Khu vực rừng rú xung quanh Trằm Trà Lộc qua nhiều thời kỳ từng là căn cứ địa, nơi ẩn giấu và hoạt động bí mật của lực lượng cán bộ cách mạng, du kích và bộ đội địa phương huyện Hải Lăng.
Trong công cuộc đổi mới và phát triển của quê hương, Trằm Trà Lộc đã và đang trở thành khu du lịch sinh thái hấp dẫn đối với nhân dân Quảng Trị. Một dự án du lịch sinh thái đã được mở ra bằng việc quy hoạch diện tích Trằm Trà Lộc mở rộng khoảng 100ha, xây dựng đường giao thông, các trục đường nội bộ bao quanh Trằm, bãi đổ xe, nhà nghỉ, các cơ sở dịch vụ đủ tiêu chuẩn và một số hạng mục khác sẽ được triển khai thực hiện trong một ngày gần đây. Hướng mở mới cho việc khai thác tiềm năng du lịch chắc chắn sẽ đáp ứng được lòng mong mỏi của nhân dân tỉnh nhà và du khách mọi nơi.
3. Hội phá Trằm Trà Lộc
Có thể nói trong tâm thức của người dân xã Hải Xuân thì hội phá Trằm là một ngày hội của toàn thể dân làng, đây cũng chính là dịp để dân làng tiến hành vệ sinh cho lòng hồ hàng năm.
Việc làm sạch lòng hồ, khơi thông dòng chảy được dân làng tiến hành hàng năm nhưng chưa được tổ chức thành hội. Dần dần về sau cứ mỗi mùa vệ sinh làm sạch lòng hồ, người dân lại tập trung để thu hoạch cá, tôm với không khí náo nức, hồ hởi, vui vẻ và sôi động của toàn thể dân làng nên nó đã trở thành một ngày hội của làng. Trước đây hội phá Trằm được dân làng tổ chức vào khoảng từ ngày 15 đến 20 tháng 7 âm lịch hàng năm, tùy thuộc vào độ chín của lúa (lúa chiêm một vụ/năm) tiến hành xả nước vừa để thu hoạch lúa, vừa để chuẩn bị lễ hội phá Trằm và vệ sinh lòng hồ. Trong giai đoạn hiện nay việc trồng lúa được thâm canh tăng lên hai vụ (vụ Đông xuân và Hè thu) nên hội phá Trằm được tổ chức sang tháng 8 âm lịch (tức là kết thúc vụ lúa Hè thu).
Để lễ hội phá Trằm được diễn ra trong không khí an lành, đoàn kết thì chiều hôm trước Ban điều hành lễ hội của làng cử một vài người có kinh nghiệm bắt cá trong làng ra tát nước ở một cái đìa nhỏ gần Trằm và bắt con cá tràu/cá quả to nhất đem về nướng để làm lễ vật cùng với gà, xôi, hương hoa trầu rượu... đem cúng tại miếu Bà Giàng nhằm cáo giang sơn cầu xin sự bình yên, an toàn cho những người tham gia bắt cá tại Trằm. Hiện nay, theo thời gian thăng trầm gián đoạn, lễ vật để cáo giang sơn không còn nguyên bản như trước nữa mà mâm lễ chỉ còn có hương hoa quả cúng tại ngã ba đường vào Trằm để cầu an cho những người xuống Trằm bắt cá, mò tôm.
Mặc dù Trằm là của làng Trà Lộc nhưng đến ngày phá Trằm thì không chỉ người ở trong làng mà người làng khác đều có thể xuống bắt cá với đủ các thứ dụng cụ mang theo như: nơm, rớ, dũi hoặc bắt bằng tay… Có năm làng tổ chức bán vé để xuống bắt cá nhưng cũng có năm xuống bắt tự do. Số lượng cá bắt được nhiều hay ít cũng tùy từng người và tùy vào dụng cụ mà họ mang theo. Cá ở đây cũng hết sức phong phú nhưng nhiều nhất vẫn là cá tràu, đây là một loại cá ăn rất ngon và được nhiều người ưa chuộng. Vì thế những người đến dự hội phá Trằm có thể mua cá về ăn hoặc làm quà cho người thân tùy ý.
Hội phá Trằm thường kéo dài trong thời gian khoảng từ hai đến ba ngày. Tuy nhiên, chỉ ngày đầu tiên sau khi xả nước mới là ngày hội chính thức. Sau ngày hội, buổi tối hoặc ngày hôm sau người dân cũng có thể tiếp tục bắt cá. Khi đã hết cá, Ban điều hành làng tiến hành đóng cửa Trằm cho nước dâng là chấm dứt hội phá Trằm.
Khu du lịch sinh thái Trằm Trà Lộc cùng với hội phá Trằm là địa điểm du lịch sinh thái - văn hóa hấp dẫn và lý tưởng. Những ngày hè nóng bức du khách về với Trằm sẽ được tận hưởng không khí trong lành, mát dịu của thiên nhiên hoang dã hòa quyện với hương sen, hương lúa nồng ấm tình người. Về với hội phá Trằm cũng là dịp để du khách trải nghiệm và tận hưởng những phút giây thư thái, thưởng thức những món ăn thấm đượm vị ngon ngọt của đồng quê dân dã và cảm nhận sự thú vị nét đẹp văn hóa lễ hội truyền thống của làng quê Việt được giữ gìn và phát huy ở làng Trà Lộc, xã Hải Xuân, huyện Hải Lăng, Quảng Trị.
N.T.N
_____________
Tài liệu tham khảo.
1. Dương Văn An, Ô châu cận lục, Văn Thanh và Phan Đăng dịch và chú giải, NXB Chính trị Quốc gia. Tr 56.
2. Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1960. Tr 101
3. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đồng Khánh địa dư chí, Sách điện tử, Bản dịch của Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin, tr. 1385.
4. Sở Văn hóa - Thông tin, Bảo tàng tỉnh Quảng Trị, Di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh tỉnh Quảng Trị, Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Trị tái bản năm 2004. tr 696.




