Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 16/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Kỷ niệm ở Như Lệ

    Đ

ã khuya lắm rồi, bọn địch cũng như mệt mỏi, khoảng cách giữa các loạt cối cầm canh thưa thớt hơn. Đêm hạ tuần tháng chạp sương muối xuống giá lạnh. Gió thổi vun vút từ sông Thạch Hãn thổi vào, bãi bằng Như Lệ đường dây thông tin thôi không dứt nữa. Mệt quá, tôi ghé xuống một căn hầm bên đường, vẫn giữ nguyên quân tư trang trên người, đêm đông mà lưng áo ướt sũng vì từ chập tối đã lăn qua lăn lại nhiều lượt với những cú dây đứt. Định ngả lưng chút xíu cho dãn xương dãn cốt, nhưng vừa đặt lưng bỗng nghe tiếng quát tháo làm giật mình, thì ra là tiếng quát của chính mình trong mơ.

            - Chết mất! Bọn thám báo mà mò qua đây thì toi!

            Lẩm bẩm một mình, tôi nhỏm dậy, hai tay lăm lăm hai quả lựu đạn chày, rồi lại bước vào màn đêm tối thui sương giá. Lần theo hào tuyến ba, đến được khu đại đội 7, mấy chàng 2W đang ngủ vùi, anh em bộ binh chốt tuyến hai qua qua lại lại thay phiên nhau tuần tra…tôi cũng lao vào hầm thông tin, nằm vật vả, ngủ thiếp đi rất nhanh.

            Mặt trời buổi sáng gắt gao chiếu qua lỗ thông hơi vào mặt, báo hiệu một ngày nắng gắt. Tôi dụi mắt tỉnh dậy, lúc đó khoảng chín giờ hơn. Bò sang hầm đại đội, biết đường dây đã mất liên lạc từ lâu nhưng không phải phiên trực nên không ai đánh thức tôi nữa. Ở chốt này, liên lạc ban ngày về bờ sông thuộc trách nhiệm 2W - còn hữu tuyến chúng tôi chỉ đảm nhiệm vào ban đêm, vì cái bãi bằng Như Lệ nằm thấp hơn trận địa địch rất nhiều và chiến sự thì ngày đêm rất ác liệt. Chỉ cần ai đó thò đầu lên khỏi hào giao thông chứ chưa cần ra ngoài sẽ bị bắn tỉa, thậm chí súng liên thanh, có khi cả lựu đạn hoặc cối cá nhân của địch choảng tới. Song có lẽ vì “nhàn cư” và tù cẳng quá nên tôi mới lần dò theo hào tuyến ba chọn chỗ kín ngó cổ nhòm ra cái bãi bằng đáng ghét nhấp nhô những hầm hào, những chiếc cột nhà cháy đen thui còn sót lại trơ trỏng, cắm lộn xộn xen với những ụ đất đá, những hố bom, hố pháo nham nhở… thấy mờ nhạt hình bóng một làng quê xưa, giờ đã bị chiến tranh phá hủy hoàn toàn.

            Đại đội trưởng chỉ huy tuyến này nhăn nhó gãi tai, mặt mũi vẻ buồn bực bỗng sáng mắt khi nhìn thấy tôi, lão cười hơi nhăn nhở một chút tiến lại vỗ vai tôi phân bua:

            - Bọn 2W tậm tịt quá, mấy thằng vừa bổ sung chắc chưa thuộc bài nên câu chẳng ra câu chậm chạp và thiếu chính xác quá, hay là ông đi sửa ban ngày thử cái? Nói xong lão lại toét miệng ra cười.

            Tôi nhìn quanh, mấy cậu liên lạc, y tá…mặt mũi nhem nhuốc, quần áo bê bết đất bùn, đến ngay như tôi đi đi về về luôn mà lúc này mặt cũng còn đầy bụi đất huống chi bọn họ. Cơm nước hàng ngày của cả tuyến chốt này đều do anh nuôi lợi dụng những lúc tối trời mang lên. Nhất nhất phải chờ trời tối hẳn, ngay cả đến thương binh tử sĩ cũng phải chờ đấy, ban ngày đố ai dám liều lĩnh, mà cấp trên cũng không cho phép ai làm vậy. Suy nghĩ chốc lát rồi lẳng lặng xốc lại dây lưng, tôi vừa kiểm tra khí tài tư trang vừa gật gù nhếch mép có lẽ hơi ngạo mạn rồi buông câu:

            - Thôi được, để thử xem sao, mọi người trực máy nhé.

            Thi thoảng có tiếng AK giòn tan, tiếng M76 lẹt đẹt phá tan bầu không khí yên lặng buổi sáng. Tới căn hầm cuối cùng trước khi muốn băng ra cái bãi bằng trống trải, loay hoay không biết có nên băng ra ngay không vì khu vực này giờ vẫn bình lặng như tờ, nhưng linh cảm lúc nào cũng nhắc nhở mọi người ở đây rằng “hàng ngàn cặp mắt diều hâu cú vọ của bọn ngụy trên kia đang rình rập” nhất là giữa trưa trời chang chang đổ nắng thế này, từ ngọn cỏ bờ mô, từng cục đất… nhìn rõ mồn một. Đoạn dây đứt tôi đã phát hiện, cách căn hầm đang núp khoảng 50 mét, nó vắt ngang miệng một hố pháo nông. Trời trong veo, dãy đồi bát úp trước mặt, động ông Do và rặng núi xa xa, nơi bọn pháo lớn pháo nhỏ của địch lúc nào cũng như muốn nhả đạn. Các chốt địch gần đây nhưng đố ai đoán biết được chỗ nào có địch thật, chỗ nào chúng nghi binh. Quay vào sâu hơn trong căn hầm sắp sập, ngả người lên đống ba lô phồng căng của chiến sĩ ngoài chốt để tạm, tôi tự tìm cho mình giải pháp thôi miên định thần!

            Chà, run thật, chả thế mà có ai dám qua bãi này ban ngày đâu! Nhưng rồi tôi cười khẩy một tý, cố tỏ vẻ xem thường hiểm huy kiểu hiệp sĩ, đoạn quyết định xuất phát. Vừa trườn người khỏi hào giao thông kiểu một con thằn lằn, uyển chuyển và nhanh nhẹn bò ra bãi bằng trống trải, được vài chục mét thì ùng ùng ùng, tiếng nổ gần tai lập tức bị lùng bùng ù đặc. Đất đá quanh người tung lên mù mịt. Pháo địch chẳng biết từ đâu đã giã xuống gần sát sạt và liên tục đến nỗi tôi tưởng mình toi luôn lúc đó, chỉ còn kịp gục úp mặt xuống đất, vào sườn một hố bom, hai tay ôm đầu phó mặc rủi may! Phải mất vài phút sau không thấy tiếng nổ nào thêm, định nhỏm dậy, lại nghe những tiếng bùng…phụp…bùng…phụp…pháo khoan lại dồn dập, khoan như điên như dại xung quanh. Những tiếng nổ lục bục, đục trầm trong lòng đất rung lên như đang động đất rồi từng cột, từng cột đá phun tung tóe lên trời. Địch dùng pháo trên mặt đất để xua những người chưa bị tiêu diệt vào hầm, khi họ đã vào hầm rồi, chúng lại tiếp tục tàn sát bằng pháo khoan, thật tinh vi và ác hiểm! Chiều qua, tôi đã chứng kiến cảnh mấy chiến sĩ  trinh sát khi về  đến chiến hào cạnh bờ sông mà trên lưng áo có bám thẫm đầy máu đỏ tươi của một đồng đội cùng  hầm bị pháo khoan nổ trúng. Số tôi chắc là cao nên đã mấy mươi lần bom đạn đánh trúng đội hình đơn vị, nhiều khi đồng đội hy sinh ngay bên cạnh mà tôi không hề hấn gì. Qua được đoạn tưởng chết ấy, tôi nghển cổ dõi lại các đoạn đây đứt rồi vụt nhỏm lên rất nhanh, lao tới thực hiện thao tác tháo nối, cũng nhanh đến không ngờ, lao đi cũng rất lẹ làng, dứt khoát trên cái bãi bằng ghê rợn, mù mịt khói bụi và nóng như thiêu đốt.

            Trên đường về bờ sông, dù chạy rất nhanh tôi vẫn  kịp nhìn thấy một quả lựu đạn không kíp (loại lựu đạn tấn công) sơn màu vàng ai đó vứt dưới đáy một hố bom, quả lựu đạn giống như quả  lựu đạn mà mấy hôm trước tôi đã đưa cho đứa em kết nghĩa lúc lên đường. Về đến bờ sông, sà vào hầm tổng đài, mấy đứa trực máy cùng ban chỉ huy tiểu đoàn đồng loạt bật lên ùa ra reo mừng:

            - Đường dây thông cả ban ngày rồi, cứ tưởng mày bị sao, giỏi quá. Tiểu đội trưởng của tôi cười phô hết cả mấy chiếc răng hô, ôm chầm lấy tôi, mấy vị lãnh đạo tiểu đoàn cũng rạng rỡ mặt mày, tiến tới ôm ôm vỗ vỗ vai tôi khen ngợi:

            Nhìn thằng em kết nghĩa của tôi, nó như bé nhỏ hơn ngày thường, nó nhìn tôi cười bẽn lẽn như con gái, cổ còn treo cách tay trái băng bó trắng toát, nó thỏ thẻ:

            - Anh liều lĩnh quá, em đã bảo rồi, may mà chưa bị sao! Tôi hề hề cười, như người có lỗi muốn làm lành:

            - Ban ngày nhàn quá, vả lại trên kia họ giục nên anh đã liều thử, anh hiểu rồi, nhưng quả thực nếu không liều như trưa nay thì anh cũng chưa thể cảm nhận được hết mức độ ác liệt ban ngày ở bãi bằng Như Lệ này, em cứ yên tâm điều trị, mai mốt về lại với anh.

            Buổi chiều hôm đó, có trận lấn dũi của quân ngụy Sài Gòn, nhờ có đường dây hữu tuyến thông cả ngày (không có ai bò ra ban ngày trên bãi bằng nữa nên địch cũng chẳng bắn phá gì tiếp), lần đầu tiên đường dây hữu tuyến đảm bảo liên lạc ban ngày trên bãi bằng Như Lệ. Pháo vối của ta đã nã kịp thời và chính xác vào bọn địch, bẻ gãy nhiều đợt tấn công của chúng. Tôi được khen thưởng rồi được kết nạp Đảng những ngày sau đó.

            Vào buổi sáng một ngày rảnh rỗi bình yên, thằng em kết nghĩa của tôi từ bệnh viện tiền phương về thăm đơn vị. Tôi bảo nó giơ tay cho xem vết thương đã tháo băng, thấy ở cổ tay phía mặt dưới quanh các nốt lấm tấm đỏ đen có vài mảnh nhỏ cỡ hạt dưa bí màu xanh lam, không có cái nốt nào chứng tỏ vết thương sâu cả, tôi hỏi nó sao vết thương như vậy, nó trả lời:

            - Lúc đó em giơ tay chữa dây, đạn cối nổ ra gần quá thuốc táp vào nên có màu xanh. Một sự liên tưởng không thích thú gì bỗng dưng len vào trong đầu, và tôi chợt nhớ ra đó là hình ảnh quả lựu đạn không kíp màu vàng dưới hố bom ngoài bãi bằng hôm nào! Lòng dạ như vô cớ buồn xịu xuống, có cái gì như là sự đau đớn, một sự đau đớn vô hình xộc nhói vào con tim vốn đa sầu đa cảm của tôi, chẳng còn hoài nghi gì nữa, thằng em của tôi trong phút giây yếu mềm ở cái đêm ác liệt ngoài bãi bằng ấy, nó đã bỏ tôi một mình, bỏ lại một mình tôi cho sự khốc liệt hiểm nguy, vất vả sống chết… nó đã tự thương, nó đã phản bội tôi!
            Tôi chưa dám đả động đến những điều to tát hơn như tinh thần chiến đấu, tinh thần đồng đội hoặc tinh thần cách mạng gì đó… những cái đó là của chung xã hội, là của chung cuộc chiến tranh giữ nước, là chung của mọi người… có thể tôi đã ích kỷ quá chăng! Sao ngay lúc đó tôi cũng chỉ suy nghĩ được cho riêng mình như vậy, đau khổ chua chát cho riêng mình, giông giống nó, tôi cũng gần như im lặng, xa lánh, thường ngày nó vẫn vờ thường xuyên vồ vập săn đón chăm chút tôi như ngày nào. Trong các lần phục vụ chiến đấu sau đó, ai ai cũng khen nó là người nhanh nhẹn dũng cảm, nhưng riêng tôi, tôi chẳng còn vui cười đùa nghịch với nó được như trước nữa…! Rồi trong một trận đánh ác liệt vào tháng 3 năm 1975 ở phía tây thành Huế, tôi bị thương rất nặng, phải chuyển ra Bắc, qua viện này đến viện kia, nằm trên giường bệnh tháng trời, tôi không ngờ đó lại là lần tôi vĩnh biệt cuộc sống chiến trường và vĩnh biệt cuộc chiến tranh mà tôi đã tham gia ba năm trời trên chiến trường Quảng Trị, Thừa Thiên, mà cho đến tận bây giờ, tôi vẫn chưa một lần quay lại mảnh đất Như Lệ đầy kỷ niệm xương máu khốc liệt kia!

            Lành vết thương, được tiếp tục đi học, chuyển ngành đi làm, lấy vợ, rồi sinh con…cuộc sống có lúc buồn, lúc vui, lúc bần hàn cực nhọc, cũng có lúc thư thái an nhàn… Cứ tưởng như kỷ niệm đau đớn năm nào rồi sẽ nguôi ngoai, nhưng vào những lúc một mình nhìn trời ngắm đất, nhất là những đêm vợ con không có nhà, tôi thường hay nhớ về cái thằng em năm nào, về cái kỷ niệm bãi bằng năm nào, vẫn vừa thương vừa giận, trằn trọc nhọc nhằn nhiều khi suốt đêm không ngủ được. Không biết giờ này nó ra sao… chưa thoát được cái vòng luẩn quẩn tưởng như quá đơn giản nhưng lại dai dẳng và khó xử ấy.

            Rồi vào một buổi sáng chủ nhật mùa xuân năm nay, khi đang lúi húi sửa chiếc xe đạp cho cậu con trai học lớp 12 bỗng có hai người đàn ông đứng tuổi ăn mặc khá sang trọng bước vào nhà, một trong hai người cất tiếng:

            - Xin chào đồng đội!

            - Em chào anh!

            Tôi giương cặp kính lão lên soi vào mặt họ, bỗng buông hết đồ nghề, quên hết tay chân còn lấm lem dầu mỡ, ôm lấy một người rồi kêu tướng lên:

            - A! Một Chòm Lông,  Một Chòm Lông.

            Quay sang nhìn người thứ hai tôi càng sững sờ hơn, trước mặt tôi đích thực là thằng em kết nghĩa của tôi năm nào:

            - Thắng! Thằng Thắng! Tôi vui đến khó tả, cái tay “Một Chòm Lông”, kia tên thật là Lịch, cả hắn và thằng Thắng đều kém tôi ba tuổi, cái bí danh kia lại do chính tôi đặt cho hắn hồi ở Ba Lòng (ngày trước trên trán hắn, ở giữa nhân trung có một nốt ruồi rất to, đen xì , mộc đầy lông nên tôi gọi vậy cho vui - bắt chước tên một nhân vật trong Rừng Thẳm Tuyết dày - từ thuở còn học sinh tôi vẫn có sở thích tự nhiên từ ngày xưa là hay đặt biệt danh cho bạn bè). Bây giờ hắn đã tẩy sạch hẳn nốt ruồi kia, nguyên là chủ tịch huyện BM, Hà Giang, có vợ và hai con gái, còn thằng em kết nghĩa của tôi đây, nó vẫn bẽn lẽn như năm nào, tóc còn bạc nhiều hơn tôi, nói chung tất cả chúng tôi ai nấy đều đã trung tuổi, tuy chưa đến nỗi như các ông cụ lắm nhưng nhìn những nếp nhăn trên các khuôn mặt bạn bè, chúng tôi rưng rưng nước mắt, nhớ vào một thuở vào sinh ra tử và cảm động đến nghẹt thở. Chẳng cần thằng em tôi phải nói câu gì về chuyện ấy, có đôi lần nó mấp máy miệng định rỉ tai tôi điều gì đó nhưng tôi xua tay rồi ôm lấy nó, vỗ vỗ vai nó như vỗ về đứa em ngày nào:

            - Ai cũng có một thời trẻ trai vụng dại em ơi!... Mình gặp lại được nhau là quý lắm rồi, vợ con thế nào em? - Tôi hỏi:

            - Em vừa lên chức ông nội được tháng nay, một đứa cháu đích tôn, em vẫn biết các bác ở đây nhưng hôm nay nhờ có “Một Chòm Lông” mới đến thăm hai bác và cháu được, em thật có lỗi quá! Bác tha lỗi cho vợ chồng em, cháu trai đầu của em đã hai lăm tuổi, đứa thứ hai chín tuổi là con gái, vợ em là giáo viên dạy trong thị xã  gần nhà - nó nói luôn một hồi!

            - Tuyệt vời quá rồi, anh mừng cho chú!

            Không biết tôi xưng hô tự nhiên như thế từ bao giờ, có lẽ do cũng đã cao tuổi, không thể so sánh với cái thuở mười chín đôi mươi năm nào được, vả lại trong lúc này đây, tôi đang vui hơn lúc nào hết, vui vì cái điều được giải tỏa mà tôi đã đề cập khá nhiều trên đây, vì chúng tôi không mất nhau, vẫn luôn nghĩ tới nhau và cuộc đời cũng như cuộc sống mỗi người mỗi ngày càng no đủ, hạnh phúc hơn và đáng sống hơn!

            Cái trảng bãi bằng Như Lệ chết tiệt kia ngày xưa thì đáng ghét đáng sợ như vậy, bây giờ không biết thay đổi ra sao rồi! Trong tâm tưởng và suy đoán của chúng tôi, những làng quê trù phú dọc sông Ba Lòng, Thạch Hãn, Cửa Việt… chắc không thể nhận ra nếu vào thăm lúc này. Đã ba mươi năm trôi qua rồi, mấy thế hệ con người đã nối nhau, thay nhau diễu bước trên mọi miền đất nước thống nhất, những vết thương do đạn bom tàn phá và kể cả những vết thương lòng to, nhỏ, trong từng con người trong cộng đồng dân tộc Việt cũng đã cơ bản bị xóa đi, trong cái nhịp sống xã hội đang phát triển đến chóng mặt từng ngày của hôm nay. Chúng tôi càng thấy ấm áp lòng dạ khi nghĩ lại những kỷ niệm năm nào trên dọc con sông ấy, dọc theo những đoạn trường chiến tranh gian khổ một mất một còn và ngẫm dù là thời chiến hay thời bình cũng tôn thờ cái hay cái đẹp của cuộc sống. Chúng tôi cũng đã hứa hẹn với nhau sẽ thu xếp một ngày nào đó, về thăm lại mảnh đất Như Lệ Tích Tường, Hải Lệ, Tân Lệ xưa… cái bãi bằng Như Lệ ấy, bên dòng sông Thạch Hãn nên thơ, mỗi khi nghĩ tới tôi lại nao lòng!..

                                                                                    N.T.T

Nguyễn Trường Tam
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 105 tháng 06/2003

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

17/04

25° - 27°

Mưa

18/04

24° - 26°

Mưa

19/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground