|
L |
àng Bạch Lộc là một đơn vị hành chính của xã Trung Hải, huyện Gio Linh. Nằm ở vị trí sát bờ nam sông Bến Hải, địa hình thấp trũng có nhiều rào, hói, ao, đầm nhưng lại ở vào cuối nguồn nước của công trình hồ chứa Kinh Môn, nên người nông dân làng Bạch Lộc gặp rất nhiều khó khăn trong việc sản xuất cây lúa! Hàng trăm năm qua, tận dụng nguồn nước tự có, người nông dân Bạch Lộc chỉ gieo cấy được một vụ lúa với diện tích 30 ha. Do đó, nghề khai thác tôm cá tự nhiên, nuôi trồng thủy hải sản theo dạng ao, đìa, chuôm có một vị thế hết sức quan trọng trong đời sống kinh tế của người nông dân Bạch Lộc. Hàng năm, với truyền thống lâu đời của địa phương, vào ngày rằm tháng Giêng (âm lịch) làng Bạch Lộc lại tổ chức lễ Cầu ngư mở đầu cho mùa đăng đèn đơm đó khai thác tôm cá trên sông, trên rào. Với mục đích cầu mong cho trời đất thuận hòa, cây cối tốt tươi, cá tôm phong phú để phục vụ cho cuộc sống của con người, nên người nông dân làng Bạch Lộc tổ chức lễ Cầu ngư một cách rất thành kính.
Chuyện kể rằng: Cách đây đã mấy trăm năm, dân làng Bạch Lộc sống rất cơ cực vì thiếu nguồn nước để sản xuất cây lúa. Dân làng tha phương đi làm ăn khắp nơi, chỉ dịp tết âm lịch mới về làng. Nhiều người còn vào mãi miệt Thuận An thuộc hạt Thừa Thiên Huế để làm ăn, năm ba năm mới về làng. Trong làng có một ông lão sống độc thân, thường gọi là ông Ngư. Ông Ngư không tha phương đi làm ăn như mọi người mà vẫn sống bám làng. Ông ra cơn mưng dựng chòi sống bằng nghề làm đìa cá. Một năm trời đại hạn lâu ngày, nước trong các rào hói, ao đìa bị khô cạn. Đìa cá của ông Ngư cũng bị cạn tận đáy. Thương đàn cá quằn quại dưới đáy bùn nhão vì thiếu nước, hàng ngày ông Ngư phải cố sức qua làng bên xin từng ang nước đổ vào đìa. Nhưng do đường xa, sức yếu, trời lại nắng nôi, nên đến ang nước cuối cùng ông đã kiệt sức và qua đời bên đìa cá của mình. Cảm động trước tấm lòng của con người với chúng sinh, trời đã cho mưa xuống, nước nổi đầy đồng, cá tôm sinh sôi nẩy nở nhiều vô kể. Dân làng tha phương đi làm ăn khắp nơi biết chuyện, tìm về làm đám ma cho ông Ngư và xây miếu thờ ông Ngư ở Cồn Mưng. Miếu thờ hiện nay vẫn còn, sau chiến tranh dân làng đã tổ chức trùng tu lại như cũ. Và hàng năm, đến ngày rằm tháng giêng (ngày xây miếu thờ ông Ngư) dân làng lại tổ chức cúng bái, cầu xin ông Ngư phù hộ cho làng ăn nên làm ra. Và lễ cầu ngư của dân làng Bạch Lộc ra đời từ đó. Cụ Hoàng Trọng Đôn, năm nay đã 90 tuổi, được xem là người của đầu thế kỷ trước, nổi tiếng với nghề đăng đó kể lại rằng: Sau khi xây xong miếu thờ, ông Ngư được xem là vị thần hoàng có công khai canh của làng, nên dân làng làm lễ Cầu ngư rất to. Để chuẩn bị cho lễ cầu ngư vào rằm tháng Giêng âm lịch, ngay từ trong tết làng đã sức dân đinh đắp một cái đàn cao ở giữa đồng cạnh bàu Mưng. Trên đầu cắm một cây nêu có hai dải vải xanh đỏ tượng trưng cho trời đất và một bát gạo muối để cúng hương hồn thập loại chúng sinh. Đến ngày rằm tháng giêng âm lịch, làng cho hạ nêu và tổ chức lễ Cầu ngư. Những người bỏ xứ đi làm ăn ở miệt Thuận An Thừa Thiên Huế cũng tìm về dự lễ Cầu ngư với làng. Và hiện nay dân vạn chài của miệt Thuận An Thừa Thiên Huế cũng tổ chức lễ Cầu ngư như một phong tục của làng Bạch Lộc. Đêm 14 tháng giêng mọi nhà trong làng đều thức để làm cỗ cúng ông Ngư, chuẩn bị đăng lờ, đèn để nhập ngư. Sáng ngày rằm tháng giêng, tất cả mọi nhà đưa mâm cỗ nhà mình đến đặt lên đàn đẻ khấn trời đất, để cúng ông Ngư. Trong lễ cầu ngư, trưởng làng thường là người cao tuổi nhất, thay mặt dân làng thắp hương khấn vái ông Ngư và rót rượu đổ xuống sông, tượng trưng mời ông Ngư thưởng tửu. Sau đó, trưởng làng thay mặt các bô lão nói về truyền thống giao kết giữa con người với thiên nhiên, với đồng loại, tích cực làm nghề để phát huy truyền thống "dĩ ngư vi thực" của cha ông. Sau lễ Cầu ngư dân làng cùng nhau uống rượu, gặp gỡ nhau trao đổi kinh nghiệm đăng đèn đơm đó, thông cảm với nhau những chuyện bất đồng trong năm, bắt tay đoàn kết, cùng nhau kết bè thả hoa đèn trên sông, trên hói. Đêm đăng đèn vào rằm tháng giêng âm lịch, làng Bạch Lộc sáng bừng lên với hàng ngàn ngọn đèn chai được thắp trên các trộ đáy, rố chàn, trộ lừ và trộ sáo. Trong lễ cầu ngư nếu nhà nào có khách xa đến thăm thì nhà ấy trong năm được hưởng lộc của ông Ngư. Do đó, khi tiễn khách, chủ nhà thường biếu khách một đòn bánh tét tượng trương cho đồng lúa và một con cua sống tượng trưng cho sông ngòi của làng. Tục lệ ấy vẫn còn giữ mãi cho đến bây giờ. Sản vật khai thác được trong đêm nhập ngư đầu tiên, mỗi nhà đều có trách nhiệm đóng cho làng một ít để làng phân phát cho những gia đình nghèo khó, người già, trẻ mồ côi không có điều kiện làm nghề. Những ngày tiếp đó (thường là ngày 16 và đêm 17 tháng giêng) làng tổ chức hội đua thuyền và hội thi đăng đèn đơm đó rất sôi động. Tục lệ và các hoạt động này còn giữ cho đến đầu năm 1954 mới chấm dứt. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, ngoài nghề khai thác tôm cá tự nhiên, dân làng Bạch Lộc còn làm thêm nghề sản xuất muối ăn. Nghề làm muối của làng Bạch Lộc rất nổi tiếng. Bằng "con đường du kích" muối bạch lộc đã vượt qua tai mắt của địch ở bót Xuân Hòa, đồn Dốc Miếu âm thầm ngược lên Giang Phao, Hải Cụ, vượt sông Bến Hải tiếp tế cho cán bộ, bộ đội ở chiến khu Thủy Ba, vượt An Già, An Hướng để lên vùng Cùa làm mặn mà tình nghĩa giữa hậu phương và tiền tuyến…
Phát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông, rằm tháng giêng Nhâm Ngọ này, làng Bạch Lộc cũng tổ chức lễ Cầu ngư như mọi năm. Để tổ chức cho ngày hội Cầu ngư, ngay từ trong tết âm lịch, cùng với việc chuẩn bị sáo nỏ, trộ đáy, dân làng Bạch Lộc đã tổ chức sửa sang lại miếu ông Ngư, trang hoàng lại nhà văn hóa của thôn để tổ chức giao lưu văn nghệ. Trong lễ Cầu ngư với nhang đèn, tôm cua luộc, hoa quả và rượu tự chưng cất, dân làng đem lễ đến miếu ông Ngư, đến bên bờ sông, trên trộ đáy để dân hương hoa, khẩn cầu trời đất, cầu khẩn ông Ngư cho mưa thuận, gió hòa, cá tôm sinh sôi nẩy nở, dân làng ăn nên làm ra. Cũng như tục lệ xưa, trưởng làng nay là (người được dân làng bỏ phiếu kín bầu ra), kêu gọi dân làng hãy cùng nhau đoàn kết, tích cực bảo vệ môi sinh, giúp nhau xóa đói giảm nghèo, phát huy tốt truyền thống "dĩ ngư vi thực" của cha ông. Dân làng cùng nhau uống rượu, trao đổi kinh nghieemk làm ăn, kết bè thả hoa đèn trên sông như tục lệ xưa để lại. Đặc biệt năm nay, cùng với việc tổ chức hội Cầu ngư để khau thác con tôm con cá tự nhiên, dân làng Bạch Lộc còn tổ chức đấu thầu ao, đầm và ruộng sâu trũng để nuôi trồng thủy hải sản kết hợp với trồng lúa theo mô hình trang trại. Do đó lễ Cầu ngư năm nay ở làng Bạch Lộc còn có đại diện của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đến dự vừa vui vẻ, vừa trang trọng. Bằng nghề truyền thống khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên, kết hợp với nghề nuôi trồng thủy hải sản, dân làng Bạch Lộc đã từng bước xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng. Con em làng Bạch Lộc nhiều người đã học đến kỹ sư, tiến sĩ về nghề nuôi trồng thủy hải sản. Làng Bạch Lộc giờ đây đã trở thành một làng quê trù phú, ấm áp tình làng nghĩa xóm.
Và lễ Cầu ngư đã trở thành một nét đẹp văn hóa của làng.
N.N.P




