|
C |
hiến tranh đã lùi xa trên ba mươi năm, nhưng mỗi lần nhớ lại tôi cứ nghĩ tới mảnh đất Quảng Trị. Nơi ấy vùng núi và vùng trung du rộng hơn đồng bằng, để kiếm sống, người dân phải vất vả hơn nhiều nơi khác. Thế nhưng họ vẫn bám đất kiên cường đánh giặc. Hai con đường chiến lược số I và số 9 như cái chĩa ba kẻ địch thọc vào lưng phong trào cách mạng, bất cứ điểm nào nổi tăm du kích chúng cũng với tay một khoát là đến. Thời Pháp chiếm đóng là thế. Thời Mỹ nguỵ cũng vẫn thế. Thế nhưng Quảng Trị vẫn kiên cường bất khuất. Những chi bộ Cộng sản đầu tiên với tên những đồng chí lãnh đạo đầu tiên Lê Duẩn, Lê Thế Tiết, Trần Hữu Dực mãi mãi làm sáng danh Quảng Trị. Có nơi đâu như ở Quảng Trị, bọn đế quốc bày cảnh trớ trêu: cuối đường 9 giáp Lào, chúng dựng lên nhà tù Lao Bảo nơi đày đoạ biết bao người yêu nước; cuối sông Bến Hải, chúng xây dựng bãi tắm Cửa Tùng, nữ hoàng của các bãi tắm để phục vụ bè lũ thống trị. Lòng căm thù địch đã hun đúc nên khí phách Quảng Trị là lẽ đương nhiên. Sự dữ dội của cuộc chiến tranh chống Mỹ trên mảnh đất này không trừu tượng một chút nào. Nó hiển hiện trên những cánh rừng Trường Sơn mạn Khe Sanh, cây trụi lá hàng loạt, đứng chết khô vì chất độc hóa học. Nó hiển hiện ở những đống vỏ đạn pháo chất cao như gò dưới chân đồi Tà Cơn. Nó hiển hiện ở những chân rừng ở Cùa, tây Hải Lăng, nam Cam Lộ bị máy xúc cày ủi xác xơ. Và Thành cổ Quảng Trị, một Sta-lin-grát thời hiện đại. Một mảnh đất chỉ rộng hơn hai kilômét vuông mà có tới một vạn liệt sĩ nằm xuống, làm nên phẩm giá Quảng Trị, phẩm giá Việt
Trong 81 ngày đêm chiến đấu ở Thành cổ có hàng ngàn đảng viên Cộng sản trẻ tuổi đã ngã xuống, cuộc đời tuy ngắn ngủi nhưng đã loé lên như ánh sao băng làm rạng rỡ bầu trời Tổ quốc.
Trong các trận đánh ác liệt như 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ hoặc 140 ngày đêm bao vây lính thủy đánh bộ Mỹ ở Khe Sanh buộc chúng phải tháo chạy, phẩm chất trung hiếu của người đảng viên Cộng sản biểu lộ rõ nét qua những tố chất của người lính: dạn dày bom đạn, mãnh liệt xung phong..v.v... Còn trong 7500 ngày chống Mỹ, người đảng viên ở Quảng Trị đòi hỏi những phẩm chất cao hơn: bền bỉ gắn bó máu thịt với nhân dân, không hề giao động trước khó khăn gian khổ, xem xét cái sống và cái chết một cách nhẹ nhàng. Đó là phẩm chất cao quý của những đảng viên Cộng sản hoạt động ở vùng địch chiếm đóng ròng rã hai mươi năm liền. Tôi đã được nghe đồng bào và cán bộ Quảng Trị nhắc đến những cái tên đáng kính trọng: Lê Hành, Vũ Soạn, Nguyễn Đức Dũng, Trần Thư... Tôi gọi họ là những con người mang khí phách Quảng Trị.
Tôi có dịp đến thăm nhà bác Nguyễn Đức Dũng ở Đông Hà sau ngày bác nghỉ hưu. Năm 1970, bác là Phó Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Trị. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, bác Dũng là Bí thư Huyện uỷ Do Linh. Sau ngày tập kết, bác ở lại miền
- Không gì bằng sống giữa lòng dân. Chẳng có loại ván nào sánh nổi sự che chở của quần chúng.
Vậy là hầm của Bí thư Huyện uỷ đào ngay trong thôn xóm.
Bác Dũng nói tiếp:
- Suốt hai mươi năm tôi bị Mỹ - nguỵ sục hầm bí mật mười lần. May có nhân dân đùm bọc nên lần nào cũng thoát.
Người dân trung thành với cách mạng dám đem tính mạng và tài sản của mình để bảo vệ Đảng, bảo vệ sự an toàn của cách mạng. Đó là chân lý sáng ngời động viên người cán bộ cách mạng gắn bó máu thịt với nhân dân.
Năm 1957, nhân dịp Mỹ - Diệm tổ chức bầu cử tổng thống ngụy quyền, chúng tung quân đi dò la, lùng sục khắp nơi. Hầm của bác Dũng bị chúng phát hiện. Chúng cho lính xăm hầm. Lần ấy bác Dũng đi công tác vắng, ở cơ quan chỉ có đồng chí Hoàng Thị là chánh văn phòng. Đồng chí Thị đã kịp tiêu huỷ tài liệu trước khi bị bắt. Địch dẫn đồng chí về đồn Mai Xá, tra tấn dã man, nhưng đồng chí không hề khai báo tổ chức cũng như quần chúng cách mạng cơ sở ở địa phương. ở trong trại giam, đồng chí ngâm thơ Tố Hữu và khi bị dẫn ra trường bắn, đồng chí đã hô to: “Hồ Chủ tịch muôn năm! Đả đảo Ngô Đình Diệm!”. Đồng bào đã đắp và chăm sóc chu đáo mộ phần của đồng chí Hoàng Thị. Người dân đi chợ ngang qua thường lén bỏ hoa lên mộ của đồng chí. Sự hy sinh kiên cường cửa đồng chí Thị càng làm cho cơ sở quần chúng tin yêu và quyết tâm bảo vệ cán bộ. Có một dạo, bác Dũng moi hầm bí mật cạnh bờ ao, cửa ra vào mở dưới mặt nước. Bọn địch đi xăm hầm khắp xóm nhưng không thể nào tìm thấy, liền bắt hai em bé đánh đập dã man buộc khai nơi có hầm cán bộ. Hai em bé nghiến răng chịu đau, không hé ra một lời nào. Đến chiều tối, bọn địch rút đi, chính hai em bé này đã ra bờ ao báo tin an toàn cho bác Dũng.
Cán bộ trốn tránh kẻ địch không phải vì tham sống sợ chết mà chính là để lo cho sự nghiệp lớn giải phóng nhân dân. Sau những đợt tố cộng của kẻ thù, nhiều đảng viên vẫn tồn tại. Nhiều cơ sở tích cực chưa bị lộ được kết nạp vào Đảng. Trong huyện Do Linh ở các xã vẫn có cán bộ, đảng viên hoạt động, có cơ sở ăn ở cho cán bộ lãnh đạo.
Năm 1965, một lần bác Dũng cùng hai uỷ viên Thường vụ Huyện uỷ về thôn Đầu, xã Hải An. Đúng lúc, một tiểu đoàn địch kéo về càn quét thôn xóm. Ba người nằm dưới một căn hầm chống pháo, có ván dày đỡ mái. Có tên chỉ điểm đưa tin cho địch nhưng báo địa điểm không chính xác, vì vậy bọn lính ngụy ra sức xăm nhiều nơi nhưng không tìm ra nơi cán bộ ta ẩn náu. Địch đến nhà bà chủ nhà nơi có hầm của bác Dũng. Chúng đem bà ra đánh đập bắt khai báo, bà chỉ một mực kêu oan. ở dưới hầm, ba cán bộ đã đào cát chôn hết tài liệu, sẵn sàng sử dụng ba khẩu súng ngắn và sáu quả lựu đạn để quyết sống chết với địch. Chúng vừa xăm vừa bắn súng xuống những đám đất nghi ngờ nhưng ván dày đã ngăn được làn đạn. Chúng xua chó săn đi lùng nhưng ở dưới hầm đã có hơi xăng và củ ném nên chó cũng bất lực. Bà già kêu to: “Ông Diệm ơi, tui chết oan”. Cuối cùng, lúc trời sẩm tối, cả tiểu đoàn địch rút lui. Bấy giờ bà chủ nhà mới nấu cháo đập trứng gà, gọi ba cán bộ lên nhà. Bà chủ nhà là vợ ông Quốc một cơ sở cách mạng trung kiên.
Sống dưới ách kìm kẹp của Mỹ - Diệm khác nào lâm vào cảnh đêm tối mịt mùng, đồng bào cần sự hướng dẫn của cán bộ để đối phó với địch; cần có người tổ chức hoạt động đấu tranh để đi đến cái đích cao nhất là giải phóng quê hương. Những lúc cuộc sống yên lành của đồng bào bị đe dọa, cán bộ phải lăn xả vào, tìm phương cách có thể giúp sức với nhân dân.
Tại xã Do An, có đồn Gia Bình. Tên đồn trưởng ở đây rất độc ác. Đồng bào căm phẫn yêu cầu cách mạng trừng trị hắn. Vào dịp rằm tháng bảy, đồng bào lo việc cúng tế, cử người lên xin phép đồn trưởng. Tên này không phòng bị đi ra ngoài cổng đồn lập tức bị các chiến sĩ an ninh tiêu diệt. Sau đó, địch phải rút vị trí Gia Bình và cán bộ huyện có thể đi về an toàn. Lần ấy, bác Dũng xuống tận tổ an ninh để chỉ đạo công tác.
Sau khi Tỉnh uỷ có Nghị quyết phá kềm, giải phóng nông thôn, giành quyền làm chủ, bác Dũng dự cuộc họp Huyện uỷ ba ngày ở Triệu Hoà, họp xong nhận đi một trong sáu mũi của huyện Triệu Phong. Bác cùng chín chiến sĩ vũ trang giải phóng thôn Hà Tây xong, kéo sang Triệu Phước. ở trong làng có tên Quán phụ trách an ninh thôn định chạy sang Do Linh ở vùng Cửa Việt. Trong tình thế cấp bách, để bảo vệ phong trào, bác Dũng đã đuổi theo hắn, chĩa súng buộc hắn quay lại. Hắn bị quần chúng trói lại dẫn ra cuộc mít tin được tổ chức ngay đêm ấy. Tên Quán tưởng bị xử tử, lạy như tế sao. Bác Dũng nói chuyện trước cuộc mít tin động viên phong trào đồng khởi của quần chúng, nêu tội lỗi của tên Quán và tuyên bố cảnh cáo hắn. Hắn được tha vì chưa đáng tội chết, nếu tái phạm sẽ bị cách mạng xử. Lượng khoan hồng của cách mạng khiến cho kẻ có lỗi lầm phải ăn năn, hứa cải tà quy chính.
Ngày 4 tháng 7 năm 1964, Thường vụ Tỉnh uỷ quyết định các cấp các ngành và toàn thể cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong tỉnh đảng bộ mở màn đợt phát động quần chúng phá thế kềm kẹp, giành lại nông thôn đồng bằng. Bác Dũng được cử đi tham gia chỉ đạo điểm ở vùng Cùa do đồng chí Lê San, uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ và đồng chí Vũ Soạn phó Bí thư Tỉnh uỷ phụ trách. Phong trào đồng khởi ở Cùa bắt đầu từ hai thôn Mai Lộc, Mai Đàn. Tỉnh có đơn vị vũ trang 55. Bác Dũng đi cùng đồng chí Giác, huyện đội trưởng Cam Lộ. Lực lượng thanh niên được huy động mạnh mẽ; có hàng trăm người tham gia tập luyện quân sự ngoài rừng. Đêm 20-7-1964, cuộc nổi dậy mở màn. Trong một đêm, ta diệt được chiếc xe Jíp chở bọn cán bộ ngụy quyền, bắt hết bọn ác ôn ngoan cố. Các đơn vị đánh vào làng Thượng Nghĩa, một ấp chiến lược có giao thông hào, thu một khẩu cối và một trung liên. Địch huy động gần 500 quân lên phản kích nhưng không vào được ấp, bỏ lại hàng trăm xác chết. Trận đầu tiên, ta giải phóng hai xã gồm 7- 8000 dân.
Sau 15 ngày tham gia cuộc đồng khởi ở Cùa, bác Dũng lại được cử về vùng giáp ranh Triệu Phong, trụ lại ở các làng Kiên Mỹ, Kiên Phước, Hà Xá, Tân Phổ. Bác đi cùng đại đội 60 của tỉnh. Chỉ sau một ngày đơn vị về đồng bằng, địch kéo quân đến đánh Tân Phổ thuộc xã Triệu ái. Tên Dương, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn bảo an đứng trên xe Jíp, hung hăng xua lính đi càn. Đại đội 60 bắn một phát đạn AT, tiêu diệt chiếc xe của hắn. Trận Tân Phổ, bọn lính bảo an bỏ lại 79 xác chết. Đêm ấy, đồng bào mở cuộc mít tin chào mừng trận thắng vang dội đất Triệu Phong. Người người quay mặt về hướng Bắc, hô to: “Hồ Chủ tịch muôn năm!”.
Năm 1965, bác Dũng được cử về làm Bí thư Huyện Triệu Lăng. ở đây công tác phá kềm và việc đi lại có khó khăn. Địch thường dùng trực thăng đổ quân ở vùng giáp ranh, có lần chúng huy động đến năm mươi chiếc. Tổn thất của ta xảy ra hàng ngày, thương vong lên đến con số đáng kể. Nhiều lần xe tăng địch chạy sát căn hầm của bác Dũng. Mở thế làm chủ vùng giáp ranh ở Hải Chánh, Hải Trường, Hải Xuân trở thành vấn đề bức thiết. Huyện uỷ chủ trương, đánh đồn Hải Xuân. Bác Dũng đi cùng đồng chí huyện đội trưởng Tiết và 11 chiến sĩ. Ta chủ trương đánh ban ngày nhằm đúng giờ ăn trưa của binh lính địch. Để chuẩn bị, bác Dũng và đồng chí Tiết vào gia đình một trung sĩ nguỵ quân vận động thuyết phục họ giúp cho nơi ẩn nấp. Người trung sĩ này đang đóng quân tại Dốc Miếu, bản thân chưa làm điều gì hại dân. Gia đình anh ta được phổ biến chính sách của Mặt trận, đồng ý cho đơn vị đến giấu quân một đêm một ngày. Điểm này ở sát nách đồn địch. Trưa hôm sau khi có tín hiệu của cơ sở, đơn vị mở đầu trận đánh bằng một phát cối 60 nã vào đồn địch rồi xung phong luôn. Ta diệt hai tên, bắt sống 20 dân vệ, thu toàn bộ vũ khí. Bọn lính ngụy được tuyên truyền chính sách và tha ngay tại chỗ. Tối hôm đó, một cuộc mít tin lớn được tổ chức. Đơn vị cảm ơn chị vợ người trung sĩ. Lúc đơn vị rút đi, chị còn ủng hộ hai ngàn đồng (giá trị bằng 40 thúng lúa). Về sau, người trung sĩ bỏ ngũ về với gia đình và cách mạng đã thực hiện chính sách với gia đình ấy.
Sau khi bác Dũng được điều ra làm Bí thư huyện Do Linh, thôi công tác ở huyện Hải Lăng, thì ta có chủ trương đánh vào trụ sở ngụy quyền ở Mai Xá. Điểm này nằm ở vùng sâu, phải vượt qua một bãi cát trắng rộng. Bác Dũng đi nghiên cứu hai hôm, bắt liên lạc với cơ sở nội tuyến. Quân số sử dụng trong trận này không đông. Lực lượng hỗ trợ có ba đảng viên nữ vừa làm liên lạc vừa chuyển thông tin. Đúng 12 giờ trưa, bác Dũng ra lệnh tấn công. Sau hai phát cối 60 nã vào trụ sở, quân ta xông vào bắt toàn bộ bọn ngụy quyền cùng bọn dân vệ. Trụ sở ngụy quyền bị xoá sổ, bọn bị bắt được tha tại chỗ không dám trở lại làm việc, cơ sở cách mạng trong lòng địch phát triển, phong trào quần chúng ngày một lên cao.
Mùa xuân năm 1975, để chuẩn bị tham gia chiến dịch Trị-Thiên-Huế, ngày 23-2, Thường vụ Tỉnh uỷ cử bác Nguyễn Đức Dũng, phó Bí thư Tỉnh uỷ trực tiếp làm Bí thư huyện Hải Lăng, trực tiếp chỉ huy cơ quan tiền phương của tỉnh đội Quảng Trị. Lúc 0 giờ ngày 8-3-75, các lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với bộ đội chủ lực của quân khu Trị-Thiên-Huế và quân đoàn 2 đồng loạt tập kích các cao điểm 122,118 và 90, dùng pháo chế áp các cao điểm của địch ở Tây Hải Lăng. Các đội công tác đi sâu vào vùng địch, vừa tấn công địch, vừa phát động quần chúng nổi dậy. Ngày 9-3-75, tiểu đoàn 10 bộ đội đặc công của tỉnh tấn công tiêu diệt chi khu quân sự Mai Lĩnh, diệt hàng trăm tên ác ôn, chặt đứt một mắc xích quan trọng của địch trên tuyến phòng thủ dọc đường I. Đêm 18 rạng ngày 19-3, toàn quân và dân trong tỉnh bất ngờ chuyển hướng tiến công đánh thẳng vào các lực lượng phòng thủ của địch. Ba giờ chiều ngày 19-3, tiểu đoàn biệt động 14 cắm lá cờ chiến thắng lên cột cờ Thành cổ Quảng Trị. Tiểu đoàn 8 cùng du kích Hải Lăng tiến công địch ở dọc sông Nhùng. Sau 12 ngày đêm chiến đấu, các lực lượng vũ trang và chính trị của Quảng Trị được sự hỗ trợ đắc lực của quân khu và của Bộ đã tấn công địch trên cả hai mặt trận: quân sự và chính trị đều khắp cả ba vùng: đồng bằng, giáp ranh và thị xã đã tiêu diệt gọn một chi khu, 9 phân chi khu và 36 đồn bót. Đúng 18 giờ ngày 19-3-1975, Quảng Trị hoàn toàn được giải phóng.
Bác Nguyễn Đức Dũng lại được Tỉnh uỷ Quảng Trị giao nhiệm vụ mới.
L.S.C




