|
C |
hú có thư. Cô nhân viên bưu điện trao cho tôi một chiếc phong bì dán kín. Tôi bóc thư rồi chăm chú đọc. Phong thư đưa thông tin xã giao hỏi thăm sức khỏe, có nhã ý mời tôi về thăm quê ông. Đó là lá thư của ông Đặng Thế Hợi có kèm theo một bài thơ dưới tiêu đề "Một đời thương lắm Trị Thiên". Bài thơ của ông in trên báo Khuyến học số ra gần đây. Đọc thơ ông, tôi cảm thấy thú vị, chỉ có những ai từng sống và chiến đấu ở Quảng Trị - Thừa Thiên, mảnh đất được gọi là "chảo lửa", "túi đựng bom đạn" của Mỹ - ngụy, mà kiên cường bất khuất, anh dũng viết bản anh hùng ca trong cuộc chiến giải phóng miền Nam mới có cảm xúc rạo rực:
"Một miền tuổi trẻ tôi đi/ Nỗi niềm xưa cũng nhiều khi hiện về/ Cái thời rạo rực say mê/ Đường đi lửa cháy lối về đạn giăng/... Cái thời đất vắng màu trăng/ Hỏa châu giăng mắc, tái xanh bầu trời/ Cái thời thương lắm người ơi/ Hầm sâu ấm củ sắn lùi ai trao/ Lưng cơm đồng đội san nhau/ Mắt cay bạc nửa mái đầu... còn cay/... Bạn tôi nằm lại đất này/ Ngàn năm mây trắng... hao gầy... cứ trôi/ Nặng lòng chi rứa người ơi/ Tôi mang thương nhớ, một đời... Trị Thiên".
Qua địa chỉ đề trên phong bì, tôi biết ông Đặng Thế Hợi quê ở xã Xuân Trường - huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, chỉ cách làng tôi độ 10 km. Rồi một sáng tháng 4, hôm đó là một ngày trời đẹp, vạt nắng rực rỡ, bầu trời xanh cao lồng lộng, tôi quyết định phóng "con ngựa sắt" xuôi Xuân Trường tìm gặp ông Hợi. Dọc theo huyện lộ cờ đỏ sao vàng phơi phới trong làn gió biển đầu mùa hạ. Đến đầu xã, hỏi thăm đường quanh quéo một lúc, tôi tới căn nhà ngói ba gian thoáng mát rồi lên tiếng hỏi: "Có ai ở nhà không? Cho tôi hỏi nhà ông Đặng Thế Hợi đi lối nào?". Từ trong nhà, một ông già có mái tóc trắng như cước lật đật ra sân trả lời tôi: "Chào đồng chí. Tôi là Hợi đây. Đồng chí từ đâu tới? " Nói xong, ông vồn vã mời tôi vào nhà. "Hôm trước tôi có nhận được thư và một bài thơ của ông. Trước là đến thăm sức khỏe ông cho phải đạo, sau muốn tìm hiểu xem thời chiến đấu ở Quảng Trị có gì đáng nhớ không?" Tôi nói. Ông Hợi vội thanh minh: "Có gì đâu. Đọc báo tỉnh nhà, thấy đồng chí cùng họ, có người cho biết địa chỉ. Nhân báo Khuyến học in cho tôi một bài thơ về Quảng Trị, tôi viết thư giao lưu ấy mà". Tôi gợi chuyện: "Bài thơ của ông viết rất tình cảm. Nếu không có kỷ niệm "sâu sắc" tôi e không viết nổi". Ông Hợi cười rồi đáp: "Toàn là chuyện đời thường trong chiến đấu cả thôi. Chẳng có gì "sâu sắc" cả". Rồi ông kể cho tôi nghe đoạn đời gắn bó đất thép Trị - Thiên; cái thời trai trẻ, ông gửi lại sông núi Thạch Hãn - Non Mai, sông Hương - núi Ngự. Đối với ông như quê hương thứ hai không thể nào quên mặt đất Trị - Thiên anh hùng.
Tôi sinh năm 1947, quê tôi gần cửa Hội, nơi có dòng sông Lam đổ ra biển đông. Có núi Hồng sừng sững phía nam. Tháng 5 - 1965, tôi đi bộ đội để giải phóng miền Nam. Được tổ chức biên chế vào C4, đoàn 22, lúc đó đơn vị huấn luyện đóng quân ở huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi hoàn thành các khoa mục huấn luyện tổ chức biên chế tôi vào C4 D6 E6 (trung đoàn Phú Xuân) Khu Trị - Thiên; vào chiến trường B4 hồi tháng 9 - 1965. Ngày ấy từ Kỳ Anh chúng tôi đi bộ đội, luồn rừng, lội suối, vượt sông theo đường mòn Hồ Chí Minh vào Quảng Trị chiến đấu. Hành quân trong thời tiết mưa rừng, giá rét, sốt rừng hành hạ, bom đạn giặc ném dọc đường, rất gian khổ. Nhưng mà không một ai kêu ca, không có người đào ngũ. Ngày lại ngày đơn vị tiến về, phía trước luồn sâu về vùng địch kiểm soát. Đồng chí muốn hỏi về đánh đấm à! Tôi không nói khoác đâu. Từ năm 1965 đến năm 1975, mười năm ròng rã tôi lăn lộn khắp chiến trường Trị Thiên khói lửa, thuyên chuyển nhiều đơn vị, tham dự nhiều trận đánh; lớn có, nhỏ có, vùng địch hậu có, vùng giáp ranh cũng có, chọi súng cả ngụy lẫn Mỹ. Đơn vị tôi từng chiến đấu, xương máu đồng đội tôi thấm đẫm từng thớ đất Cù Hoan, Gia Đẳng, Cửa Việt, Thành Cổ, Hải Lăng, Triệu Phong, Triệu Lăng, Đồi Bông, Đồi Nghệ, Nông Truồi, La Vang, Tứ Hạ, Nam Phố hạ, Nam Phố cần, cao điểm 303, Phong Chương, Phong Điền, Phá Tam Giang, cố đô Huế... Những năm tháng ấy, ba lần tôi được tặng danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ" góp chút công sức cho đất Trị - Thiên. Đồng chí hỏi trận nào đáng nhớ ư: Để tôi nhớ lại đã nào. Nhớ ra ông Hợi kể tiếp:
Đó là trận tiểu đoàn chúng tôi chống địch càn quét tại vùng Cù Hoan, Gia Đẳng (Quảng Trị). Cụ thể vào ngày nào thì tôi nhớ không chính xác. Chỉ nhớ hôm đó vào tháng hai (âm lịch) năm 1966, tiểu đoàn tôi đến Cù Hoan, Gia Đẳng ém quân làm lực lượng dự bị cho đợt ra quân đầu mùa khô. Chúng tôi vừa tới thì đụng quân ngụy kéo đến càn quét. Với quy mô lớn. Trong chín ngày đêm liên tục, chúng tôi quần nhau với lực lượng địch đông gấp bội, có máy bay và xe bọc thép hộ trợ. Một ngày địch càn vào Cù Hoan - Gia Đẳng đến chín, mười lần. Nhưng đều bị chúng tôi đánh bật trở lại. Bọn ngụy cố cướp Cù Hoan - Gia Đẳng, còn chúng tôi cố giữ. Đôi bên giành giật nhau từng mô đất, gốc cây, gốc ruộng, trảng cát. Giặc tràn vào trận địa như lớp sóng. Chờ giặc tới độ hai mươi đến ba mươi mét thì chúng tôi nổ súng. Giặc chết như ngã rạ, không tính xuể, chúng rút ra rồi lại mò tới. Chúng tôi lại đánh. Cứ thế, lần lượt chín tiểu đoàn ngụy bị tiểu đoàn 6 làm tổn thất nặng nề. Trận đánh kết thúc, đại đội 4 của tôi quá nửa quân số bị thương vong. Trong đó trung đội cối 82 ly (mà tôi là chiến sĩ) hy sinh hai tiểu đội. Đau thương lắm đồng chí ạ. Nhưng biết làm sao được. Chiến tranh đâu phải là trò đùa.
Thu dọn xong, chúng tôi theo từng tổ, có giao liên dẫn đường rút ra cứ để củng cố, bổ sung quân số chuẩn bị vào trận mới. Rút quân tới Triệu Hải. Khi qua vùng địch kiểm soát có một trung đội ngụy đóng bốt giữ cầu trên đường rút quân của chúng tôi. Cô giao liên đi trước dẫn đường bảo: "Em lên trước xem tình hình địch bố phòng. Các anh bò sau em vài ba trăm mét. Nếu địch phát hiện được, nó sẽ bắn em. Các anh biết, rút qua hướng khác nghen." Cô bò tới bốt địch quan sát một lúc rồi ám hiệu bảo chúng tôi rút qua cầu. Đêm đó chúng tôi vượt qua bốt địch về cứ an toàn. Hôm sau, chưa kịp xả hơi thì đại đội trưởng vỗ vai tôi: "Chân tay cậu còn lành lặn. Tới kho lấy gạo nhé. Anh em vừa đi, nhanh chân lên cho kịp đồng đội." Tôi vội xóc gùi lên vai, quàng chân lên cổ đuổi theo đồng đội. Mấy hôm liền không có hạt cơm nào vào bụng. Cơ thể mệt mỏi, rã rời nên không sao đuổi kịp anh em đi trước. Khi tôi sắp gục bên đường vì đói thì gặp một tốp đàng mình (hai cô gái, một chàng trai). Tôi nhận ra cô giao liên bữa trước đưa đơn vị vượt qua vùng địch kiểm soát. Hình như cô gái Quảng Trị xinh như hoa rừng cũng nhận ra tôi. Chắc biết tôi đang đói lả. Cô bảo họ đi trước rồi đến bên tôi trao cho tôi một nắm cơm độn sắn. Tôi đoán là cơm bữa trưa của cô nên từ chối. Cô bảo tôi: "Em biết anh đang đói lả người. Nếu từ chối nắm cơm này, chắc chắn không đủ sức vượt sông Ba Lòng". Tôi run rẩy đón nắm cơm từ tay em chưa kịp nói lời cảm ơn và hỏi tên em thì nàng lao vút đi. Trước khi em đuổi theo đồng đội, nàng dặn tôi: "Cứ 30 phút, ca - nô địch lại tuần tra. Anh nắm vững quy luật địch hoạt động mà vượt sông Ba Lòng an toàn." Nhờ nắm cơm của em san sẻ, tôi mới đủ sức vượt sông và đuổi kịp đồng đội rồi gùi gạo về.
Sau khi bổ sung đủ quân số tiểu đoàn chúng tôi luồn sâu vào Thừa Thiên chiến đấu trong vùng địch kiểm soát. Trận này tôi còn nhớ chính xác. Hôm mồng 3 tháng 5 (âm lịch) năm 1966, chúng tôi đến Mỹ Phú - Phong Chương ém quân đào công sự chuẩn bị chiến đấu. Đêm ấy nhận lệnh của chỉ huy, chúng tôi rời Mỹ Phú vượt phá Tam Giang ém quân nghi binh. Trong đêm mồng 5 chúng tôi tiến về Quảng Điền, từ Kế Môn - Đại Lược tiến về thôn Quảng Thái ém quân và tổ chức ăn tết Đoan Ngọ. Đêm mồng 6, chúng tôi trở lại Mỹ Phú - Phong Chương, sẵn sàng chờ lính Mỹ đổ bộ mà nổ súng. Khoảng 8 giờ sáng ngày 7/5, giặc đổ bộ xuống Mỹ Phú - Chánh An, lọt vào trận địa phục kích của chúng tôi. Đây là trận đầu tiểu đoàn 6, trung đoàn Phú Xuân ra quân đánh Mỹ. Nhìn những tên lính Mỹ to xác, ngu ngơ trước họng súng AK, B40, B41... thật ngon lành. Chúng tôi nín thở chờ tụi nó vào thật gần mới xiết cò. Loạt điểm xạ ngắn đầu tiên hạ gục hàng chục tên lính Mỹ đi trước. Bọn tiến sao hoảng loạn, ú ớ kêu: "Vi-xi, vi-xi", và bắn loạn xạ. Đội hình bọn Mỹ tan vỡ, bỏ chạy tứ tung. Do chủ động hoàn toàn thế trận, bộ đội ta xung phong chia cắt đội hình của giặc, bám lấy từng tốp lính Mỹ mà nổ súng nên chiến thắng dòn lắm. Trận này tiểu đoàn 6 diệt gọn 420 tên lính Mỹ, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của giặc xâm lược...
Rồi chúng tôi rút quân sang Phú Nông; Trên đường về chiến khu, chúng tôi đi đoạn hậu chẳng may đụng phải pháo bầy địch bắn trả đũa, đã làm một số chiến sĩ bị thương. Tiểu đội tôi rút không kịp nên bị kẹt lại vùng địch kiểm soát. Rồi được nhân dân đùm bọc. Du kích địa phương bảo vệ, đưa xuống hầm bí mật. Sáng hôm sau tụi Mỹ đổ quân xuống càn quét. Tôi, đồng chí Ích quê ở Đức Thọ (sau này anh dũng hy sinh) đồng chí Xích (du kích địa phương) cùng chung một căn hầm bí mật trong nhà vợ lính ngụy. Ngồi trong lòng đất thiếu ánh sáng, ba đứa hội ý xác định tư tưởng rõ ràng. Nếu hầm bị lộ, tất cả sẽ nổ lựu đạn chết chung với bọn Mỹ quyết không đầu hàng lũ cướp nước. Hai ngày càn quét không thu được kết quả, tụy Mỹ rút quân về căn cứ. Đêm ấy chúng tôi tạm biệt đồng bào, đồng chí rút lên Xanh và không quên hẹn ngày trở lại.
Tôi bám trụ trong vùng địch kiểm soát nhiều năm. Chứng kiến địch lùng sục, bắn giết bà con đàng mình. Đêm chúng tôi về chiến đấu tiêu hao sinh lực địch trong sự che chắn, đùm bọc của đồng bào Trị - Thiên. Năm 1971, tôi thuyên chuyển về tiểu đoàn 4. Ngày 19-5, cùng đồng đội tham dự trận đánh cao điểm 303, tôi bị thương và được chuyển về tuyến sau điều trị. Khi vết thương liền miệng, sức khỏe hồi phục tôi trở về đơn vị chiến đấu. Rồi được cấp trên cử ra Khe Sanh học lớp y tá để phục vụ chiến đấu. Học xong tôi được phân công về tỉnh đội Thừa Thiên công tác cho đến ngày 30/4/1975, báo tử chế độ ngụy quyền Sài Gòn, miền Nam hoàn toàn giải phóng, tổ quốc Việt Nam liền một dải. Khi chiến tranh xảy ra, chúng tôi chiến đấu chính nghĩa vì lý tưởng cao đẹp: Đổ xương máu để bảo vệ giang sơn, giành lại đất nước từ tay kẻ thù. Địch là kẻ phi nghĩa, quân cướp nước, cầm súng đánh thuê, vấy máu đồng loại. Chiến tranh xảy ra, cả hai phía đều tổn thất. Nhưng nỗi đau thuộc về chúng ta. Bọn tôi nhiều người đã ngã xuống, nằm lại chiến trường Trị-Thiên. Xương máu đồng đội đổ xuống để đổi cuộc sống thanh bình, đổi tự do và dân chủ. Tôi sống sót đến ngày hôm nay cũng nhờ đồng đội che đỡ mũi tên hòn đạn. Khi kẹt trong vùng địch, giá như đồng chí, đồng bào không bảo vệ, không đưa xuống hầm bí mật thì một tiểu đội thương tích như chúng tôi làm sao đánh bại cả ngàn tên lính Mỹ đang sung sức và trang bị hiện đại. Rồi lần đi lấy gạo, nếu không có cô giao liên san sẻ nắm cơm, có lẽ tôi gục ngã xuống đường rừng vắng vẻ mà chết đói, chết khát bên sông Ba Lòng. Nếu không chết đói thì cũng bị nước cuốn hoặc bị địch bắt. Nhân dân là người làm nên lịch sử. Tôi mắc nợ nhân dân, mắc nợ đồng bào, đồng chí ở Trị - Thiên nhiều vô kể. Món nợ ân tình chẳng biết khi nào mới trả xong...
Tới đây ông Hợi ngồi bất động nom như người mất hồn và nước mắt tự nhiên ứa ra trên gò má. Tôi không hỏi han gì thêm. Chúng tôi ngồi bên nhau như thế độ nửa giờ. Cuối cùng tôi lên tiếng phá tan sự im lặng: "Ông có gặp cô ta lần nào nữa không? Hiện giờ cô giao liên ấy còn hay mất?" Bằng giọng buồn buồn ông Hợi bảo: "Sau lần gặp cô ấy bên sông Ba Lòng, tôi vào Thừa Thiên chiến đấu cho tới khi về tỉnh đội nên chúng tôi không có dịp gặp nhau. Sau này tôi được tỉnh đội cử đi phục vụ Đại hội chiến sĩ thi đua và Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, khi ấy tổ chức vào tháng 12 - 1973 tại Cồn Tiên - Dốc Miếu, tỉnh Quảng Trị. Qua xem tấm ảnh tại Đại hội, tôi nhận biết người con gái san nắm cơm cho tôi bên sông Ba Lòng ngày ấy, là anh hùng liệt sĩ Trần Thị Tâm em đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu."
Giặc ngoài đến. Năm 1979 ông Đặng Thế Hợi thuyên chuyển ra Vị Xuyên (Hà Tây) chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Năm 1987, sau 22 năm chiến đấu và phục vụ chiến đấu với quân hàm thượng úy, đảng viên, thương binh (34% thương tật) ông Đặng Thế Hợi được quân đội cho về nghỉ hưu. Ông trở về xã Xuân Trường, nơi thời trai trẻ ra đi đánh giặc. Người đảng viên ấy tiếp tục lặn lộn trên mặt trận không tiếng súng, đấu tranh chống đói nghèo, lạc hậu và tha hóa biến chất của một thiểu số cán bộ địa phương; tham gia công tác xã hội như trạm trưởng y tế, giáo viên tự nguyện và hội trưởng hội khuyến học... ở cương vị nào cũng được nhân dân tin yêu và nể phục.
Đ.V.T




