Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 18/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Miếu Bà Giàng và trống đá Hưng Nhơn

Hưng Nhơn trong bối cảnh làng xã Quảng Trị.

Từ Quốc lộ 1A theo con đường đất liên xã ven bờ Bắc sông Ô Lâu, hoặc dùng thuyền xuôi dòng sông, vùng đất đầu tiên của xã Hải Hòa mà chúng ta tiếp cận đầu tiên là địa phận làng Hưng Nhơn. So với các xã, Hưng Nhơn có địa thế cao hơn cả, đất đai màu mỡ trở thành một trong những điểm tụ cư dân rất sớm. Diện tích tự nhiên của làng theo số liệu mới đây là 254,2ha, trong đó đất canh tác 187,6ha; đất ở 10ha. Ngoài ra còn có vùng đất được khai phá muộn hơn gọi là phường Hưng Nhơn rộng 15 ha tách biệt với làng chính1.

Theo bản “Thỉ thiên tự” (của vị thủy tổ Bùi Trành, sau được các đời sao chép truyền tụng), các làng tụ cư ven sông Ô Lâu có lịch sử khai lập sớm, trong bối cảnh giao hảo của các cộng đồng bản địa tiền trú2. Làng Hưng Nhơn là một làng ven sông, có lẽ, không nằm ngoài quy luật đó. Vào thế kỷ XVI, khi viết  “Ô Châu cận lục”, Dương Văn An mới chỉ phác họa những nét sơ về Hưng Nhơn, khi ấy đã là một trong 49 xã của huyện Hải Lăng, thuộc tổng An Thơ, với tên gọi Vĩnh Hưng. Khái quát đôi nét về con người, ở mục phong tục tổng luận tác giả viết thêm: “Dân Vĩnh Hưng chuộng văn chương, người đoan trang, hơi quê kệch”3.

 Miếu “Bà Giàng” và trống đá Hưng Nhơn.

Lý giải về văn hóa Chăm trong mối quan hệ với văn hóa Việt, có ý kiến cho rằng: Trong quá trình khai hoang vỡ đất, người Việt hẳn đã rất xa lạ với những loại hình tín ngưỡng của người Chăm để lại, và có thể bằng sự ngẫu nhiên, họ đã khám phá ra những công trình nghệ thuật đa dạng đó. Những địa danh, công trình đó in hằn trong ý nghĩ của người Việt, những tên gọi khác nhau như tháp Hời, tháp Lồi, miếu Lồi, tượng Lồi, rú Cấm, lùm Giàng (Yàng), cồn Giàng, rừng Giàng, gò Giàng, miếu Bà Giàng… người Việt kỵ húy và “kính nhi viễn chi” với bất cứ một dấu tích nào có liên quan đến chữ Hời, Lồi, Chiêm, Chàm, Giàng… Tuy nhiên, người Việt cũng đã có thể ứng xử thích ứng để tiếp thu có chọn lọc những giá trị phù hợp. Thông qua những truyền thuyết từ người dân láng giềng về vị nữ thần Poh Inư Nưgar; đã dạy cho dân trồng lúa, dệt vải, cứu giúp mọi người khi gặp điều khốn khó, điều hòa ấn tượng và dễ đi vào lòng người của những lớp người cùng tồn tại trên loại hình nông nghiệp trồng lúa. Tục thờ Đá, thờ Mẫu nghiễm nhiên được người Việt tiếp thu. Nó đã đi vào đời sống tâm linh, tín ngưỡng, trở thành điểm tựa về văn hóa vật chất, tinh thần của cộng đồng cư dân nông nghiệp4.

 Miếu Bà Giàng cùng tục thờ đá ở làng Hưng Nhơn từ đó cũng là hiện tượng mang tính phổ biến của văn hóa người Việt trên dải đất miền Trung.

Miếu tọa lạc giữa cánh đồng, gần đường ranh giới ruộng đất giữa hai làng An Thơ và Hưng Nhơn, thuộc địa phận xóm Càng, quay mặt theo hướng Tây Nam, với chu vi khoảng 40m, có bốn bức tường đá cao 1,5m bao bọc xung quanh. Người dân nơi đây linh thiêng hóa tất cả những gì liên quan đến khu vực miếu thờ, không một ai dám xâm phạm như chặt cây, đào đất…

Theo truyền khẩu dân gian thì dưới thời các vua Nguyễn, miếu được làm bằng gỗ, trên lợp ngói liệt, bên trong có bài vị bằng gỗ khắc bốn chữ “Dương phu nhân thần vị”. Dòng chữ này hiện nay được viết trên vách xi măng, đằng sau bát hương. Khảo sát hiện trạng cho thấy, miếu dựng trên bệ cao 0.5m, có hai bậc cấp lên xuống, cách bệ 1.8m là bức bình phong cao 1.15m, rộng 1.5m, trước mặt có hồ nước. Hòn đá, tức “Trống đá” theo cách gọi dân gian, được thiết trí giữa bức bình phong và miếu thờ. Nhìn tổng thể, trống đá có dạng trống cơm, thuộc loại sa thạch, nặng trên 80kg, đường kính 40cm, cao 26cm, thân trống có đường gân gờ bao quanh. Lòng đáy sâu 3cm, đường kính 29cm, đường gờ xung quanh dày 4cm. Mặt trống ngay chính giữa có hình thoi, đường kính 10 cm. Trong quá trình di chuyển, một phần ba vành trống đã bị sứt vỡ. Hiện nay, trống đá được đặt ở sân đình tọa lạc ngay đầu cổng làng Hưng Nhơn. 

Tục lệ bưng đá được ruộng.

Đất đai, nguồn tư liệu sản xuất chủ yếu của nông dân, là nguyên nhân chính của hiện tượng tranh chấp về địa giới giữa các làng xã nông nghiệp và Hưng Nhơn là một ví dụ. Theo lời kể của các vị bô lão thì trong quá trình khai hoang lập làng, đã từng xảy ra vụ tranh chấp mốc giới đất ruộng giữa hai làng Hưng Nhơn và An Thơ mà mức độ căng thẳng của sự việc không thể giải quyết nội bộ và phải trình quan huyện. Với cách giải quyết lạ lùng, quan trên chỉ vào trống đá và lệnh rằng: viên đá kia nặng là vậy, nhưng nếu ai bưng nổi và dời đến vị trí nào thì mốc giới xác định tại vị trí đó. Bà lão/con dân trong làng xin bưng trước, mọi người thấp thỏm lo lắng, liệu bà có khả năng bưng nổi không. Nhưng rồi mọi người thở phào nhẹ nhõm, viên đá đã được bưng đi 10 thước thì bà dừng lại, do viên đá vừa to vừa nặng cọ xát vào lưng làm váy bật tung ra. Hoảng quá, bà đành thả đá để chỉnh váy lại, và nơi đó thành mốc giới của địa phận làng Hưng Nhơn. Sau khi mất, để tưởng nhớ công ơn của bà, con dân trong làng lập miếu để phụng thờ tại khu đất đó và trống đá do bà bưng được thờ tại đây. Hàng năm đến ngày mồng 8 tháng 5, dân làng tổ chức lễ cúng tại miếu. Lễ vật tuy đơn giản nhưng đã có sự chuẩn bị chu đáo, làng trích 3 sào từ ruộng công, gọi là “ruộng miếu” để sắm lễ vật lo hương khói, ngày rằm, ngày tết có ông thủ từ đảm trách việc hương đèn, vệ sinh khuôn viên. Lễ tế với sự tham gia của đội ngũ quan viên chức sắc, hội trưởng lão, bà con dân làng. Đoàn người đi bộ hòa cùng tiếng kèn trống náo động cả lộ trình, ngoài ý nghĩa trang trọng, hoành tráng của lễ nghi, còn ngầm thông báo với các làng lân cận biết việc tổ chức cúng bà như một sự khẳng định chủ quyền địa giới của làng.

Nhóm ý kiến khác lại cho rằng: viên đá bà bưng xưa kia, hiện nay dùng làm mốc giới giữa hai làng Mỹ Chánh và Hưng Nhơn, thường gọi “sở mốc đá” để phân biệt vùng ruộng. Còn viên trống đá hiện nay được thờ trong miếu chính là sản phẩm do bà tạo ra, nhằm rèn luyện sức khỏe cho trai làng đủ khả năng chống chọi điều kiện thiên tai khắc nghiệt, dẻo dai trong lao động sản xuất, ngay từ buổi đầu mới định cư trên vùng đất mới.

Một lệ tục đặc biệt ở làng quê.

Nhằm phát huy truyền thống và ghi nhớ công đức của bà, làng qui định “tam niên đáo lệ”, dân đinh muốn vào làng “ăn ruộng” phải trải qua một đợt sát hạch, thử sức đầy cam go bằng cách vượt qua “cửa ải” bưng trống đá. Tục lệ này với ý nghĩa chứng tỏ khả năng đối tượng được chia ruộng phải đảm bảo đủ sức khỏe để đảm đương công việc đồng áng, đồng thời chính thức thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm đối với làng xóm của một thành viên “đinh tráng”.

Cũng nhằm mục đích đó, nhưng tục lệ thành đinh ở làng An Thơ lân cận (Hải Hòa, Hải Lăng, Quảng Trị) lại mang nhiều nét riêng. Cũng vào dịp mồng 3 tết thường niên, trong không khí đón xuân vui vẻ với các trò chơi truyền thống, làng An Thơ tổ chức cho các trai làng đến tuổi thành đinh thử sức: Muốn được “ăn ruộng”, người thanh niên phải nhảy qua dây ở mức cao 1,2m, vác nổi cột cờ của làng, đi không chạm sợi dây căng cao 1,6m.

Vậy là trước khi giao khẩu phần ruộng công cho dân đinh mới, làng An Thơ cũng như làng Hưng Nhơn đã kiểm tra sức khỏe cho trai làng với mục đích khuyến khích và đòi hỏi các thành viên luôn trau dồi, luyện sức - đó cũng là yêu cầu thiết yếu của người làm ruộng. Đối với làng, họ có nghĩa vụ phải xeo sáu tháng, người nào đang đi học thì được giảm ba tháng - đó cũng là hình thức ưu đãi cho kẻ sĩ. Trong những dịp cúng tế tại Đình làng, họ có nghĩa vụ “ứng dịch”: làm heo, làm gà, chuẩn bị bàn ghế… Ngoài ra, cùng tham gia các hoạt động công ích của làng.

Lệ thành đinh ở làng Hưng Nhơn thật đặc biệt và khác với các làng khác, đối tượng tham gia ở nghi lễ này cảm thấy tự hào, tràn đầy hi vọng như được tiếp thêm phần sức mạnh khi chạm vào vật thiêng - trống đá do bà ban phát và đặc biệt là qua đây, họ mới “chính danh” trở thành thành viên thực thụ. Theo lệ cứ ba năm một lần, làng sắm lễ vật, cờ trống, hội họp tại miếu Bà Giàng cầu khẩn được phù hộ, giúp đỡ cho con dân những lúc hoạn nạn, gian khó, bảo vệ ruộng đồng, có sức khỏe để đảm đương vai trò mới: nghĩa vụ với làng, nước.

Quy định chung của các làng quê dưới chế độ phong kiến là dân đinh đến 18 tuổi phải làm lễ ghi tên vào sổ bộ của làng. Tùy theo lệ làng, đó có thể chỉ là mâm cau trầu rượu trình làng hay phải qua cửa ải sát hạch thử sức như trường hợp làng Hưng Nhơn và An Thơ. Qua thực tế khảo sát, nhiều ý kiến của các bậc cao niên cho rằng, lệ thành đinh ở đây được quy định chặt chẽ như vậy là nhằm hạn chế hiện tượng gian lận tuổi tác để sớm được chia ruộng, được hình thành và bổ sung ngày càng chặt chẽ qua các đời Lý trưởng, và có thể có những biến tấu khác nhau. Đôi khi đó chỉ là một trong những hoạt động vui chơi trong các dịp lễ hội tranh tài, nhiều lúc lại trở thành cửa ải thử sức của các lớp công dân mới vào “ăn ruộng” trong tình hình tranh chấp đất đai ngày càng gay gắt. Lệ được áp dụng không theo sự cứng nhắc nào, có trường hợp đến tuổi “ăn ruộng”, mà không đủ sức bưng viên trống đá vẫn được chia khẩu phần, nhưng chịu thiệt thòi là chấp nhận phần ruộng xấu. Ngược lại, những người vượt qua cửa ải này nhận được ruộng trước và là lực lượng dự bị trong đội tuần đinh của làng. Đối tượng đạt kết quả xuất sắc sẽ được thưởng, phần thưởng tuy nhỏ (một ít tiền) nhưng là sự động viên và là niềm vinh dự lớn lao trước làng.

Cũng như bao làng quê khác, đối tượng tham gia lệ thành đinh ở Hưng Nhơn chỉ là công dân nam. Ở đây, có sự ưu tiên đối với “kẻ sĩ” - những người có học vấn trong Hội Tư văn. Đặc biệt, lệ làng quy định đối với những người có bằng cử nhân, đến kỳ phân cấp ruộng đất thì chỉ việc mang bằng đến trình Lý trưởng sẽ được nhận phần ruộng tốt. Chính đội ngũ này được miễn giảm nghĩa vụ đối với làng, như công phu trong các dịp lễ làng…

Như vậy, xuất phát từ một thực tế xã hội mang tính chất phổ biến trên phạm vi vùng miền, lệ thành đinh trước hết nhằm giải quyết trực tiếp vấn đề tranh kiện về ruộng đất và đặc biệt, qua thời gian, những lệ định được bổ sung ngày càng chặt chẽ, trở thành một lễ hội truyền thống đặc sắc của làng.

Miếu Bà Giàng cùng viên trống đá đến nay vẫn còn tồn tại và là một phần đặc biệt quan trọng trong hoạt động tín ngưỡng lễ nghi của cộng đồng làng xã. Để tiếp tục phát huy truyền thống đó, tục lệ bưng trống đá được tổ chức như một dịp hội làng, như trong đợt Hưng Nhơn được công nhận Làng Văn hóa năm 2005. Thậm chí, nét đẹp văn hóa độc đáo đó đã mở rộng ảnh hưởng lên đến cấp huyện, nhân kỷ niệm năm giải phóng huyện Hải Lăng, và các lễ hội khác…

Người dân Hưng Nhơn cho đến nay, vẫn tiếp tục phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” một cách thiết thực, thế hệ con cháu hậu sanh vẫn thuộc lòng những câu chuyện kể, sự tích trống Đá cùng miếu Bà Giàng (Miếu bà Đại Càn). Trống Đá vẫn đang được cất giữ tại đình làng, thiết nghĩ nên trả về vị trí vốn dĩ của nó (miếu Bà Giàng), nhằm tôn vinh nét đẹp văn hóa một làng quê miền Trung, tăng thêm tính thiêng trong sinh hoạt lễ nghi đặc biệt này.

N.V.T

 

 

 

_________________

Tài liệu tham khảo:

1. Theo tài liệu thống kê năm 1985, Lịch sử Đảng bộ xã Hải Hòa (1946 - 1986).

2. Nguyễn Hữu Thông (1996), “Bức tranh dân cư vùng Thuận Hóa đầu thế kỷ XV qua văn bản Thỉ Thiên Tự”, Tạp chí Thông tin Khoa học & Công nghệ Thừa Thiên Huế, số 04.

3. Vô Danh Thị (2001), Ô Châu cận lục, Dương Văn An nhuận sắc tập thành, Trần Đại Vinh, Hoàng Văn Phúc hiệu đính, dịch chú, Huế: Nxb. Thuận Hóa.

4. Nguyễn Hữu Thông Cb (2001), Tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền Trung Việt Nam, Huế: Nxb. Thuận Hóa.

- Jean Chevalier - Alain Gheerbrant (1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb. Đà Nẵng.

- Nguyễn Việt Hùng (2004), “Tục thờ đá trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam”, Tạp chí Văn nghệ Dân gian, số 1.

- Quốc Sứ Quán Triều Nguyễn (1997), Đại Nam thống nhất chí, Tập 1, Huế: Nxb. Thuận Hóa.

 

 

 

NGUYỄN VĂN THANH
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 265

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

19/04

25° - 27°

Mưa

20/04

24° - 26°

Mưa

21/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground