Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 16/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Một mình giết tên Pát- xte- u

Được biết anh Nguyễn Văn Chính, sinh ở Hải Thọ, huyện Hải Lăng, hoạt động ở chiến trường Quảng Trị  từ tháng 6 năm 1945, tôi tìm đến thăm. Con người đã kinh qua hai cuộc chiến tranh, nhiều phen làm cho quân thù kinh hồn bạt vía, nay trở lại sống đời thường, với nhiều thương tích cùng chiếc nạng gỗ lè kè, lại hiền hòa, bình dị đến thế. Vẫn gọn gàng trong bộ quân phục bạc màu, giọng nói chắc nịch, anh kể về những trận đánh, rành rẻ như nó vừa mới xảy ra:

Cách mạng tháng Tám thành công chưa bao lâu thì thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta. Ngày 16.2.1947 chúng nổ súng đánh chiếm Quảng Trị . Quân dân Quảng Trị quyết tâm chống trả, gây cho giặc nhiều thiệt hại đáng kể nhưng bọn chúng có ưu thế về phương tiện chiến tranh, có vũ khí hiện đại, quân đội thiện chiến...nên đã chiếm được hầu hết vùng đồng bằng và đô thị. Nhằm ổn định tình hình, chúng thiết lập một hệ thống đồn bốt vững chắc, liên hoàn. Chúng tập hợp những tên hèn nhát, đầu hàng, những kẻ bất mãn với chế độ mới, lập ra chính quyền bù nhìn, lính ngụy quân, an ninh, mật thám, hương binh, hương vệ...cắm sâu trong thôn xóm, hòng chống phá cách mạng, tiêu diệt lực lượng kháng chiến. Chúng tổ chức liên tiếp những cuộc càn quét, khủng bố với khẩu hiệu "Đốt sạch, cướp sạch, giết sạch". Không chỉ ở đồng bằng mà nó còn hành quân lên vùng chiến khu, lùng sục tàn sát dân lành rất dã man..."Hải Lăng mồ chôn thôn xóm, cát trắng, ven làng máu hoen...Chi Lăng đồng quê tan tác...Đường vắng phơi núi xương, nhà thiêu nền trơ đất, cây héo nhìn ngơ ngác xác đưa..." (1), đâu đâu cũng ngập chìm trong khói lửa, đau thương, chết chóc...

Không thể để cho  giặc dày xéo quê hương, quân dân Bình Trị Thiên quyết tâm trừng trị chúng, bảo vệ xóm làng. Ta chủ trương phối hợp các lực lượng chống càn quét, khủng bố, diệt tề, trừ gian, đẩy mạnh phong trào kháng chiến.

Lúc bây giờ có tên quan hai, đồn trưởng đồn Bến Đá Pat-xtê-u nổi tiếng gian ác. Y chém giết , bắt bớ, khảo tra không biết bao nhiêu người. Rất nhiều đầu lâu của cán bộ, nhân dân bị y chặt, cắm vào cọc tre, đem biêu khắp đường, khắp chợ. Cần trừng trị tên thực dân khát máu ấy. Bộ đội phục kích đón đường không được, tấn công vào đồn chẳng đem lại kết quả mà còn bị thương vong, cấp trên mới giao nhiệm vụ này cho đội đặc nhiệm, Ban 2 của ty Công an Quảng Trị .

Đội đặc nhiệm gồm có tôi, đồng chí Lãm, đồng chí Ngọc, đồng chí Kiểm, đồng chí Lanh, đồng chí Mai...Cả sáu anh em đều rất phấn khởi nhận nhiệm vụ mặc dù biết rằng đây là công việc cực kỳ khó khăn. Bởi vì, đến lúc này địch đã chiếm đóng khá lâu, hầu như đã đẩy lực lượng Việt Minh vào rừng. Tất cả các làng ở đồng bằng đều có hàng rào tre khá vững chắc, mỗi làng chỉ có hai cửa ra vào. Dân chúng chỉ được ra khỏi làng ban ngày. Các cổng làng đều có hương binh, hương vệ canh gác suốt ngày đêm rất nghiêm ngặt. Đội Bảo An tập trung ở một địa điểm trong làng,  giữ trống lệnh. Buổi sáng, nghe trống, các cổng làng mới mở cho dân đi làm. Chiều, đúng sáu giờ nghe trống là các cổng phải đóng lại. Ban đêm cứ sau một tiếng đồng hồ, trống lệnh điểm ba tiếng, thì các điểm canh phải gõ ba tiếng mõ trả lời. Ai ngủ quên không gõ mõ là hương vệ đến kiểm tra, người gác ắt bị phạt nặng. Làm như vậy địch vẫn chưa an tâm. Chúng cho gài những quả mìn ở phía ngoài cửa, có Việt Minh về là giật nổ và súng đồn sẽ bắn về phía đó. Cách bố phòng ấy, chúng đã gây cho ta không ít khó khăn. Ta thì hoạt động ban đêm, mà ban đêm thì ở các làng đều bị vây trong hàng rào, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Hoạt động ban ngày thì rõ ràng là khó khăn hơn. Các điểm canh thấy người lạ mặt là nổi mõ báo động, lập tức hương binh ập đến bắt giao cho đồn. Với phương châm: "thà giết nhầm hơn để sót" rất tàn bạo, chúng đã giết bừa, không kể đàn ông, đàn bà, người già hay trẻ nhỏ.

Sau khi theo dõi, điều tra tình hình, tôi nghĩ đến phương án mạng đổi mạng, phải "quyết tử" mới trừng trị được tên thực dân khát máu, hết sức hung bạo này mà với phương án này thì chỉ cần một người, điều quan trọng là làm thế nào để tiếp cận được mục tiêu, đừng để địch bắt hoặc bắn chết khi chưa kịp hành động. Kế hoạch đột kích ban ngày sẵn sàng lấy mạng đổi mạng của tôi được đồng tình và cấp trên cho phép. Tôi rất phấn khởi được cơ quan Công an tin tưởng giao nhiệm vụ trực tiếp thi hành. Tôi coi đây là điều vinh dự của người đảng viên Cộng sản.

Tháng 10 năm 1948, thời tiết đã chuyển sang đông. Đồn Bến Đá nằm trên đất Hải Trường, huyện Hải Lăng là cứ điểm có công sự kiên cố, hàng rào vững chắc, canh phòng cẩn mật khó mà lọt vào, phải lừa lúc con thú ra khỏi hang. Cách đồn khoảng 200 mét, có một cái chợ. Ngày ngày bọn lính từ cổng đồn đi qua chiếc cầu đúc vào chợ kiểm soát, không để ai mua quá 1 kg muối và 3 kg gạo. Ai mua quá số lượng ấy là bị ghép tội "tiếp tế cho Việt Minh", bắt ngay về đồn. Chúng theo dõi gắt gao những ai có bạc Cụ Hồ, coi đó là mối đe dọa nguy hiểm nhất. Đồn trưởng Pat-xtê-u cũng qua chợ, mục đích là để chọc ghẹo con gái. Y đang thèm muốn cô bán hàng tạp hóa rất xinh đẹp ở dưới gốc cây ngô đồng. Thế nhưng vốn là một tên mật thám cáo già, nên y rất thận trọng, cho tiểu đội lính sang trước tìm tòi, sục sạo, nhìn mặt người trong chợ...Không có gì đáng nghi ngờ, bắn lên trời một phát súng, y mới sang. Mà y sang cũng không theo quy luật nào, lúc sớm, lúc trưa, qua cầu đã có hai bốt gác ở hai phía, vào chợ đã có hai bốt gác ở hai cửa bảo vệ.

Thế nhưng vỏ quýt dày, có  móng tay nhọn. Y không thể ngờ được rằng, ở trong sự kìm kẹp giữa vòng vây ấy, người dân vẫn hướng về Cụ Hồ. Nhờ có đường dây bí mật tôi liên lạc được với chị Lớn, nhà ở cách đồn không xa. Sáng ấy, trời mưa lất phất, gió bấc thổi hun hút, người đi ra đường phải mặc áo tơi, nón lá và phải luôn xoay tơi nón về phía gió. Thật là một dịp may hiếm có. Với vóc người nhỏ nhắn tôi dễ dàng cải trang thành cô gái quê bằng bộ quần áo bà ba đen, bạc màu, cái khăn vuông màu gụ trùm lên đầu và che gần hết mặt. Bộ tóc giả bỏ qua vai xõa về trước ngực rất tự nhiên làm cho người quen cũng khó nhận ra. Thủ trong người khẩu súng lục ru-lô, lắp đủ sáu viên đạn được chọn kỹ và lau chùi cẩn thận, quả lựa đạn mõ vịt, cùng cây dao găm mài rất sắc sẵn sàng hành động. Thú thật lúc ấy tôi rất nóng ruột và cũng run, một phần vì rét, một phần vì lo lắng, sợ trận đánh không thành. Dù sao thì đây cũng là lần đầu đối mặt với một tên thực dân khỏe mạnh, võ nghệ cao cường, tin ranh xảo quyệt, lại có một tốp lính bảo vệ và chỉ có cách đồn có vài trăm mét.

Đang mơ mơ màng màng tưởng tượng ra cảnh một mình giữa bầy sói, làm sao để Pat-xtê-u đền tội và quả lựa đạn sẽ nổ khi bọn địch xúm lại bắt tôi, chúng nó phải cùng chết với tôi. Bỗng nghe tiếng nổ, đoàng!.

Phát súng báo yên của bọn lính ở phía chợ đã nổ. Các cơ bắp trên mình tôi giật liên hồi. Máu trong tim chảy đến đâu nghe nóng đến đó...đã đến giờ hành động. Lòng căm thù, sự hờn oán sẽ bay ra đầu ngọn súng. Người dân hả hê, các liệt sĩ ngậm cười, đồng đội hát vang bài ca chiến thắng... Vinh quang biết bao...Nhưng đợi mãi vẫn không bắt được tín hiệu. Một giờ...hai giờ...ba giờ...lặng lẽ trôi qua. Chợ vãn người, tôi càng trông càng mất, quá trưa mới hay tin: Sáng nay Pat-xtê-u không qua chợ. Bọn lính bắt đi một  bà già, vì mà lỡ mồm nói ra câu: "Bạc Đông Dương kẻ thương người ghét, bạc Cụ Hồ kẻ nhét người thu...". Thế là kế hoạch chưa thành. Nỗi hồi hộp lo âu càng nhiều thêm. Mong sao trận gió mùa cứ kéo dài cho đến khi tôi hoàn thành nhiệm vụ.

Sáng ngày hôm sau, chúng tôi lại tiến hành như kế hoạch. Có lẽ ông trời cũng oán giận lũ sài lang nên rét đậm hơn, gió mùa đông bắc đổ về ác liệt hơn. Không gian xám xịt, trông rất nặng nề. Buổi sớm mưa còn rơi nặng hạt, đến lúc chợ gần đông thì tạnh hẳn. Nấp ở điểm hẹn, tôi nghe tiếng súng báo yên của bọn lính tuần;  rồi có tiếng gọi vịt hai tiếng ngắn, ba tiếng dài. Nhận ra tín hiệu tôi đến chỗ chị Lớn đã chuẩn bị sẵn, đặt gánh củi khô lên vai đi ra chỗ đường cái.

Mặc dù đã hóa trang, để cả tơi nón mà gánh, song khi nhập vào tốp người đi chợ vẫn bị lộ. Một chị ở Diên Sanh đã nhận ra. Chị ta đi nhanh lên trước để tôi chen vào giữa, đằng sau còn có hai o thôn nữ không quen. Đến bốt đầu cầu thì bị thằng lính gác, tay lăm le khẩu súng trường mát, lưỡi lê sáng quắc, chặn lại...Tôi  cứ  để gánh củi trên vai. Nó hất cái nón lên nhìn mặt, nhìn người, mím môi có ý chê con gái gì mà xấu xí, khô đét...rõ chán!. Nó hau háu nhìn sang o đi sau, o này hấp dẫn hơn. Thân hình nở nang, má lúm đồng tiền, lại còn vui vẻ nở "nụ cười duyên" với anh lính quốc gia.

Lọt qua bốt gác đã thắng lợi một nửa, tôi đặt gánh củi xuống chỗ quy định, liếc mắt nhìn quanh và dễ dàng phát hiện ra thằng Tây mặc áo quần sĩ quan, cao tồng ngồng ở phía cây ngô đồng, bên hàng tạp hóa. Pat-xtê-u rất có dáng chỉ huy. Thân hình cao to, cái mũi đỏ lừ, bộ râu rậm, cắt ngắn chạy vòng từ tai này, xuống cằm, lên tai bên kia làm cho cái mặt bự ra trong rất ngộ. Không rõ khẩu súng lục kiểu gì mà nó để trong cái bao da láng bóng, đeo lè kè bên hông. Vai nó mang loong đại úy, trước ngực có cái mề đay. Bên cạnh y là thằng cai người Việt làm thông ngôn và một thằng lính hộ vệ, còn lính tuần thì gác hai cửa chợ và lảng vảng xung quanh để bắt ai mua nhiều gạo, muối.

Bên người đẹp, Pat-xtê-u làm ra vẻ lịch sự. Y nói một câu dài bằng tiếng Pháp.

Tên thông ngôn dịch ra tiếng Việt, giọng cớt nhã bông đùa:

- Quan lớn bảo: Cô em cất giữ bạc Cụ Hồ!

Cô gái bán hàng giảy nảy:

- Ấy chết! Quan lớn đừng đùa. Em làm gì có bạc Cụ Hồ.

- Được rồi. Có hay không chưa biết. Quan lớn mời cô lên đồn chơi. Không có bạc Cụ Hồ thì có việc khác...

Thời cơ đã tới. Bọn chúng say sưa chọc ghẹo con gái chắc là sơ hở chuyện đề phòng. Tôi đến quán bán thuốc lá liền kề, với quán cô gái bán hàng xén, mua thuốc. Lúc này, tôi ngồi ngay trước mặt Pat-xtê-u cách chừng ba mét. Người bán hàng đưa thuốc cho tôi, tôi giả nhét vào chỗ giấu  khẩu ru-lô, rút ngay súng ra, hướng thẳng vào ngực nó nổ luôn hai phát. Pat-xtê-u ngã nhào tại chỗ, rống lên như bò bị chọc tiết.

Bị đánh bất ngờ, bọn lính không kịp phát hiện ra ai đã ám sát tên đồn trưởng, vẫn nổ súng thị uy, làm cho mọi người hoảng hốt, chạy toán loạn. Dòng người tuôn ra hai cổng, lính gác không tài nào ngăn lại được lơi dụng lúc lộn xộn, tôi nhập vào với họ, ngang qua bốt tôi ném luôn quả lựu đạn vào đó. Lựu đạn nổ, gây thêm thương vong cho địch. Lính trong đồn sợ Việt Minh tấn công vội vang đóng cửa đồn lại. Khẩu 12 ly 7 cài trên cao cứ bắn bừa ra ngoài, mãi đến 30 phút sau chúng mới hoàn hồn. Lính ở chợ về thấy cổng đồn đóng thì văng tục, chửi bới om sòm. Tưởng là mạng đổi mạng, không hay địch chết mà tôi chẳng sầy da. Thắng lợi thật vẻ vang, thật là đẹp.

Tin quan hai Pat-xtê-u bị Việt Minh trừng trị ban ngày, ngay trước mắt đồn Bến Đá loang ra khắp tỉnh. Như thế có nghĩa là trong vùng địch chiếm không còn có chỗ nào an toàn tuyệt đối với chúng cả. Người ta đồn đại ầm lên: Việt Minh có tài xuất quỹ nhập thần, có phép tàng hình. Xe tăng đại bác cũng không làm gì được. Chúng bắt đầu hoang mang.

Để ngăn chặn ảnh hưởng của Việt Minh, địch tăng cường đàn áp, tung gián điệp đi dò la, triệt phá các cơ sở. Bọn chúng biết đích xác người dám đột kích vào chợ giết Pat-xtê-u giữa ban ngày là Nguyễn Văn Chính - biệt danh là Chính Gà - con ông Nguyễn Văn Lữ, hoạt động cách mạng ở Quảng Trị từ năm 1936-1937. Nguyễn Văn Lữ bị mật thám Phan Bách bắt cùng với mấy người trong chi bộ và đã hy sinh. Chính Gà là quân của đội Tự vệ đỏ, thành lập tháng 6 năm 1945. Ngày 23 tháng 8 năm 1945, Quảng Trị vùng lên cướp chính quyền. Phan Bách bị nhân dân đưa ra xử tội. Chính Gà đã trực tiếp thi hành án tử hình Phan Bách ở pháp trường Diên Sanh. Hiện Chính Gà làm đội trưởng đội công an Đặc nhiệm Ban 2 của Ty Công an Quảng Trị. Ảnh của Chính Gà đã có trong hồ sơ của Ty An ninh...

Thế là địch tìm mọi cách để diệt Chính Gà. Khắp nơi đều dán ảnh của Chính Gà kèm dòng chữ: "...tên Việt Minh vô cùng lợi hại ai bắt nộp cho quốc gia, được thưởng 10.000đ. Ai nộp thủ cấp thưởng 5.000đ...". Nói đến đây anh dừng lại nghỉ. Tôi tưởng tuổi đã cho nói liền một mạch nên mệt, song không phải thế, anh đang sống lại với quá khứ. Chiêu một ngụm nước, anh bảo:

- Không ngờ cái đầu của tôi có giá đến như vậy. Thật là may bởi giá trị của phần thưởng quá lớn, nên sau này mấy lần sập bẫy, tôi mới thoát chết, còn sống cho đến bây giờ.

- Sập bẫy thế nào? - Tôi hỏi? - Có phải anh bị cưa chân đến gần hết bắp vế vì sập bẫy không?

- Không phải. Chuyện ấy còn dài. Thôi, hẹn anh lần khác vậy.

                                                                                           Tháng 9 năm 2002

                                                                                                       B.Đ.S

Bùi Đình Sơn
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 99 tháng 12/2002

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

17/04

25° - 27°

Mưa

18/04

24° - 26°

Mưa

19/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground