|
Đ |
ầu xuân 1967, trên báo quân đội nhân dân bài bình luận quân sự “Một thắng hai mươi”. Buổi phát thanh quân đội nhân dân của đài tiếng nói Việt
Chuyện là: Để chuẩn bị cho cuộc tấn công căn cứ của quân đội Mỹ Ngụy trên chiến trường Quảng Trị, quân và dân ta đã bí mật vận chuyển đạn pháo binh và các loại tên lửa vác vai A12, H12… tập kết tại một quả đồi đầy sim, mua thuộc địa phận làng Chánh, xã Tân Kim, huyện Cam Lộ (Quảng Trị). Bản đồ quân sự bao giờ cũng tỉ mỉ cụ thể, nhưng trên bản đồ, chỉ có ký hiệu, không có tên địa danh. Dưới chân đồi có dòng suối mang tên
Để bảo vệ kho vũ khí đạn dược đã “lót ổ”, đơn vị cử một tiểu đội, toàn lính pháo được trang bị vũ khí bộ binh do trung đội phó Bùi Ngọc Đủ làm tiểu đội trưởng.
Ngay sau khi tới đồi Không Tên, toàn tiểu đội đã triển khai đào hào giao thông và làm công sự vững chắc để sẵn sàng chiến đấu khi có tình huống xảy ra. Tiểu đội chỉ có mười chiến sỹ, trong đó có 3 đảng viên gồm: Bùi Ngọc Đủ, Lương Văn Tòng và Đặng Hạng, được quyết định thành lập một tổ Đảng để lãnh đạo tiểu đội hoàn thành nhiệm vụ.
Phương án tác chiến giả định tình huống một, hai, ba… đều được tổ đảng và tiểu đội trao đổi, bàn bạc thấu lý đạt tình, kể cả tình huống xấu nhất cũng không để lọt vũ khí vào tay địch.
Mọt buổi sáng mùa Đông, bầu trời miền Tây Quảng Trị sương mù đầy đặc, một chiến sỹ trinh sát tiền tiêu phát hiện địch xuất hiện ở hướng Đông Nam, Tiểu đội trưởng Bùi Ngọc Đủ hạ lệnh sẵn sàng chiến đấu, thực hiện phương án một: đánh gần để vô hiệu hóa hỏa lực phi pháo của địch. Chờ cho địch lọt vào bãi mìn của ta dày đặc mới cho nổ mìn. Sau khi mìn nổ những tên sống sót ta mới dùng súng bắn thẳng để tiêu diệt.
Trận đánh đầu tiên đã hạ gục gần trăm tên chết và bị thương. Sau khi bị thất bại trận đầu, địch cũng cố lại lực lượng, chia thành nhiều mũi tiến công.
Bộ đội ta tuy lực lượng mỏng, nhưng có lợi thế ở trên cao, lại có công sự vững chắc nên đã tiêu diệt gọn nhiều đợt tấn công của địch.
Trời đã về chiều, mặt trời đã khuất, sương mù mỗi lúc càng dày đặc; bọn lính “công tử” Mỹ vốn ngại khó khăn gian khổ lại ngại đánh đêm – đúng hơn là chưa có kinh nghiệm chiến đấu ban đêm ở vùng rừng núi nên vội vã rút quân bỏ lại gần 200 xác chết. Bình quân mỗi chiến sỹ diệt được 20 tên Mỹ. Tiểu đội trưởng Bùi Ngọc Đủ tiêu diệt 48 tên.
Ngay đêm hôm đó (28/12/1966) tổ phái viên của mặt trận B5 đã có mặt ở đồi Không Tên kiểm tra hiệu quả chiến đấu. Cùng đi với tổ phái viên mặt trận B5 có hai nhạc sỹ Huy Thục và Lê Lan. Có lẽ đây là trận đầu đánh Mỹ, hai nhạc sỹ được tận mắt nhìn thấy xác giặc Mỹ bề bộn nơi chiến trường.
Chỉ ba ngày sau, ngày 01-01-1967 Bộ Tư Lệnh B5 đã quyết định tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú” cho mười chiến sĩ (trong đó có hai liệt sĩ Nguyễn Nhân Nhe và Nguyễn Văn Chính).
٭ ٭ ٭
Xúc cảm trước chiến công vang dội của tiểu đội Bùi Ngọc Đủ, nhạc sỹ Huy Thục đã sáng tác nhạc phẩm “Ơi dòng suối La La”.
“Ơi dòng suối La La, ơi dòng suối La La. Nước trong xanh hiền hòa. Chảy quanh đồi Không Tên. Nay đã mang tên Tiểu đội Bùi Ngọc Đủ. Mười dũng sĩ diệt Mỹ. Ai qua suối La La. Mời dừng chân bên đồi mà xem bao lũ giặc. Lính thủy đánh bộ Mỹ. Nó kéo nhau lên rừng. Xác chết nằm ngổn ngang trên ngọn đồi Không Tên…”
Những ai, những ai đã hơn một lần nghe bình luận “Một thắng hai mươi” và nghe nhạc phẩm “ Ơi dòng suối La La” của nhạc sĩ Huy Thục hẳn không thể quên chiến công lẫy lừng của tiểu đội Bùi Ngọc Đủ trên ngọn Đồi Không Tên.
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng chiến tích trên từng mảnh đất còn đó. Nó đã đường bệ bước vào trang sử hào hùng của cả dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập – tự do của đất nước.
Một hôm đọc báo Đại đoàn kết, Huy Thục tình cờ thấy bài ”Gặp người dũng sĩ của con suối La La”. Anh say sưa đọc một mạch rồi hứng khởi nói với vợ: “Mình ơi, dũng sĩ Bùi Ngọc Đủ còn sống. Hiện nay anh là dũng sĩ trên mặt trận nông nghiệp ở Tây Nguyên…”
Chị Thúy Nga vợ anh (giáo viên piano Trường nghệ thuật quân đội) mỉm cười và bảo: “Xem ra cái máu nhà binh của anh còn sôi nổi lắm. Sinh ra được hai cậu con trai, anh lại đặt tên con là Chiến và Trường… có phải Bùi Ngọc Đủ trong “Ơi, dòng suối La La” của anh?
“Đúng thế, hơn 50 năm đội mũ đeo sao làm lính cụ Hồ. Vốn liếng kiến thức chủ yếu là quân đội, cả nhà ta đều là bộ đội “Ăn vây nào, rào cây đó” chứ. Có lẽ anh phải vào Tây Nguyên một chuyến để thăm Bùi Ngọc Đủ…”
Từ ước mơ đã thành hiện thực. Trong chuyến công tác vào Tây Nguyên, Huy Thục đã lần mò bằng được đến quê hương của Bùi Ngọc Đủ ở xã Kon Tầng, huyện Mang Yang thuộc tỉnh Gia Lai, cách thị xã Pleiku (tỉnh lỵ tỉnh Gia Lai) gần 50 km.
Đã hơn 30 năm Nhạc sĩ và Dũng sĩ (nhân chứng lịch sử trên Đồi Không Tên bên dòng suối La La) mới có dịp gặp nhau. Huy Thục cùng Bùi Ngọc Đủ ôm chầm lấy nhau xúc động nước mắt tràn mi.
- Em mãi mãi nhớ đến anh - Bùi Ngọc Đủ tâm sự - trong buổi gặp gỡ ở Đồi Không Tên trên chiến trường Quảng Trị. Sau buổi gặp gỡ ấy không lâu, em và những đồng đội của em đều được nghe bài “Ơi dòng suối La La” của anh qua đài tiếng nói Việt Nam. Chính nhờ bài hát của anh mà từ ngày em được biệt phái về xây dựng phong trào ở xã Kon Tầng, bà con người dân tộc ở đây đều gọi em là ông “Dòng suối La La”. Đến khi xây dựng gia đình có vợ có con, em lại kể chuyện lại cho vợ, con nghe về anh tác giả bài hát “Dòng suối La La”. Có thể anh không biết từ buổi gặp nhau đến nay em sống chết ra sao. Còn em thỉnh thoảng vẫn nhận ra anh trong các buổi giao lưu văn nghệ trên màn ảnh nhỏ của Đài truyền hình Việt
- Đủ này - Huy Thục thân mật hỏi han - sau trận chiến ở Đồi Không Tên, cậu đi những đâu kể cho mình nghe nào?
- Sau trận chiến đấu ấy được mấy tháng, thủ trưởng đơn vị cử em ra Bắc học trường đào tạo sĩ quan chỉ huy pháo binh. Tốt nghiệp ra trường, em lại trở về đơn vị tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Kết thúc chiến dịch em được đề bạt Tiểu đoàn phó rồi tiếp tục chiến đấu cho đến khi miền
Năm 1978, Đảng ta có chủ trương tăng cường cán bộ để xây dựng cấp huyện ở Tây Nguyên (vẫn hưởng lương cấp bậc trong quân đội), em xung phong tình nguyện đi cơ sỡ. Về tỉnh Gia Lai, em lại được tỉnh phân công xuống huyện Mang Yang làm cán bộ nông nghiệp huyện. Sau một thời gian ở huyện, lại được huyện phân công xuống làm bí thư Đảng ủy các xã Ayun, K’Tang rồi Kon Tầng.
Mấy đồng chí cán bộ xã thấy Bùi Ngọc Đủ có khách từ Hà Nội vào thăm cũng đến chung vui. Một anh mau miệng bảo: “Đủ nó giỏi lắm, mới về đây một thời gian mà nó đã nói tiếng Ba-Na. Nó còn chỉ hu dân quân đi vào rừng tìm gặp khuyên răn Phun-Rô (FULRO) trở về với gia đình, làm ăn sinh sống với buôn làng. Nó làm buôn rẫy giỏi lắm. Nó còn dạy bà con Ba-na mình cách trồng cây, cách trồng lúa nước…
Chuyện trò đang sôi nổi, một phụ nữ vác cuốc vào sân cất tiếng “Em chào các bác”. Bùi Ngọc Đủ nói với Huy Thục: “Nhà em đó”. Cô ấy tên là Bì Thị Hà, quê ở xã Liên Nghĩa, huyện Văn Giang, Hải Hưng. Trong thời gian chiến tranh cũng tham gia quân đội nuôi dưỡng thương binh, bệnh binh ở Nghệ An. Cuối năm 1975 xuất ngũ về quê. Năm 1977 cô ấy lại vào nông trường Ayunpa làm công nhân trồng chè. Sau khi em về đây tăng cường cho cơ sỡ. Chúng em gặp nhau và đến năm 1979, tổ chức lễ cưới tại đây. Nhà em rất cần cù chịu khó ham làm. Hai vợ chồng vừa trồng lúa, trồng rau màu vừa chăn nuôi lợn gà, lại còn khai hoang trồng một vườn cà phê, hồ tiêu thu nhập hằng năm cũng kha khá. Trừ chi phí mỗi năm cũng dư ra được năm, bảy chục triệu đồng để mua sắm đồ dùng trong gia đình, sửa sang nhà cửa.
- Thế vợ chồng Đủ “định đô” ở đây chứ - Huy Thục hỏi?
- Quê em ở Quảng Lộc, huyện Quảng Xương, Thanh Hóa. Bố mẹ, anh em ruột chẳng còn ai, làm ăn lại khó hơn ở đây, nên chúng em đã bàn bạc kỹ, ở lại đây mãi mãi. Trên đất nước ta, đâu cũng là quê hương mà anh. Nhờ có bài hát “Dòng suối La La” của anh mà từ tỉnh đến huyện và bà con trong buôn, xã đều hiểu biết em, quý mến thương yêu em và gia đình em.
- Không phải thế đâu anh Đủ à! – Huy Thục cười và nói – Chính nhờ Đủ và anh em trong tiểu đội chiến đấu mưu trí dũng cảm giành thắng lợi “Một thắng hai mươi” được đồng bào cả nước ngưỡng mộ. “Có bột mới gột nên hồ”, nhờ có chiến tích đó, anh mới sáng tác được, nói một cách khác là anh đã thể hiện chiến công đó bằng âm thanh và ca từ của nghệ thuật âm nhạc.
- Ban nãy em đã chuyện với anh, nơi quê hương bố mẹ ruột thịt chẳng còn ai. Chúng em có nguyện vọng muốn được kết nghĩa anh em với anh, có được không ạ?
- Sao lại không? Mỗi lần có dịp vào Gia Lai anh sẽ đến thăm gia đình nhà em. Ngược lại, nếu có dịp ra Hà Nội em đến thăm anh chị và gia đình và thi thoảng viết thư cho nhau…
Trên gương mặt dũng sĩ Bùi Ngọc Đủ rạng rỡ một niềm vui. Anh nói với vợ và các con: “Nhạc sĩ Huy Thục (1) kết nghĩa anh em với bố. Từ nay các con phải gọi là “Bác Huy Thục” nghe chưa.
Cả nhà ta cùng hát tặng bác Huy Thục, đồng ý không nào? Không ai bảo ai, đang ngồi trên ghế, trên giường đều đứng dậy hát “Ơi dòng suối La La” rồi “Tiếng đàn Ta Lư”…
Một dàn đồng ca gia đình hòa âm: thanh, trầm đủ cả. Nhạc sĩ Huy Thục xúc động cũng cất tiếng hát theo.
Niềm vui của những người lao động sáng tạo, không gì hơn là tác phẩm của mình tồn tại trong lòng dân và sống mãi với thời gian.
N.T
__________________
(1) Quê ở làng Mạc Thượng xã Chính Lý, huyện Lý Nhân tỉnh Hà




