Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 15/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Mười hai ngày chiến dịch

L.T.S: Nửa thế kỷ trước. Phối hợp hoạt động với quân nhân Việt Bắc qua Chiến thắng biên giới lẫy lừng, tiêu diệt mấy binh đoàn cơ động của quân xâm lược Pháp, đập tan mưu đồ của chúng bao vây phong tỏa đất nước ta, mùa hè năm 1950 trên đất Quảng Trị và Nam Quảng Bình đã diễn ra chiến dịch Phan Đình Phùng. Trung đoàn 95, trung đoàn chủ lực của tỉnh Quảng Trị được giao nhiệm vụ chủ công. Cùng phối hợp có trung đoàn 18  Quảng Bình và nhiều đơn vị bộ đội địa phương, dân quân du kích. Nhân dân Quảng Trị đã hết lòng tham gia chiến  đấu và phục vụ chiến dịch.

C

hiến dịch mang tên Phan Đình Phùng là một chiến thắng vang dội của quân dân Quảng Trị dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Phân khu ủy và Bộ chỉ huy Phân khu Bình Trị Thiên trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược.

Tạp chí Cửa Việt trích đăng dưới đây một số trang sổ tay - nhật ký của nhà báo Phan Quang, đặc phái viên báo Cứu quốc Liên khu 4, hành quân theo chiến dịch.

...16.6.1950 – Ngày cuối cùng trước khi ra trận

Đến nơi nghỉ, đã có ngọn đèn con thắp sáng và nồi nước chè đun sẵn. Lại có cả rá khoai lang nữa chứ. Nền nhà quét sạch sẽ, đã trải sẵn phên liếp cho anh em nằm, Bà mẹ lụm đụm dậy đón bộ đội.

Các trung đội trưởng đã dẫn cán bộ tiểu đội đi xem nơi phục kích từ chập tối. Tôi không ngủ, ngồi chờ họ trở về. Hỏi một tiểu đội trưởng nhiệm vụ tiểu đội anh. Anh đáp: “Xung phong, phải xung phong rất mạnh bởi địch có ưu thế về địa vật hơn ta. Xung phong không tích cực thì có thể nguy với chúng”. Anh em có người hơi băn khoăn về địa điểm giấu quân của mình. Tiểu đội trưởng thanh nói: “Nhiệm vụ của chúng tôi là phải chiếm được đồi cao, anh ạ. Chỗ ấy trong tầm pháo, mỗi lần công phá nó đi là nó bắn dọn đường, ở đấy hiện còn vết ca nông lỗ chỗ, cứ cách 15-20 mét một quả”. Tiểu đội trưởng Tâm, vết viên đạn xuyên qua tay lần trước ở đường số 9 nay đã teo miệng sẹo lại: “Anh muốn coi (trận đánh) thì cứ đứng chỗ tiểu đội chúng tôi bố trí là nhìn rõ hơn đâu hết” - “Cũng không bằng chỗ tiểu đội tôi”, một anh khác cãi. - “Cảnh bộ đội xung phong đẹp lắm, anh ạ. Từ trên đồi cao, sẵn đà lao xuống”. Tiểu đội phó Cơ, vành môi còn ngậm một mảnh đạn nhỏ kỷ niệm trận Cửa Tùng: “Khi nớ mà anh chụp cho một tấm ảnh thì đẹp vô cùng”.

Anh em ai cũng thích được chụp ảnh. Một chiến sĩ: “Từ trước đến chừ anh em được chụp ảnh nhiều lắm. Rứa mà trung đội không giữ được cái mô cả. Mang đi triển lãm mô trên Phân khu, anh em có chộ bao giờ. Lần ni anh chụp, anh phải nhớ cho anh em tui một tấm”.

Tiểu đội trưởng moọc chê, người Nghệ, giọng nói chậm nhão nhoẹt: “Tôi không ngại cho khẩu xoaxăng(60) quá, anh ạ. Địa hình thì có mà địa vật không. Chẳng có chi che chắn mình cả. Bắn ba phát, xì ra khói, thế nào tây hắn cũng tương ca nông trở lại”.

Trong căn nhà tôi - cấm thắp đèn - anh em nằm trên những tấm lá chuối lót thay chiếu, nói chuyện rì rầm. Tiểu đội trưởng Thanh: “Từ đây ra đến chỗ giấu quân chỉ chừng 500 mét thôi, anh ạ”. Chờ nghe súng chính diện tiểu đoàn 302 nổ, chúng tôi mới được vận động ra.”. Anh chỉ cái đồng hồ đeo ở cổ tay to tướng: “Đi bình thường mất 25 phút, vận động nhanh thì hết 15”.

Xoay qua chuyện chiến lợi phẩm. Cơ nói: “Trận ni cầm chắc chỉ được một ít ba lô và mũ cao bồi thôi, còn toàn là súng đạn. Hồi đánh trận Hạ Cờ kia, anh em thu bao nhiêu là vật dụng, lại còn có cả tiền Đông Dương nữa. Có cậu đến nay vẫn chưa tiêu hết tiền”. “- Ừ, trận  ấy còn bắt được mấy đứa con gái thật đẹp. Sau mình thả ra cả”. “Thật đấy, anh ạ, bắt được con gái thì trên có cho giết cũng không giết được. Ngó mần răng ấy”.- “Đàn bà con gái, ai mà giết được. Đầm cũng rứa thôi”. – “Không những đầm mà Tây cũng rứa, nó đầu hàng rồi là mình không bắn được nữa. Khi đang xung phong thấy nó ngồi trên xe nghiêng nghiêng ngó ngó, nghĩ bụng, chuyến ni tau mà bắt được tao giết chết ngay để ban chỉ huy khỏi biết. Nhưng khi thấy hắn giơ hai tay run rẩy hàng mình không nổ súng được. Xung phong được rồi hả cơn giận. Nghĩ lúc đó mình giết nó nư giết con cá nhốt trong âu, thú vị gì”. – “Tui hồi trận Thạch Xá cũng rứa, anh ạ. Thằng quan hai chạy xuống đầu hàng, tui đã định bắn, nhưng thấy bộ dạng hắn sợ sệt quá, tui đạp một đạp thúc hắn chạy trước mình chạy sau, bắt sống hắn cho rồi”- “Ngay cả lính Tây đen - Một chiến sĩ nào nói chen vào - Tui là tui hãi bọn nớ lắm, nhất định bắt được là giết. Hồi đánh trận Đông Hà, chính thằng Môhamết đó, khi thấy hắn vứt khẩu súng xuống đất, miệng lắp bắp camarát, thế là mình hết giận, không đành giết nữa”. Cơ: “Bọn bảo vệ vớt lính khố đỏ, thằng mô trợn trợn, tui cho mấy bạt tai, còn khi hắn đầu hàng rồi thì làm sao mà giết được. Cái mặt chúng nó sao mà trông u mê, đần độn thế.”

Tiểu đội trưởng Tân tựa sát người vào lưng tôi, nói trầm ngâm: “Tui mà bắt được thằng Đông thôn tui, tui nhất định tui giết. Tha đứa mô thì tha, chứ không tha thằng Đông. Má cha hắn, đưa Tây về làng giết trâu đốt nhà, cán bộ xã thôn ai làm việc chi hắn khai ra cho Tây cả...”

Tôi hỏi: “Khi xung phong, trong bụng các anh có thấy sợ không?”- “Khi nớ thì quên hết. Trước khi nổ súng, nghĩ còn sợ, sợ ca nông hắn giã, sợ phi cơ hắn bắn, còn khi đã xung phong rồi thôi không còn biết sợ chi nữa”.

17/6/1950- Hoàng hôn, tập hợp biểu đoàn trên rú. Tiểu đoàn trưởng phát lệnh chiến đấu mà dáng điệu vẫn tươi cười. Khẩu súng lục đeo trễ xuống đùi, xà cột tòn ten bên vai. Anh người Bắc gầy, giọng nói lưu loát. Động viên anh em mấy lời. Xong, cán bộ hội ý, trong khi anh em được ngồi nghỉ tại chỗ. Bỗng mấy băng Bren giòn giã ngắt ngang câu chuyện rì rầm của chiến sĩ. Ta đã khai hỏa đảnh đồn Sen Hạ. Súng 12 ly 7 của địch bắt chụp chụp trả lời. Moọc chê inh hình. Có ai kêu : “Sướng quá. Tiếng 81 của mình nổ đó”- “Không phải, đó là bom phóng”.

Chúng tôi vào nhà uống nước, uống cho đã cơn khát chờ đợi mấy hôm. Không khí có cái gì oi bức, căng căng. Súng bên phía đồn vẫn nổ đều, quyết liệt. Mừng. Bao ngày chờ đợi. Giờ chỉ còn cái lo là kế hoạch không thành. Ta công đồn để phục kích đánh viện là chính, mà không chắc địch có đám tiếp viện không.

Gia đình đang ăn tối giữa sân. Bếp lửa đỏ rần rật - nếu nước sẵn cho bộ đội. Tôi uống nhiều nước, có phải tại bữa thịt bò xào mặn của đại đội trợ chiến mời ban chiều? Nhớ lời đại đội trưởng hô hào anh em “ăn thật sự, ăn thật no vào để tác chiến thật sự.”. Trong nhà còn có hai ba người hàng xóm, mấy anh dân quân (áo nâu, lựu đạn), anh chính trị viên xã đội (chiếc mũ bê rê trên đầu, áo vải đen, răng trắng nhuộm đen nham nhở). Anh ngồi xổm dưới đất, cầm nghiêng cái công văn đọc bên ánh đèn. Một người nhìn ra vườn về phía đồn và nói: “Coi thử đã có lửa cháy chưa”. – “Chưa, chưa mô. Muốn coi, ra đứng ở chòi gác thì thấy rõ ràng, chỉ sợ ca nông hắn bắn thôi”.

Tôi nói: “Ca nông thì chết ai mà sợ”.

Chính trị viên: “Anh nói rứa chứ tôi đã bị rồi, tôi sợ lắm. Ca nông đặt trên đồn Phú Thiết có thể bắn tới Ba Cửa. Tui bị trận pháo ở Rợn năm ngoái, đúng 147 qủa. Ông chủ tịch huyện cầm sổ tay bút chì, cứ nghe nổ một quả, ông ghi một gạch. Đến tổng cộng 147 gạch. Nhờ có hầm tốt, không thì chết hết rồi”.

Sáng nay tôi về tiểu đoàn chủ công 302, vì ở đấy không có phóng viên nào theo, mà nó là đơn vị chủ công, chịu trách nhiệm nổ súng đầu tiên.

Anh dân quân đưa tôi từ thôn Sen Thượng về Sen Hạ tìm ban chỉ huy tiểu đoàn. Vào nhà, mấy anh thôn đội đang ăn cơm trưa, xắc cốt và tập giấy vất gọi là vải to, vải tụ dệt khổ nhỏ sợi bông thô như sợi dũi vì kéo xa bằng tay). Bên cạnh một chiếc chõng tre, chân chỉ cao chừng hai tấc, hai đầu có hai chụ tre to như niệt cày, tất cả còn xanh màu tre tươi. Đấy là cái cáng chuẩn bị tải thương. Anh em đưa tôi sang gặp thôn đội trưởng, anh cũng đang ăn cơm trưa. Răng đen. Cũng áo mai ô vải to như mọi người, nhưng bận chiếc quần soọc Âu may bằng theo bùng nhùng, chắc theo cũng của nhà tự nuôi tằm dệt lấy, tự túc cái mặc.

Tôi ngồi trên chiếc võng chờ ăn xong bữa. Khen “Chà canh có cái võng tuyệt quá”. - “Ngó rứa chớ không phải võng mô”. - “Cáng phải không?” “Anh cười- Chính đó”.

Hôm nay, các liên lạc trực đều đi vắng cả. Thôn đội trưởng gọi đến mấy anh du kích: “Hôm nay Hóa có đi tập trung không?”- “Có- Khương?” -  “Không”- “Thế Khương đưa anh đây qua khỏi bến lội rồi trở về, nghe”.

Tôi mượn chiếc nón đan đội lên đầu, cởi bớt quần dài, lội xuống đầm (đi qua đầm lính trên đồn có thể nhìn thấy nhưng ở ngoài tầm đạn súng trường, súng máy, không lo chi - cậu du kích bảo thể). Khương là một chú thiếu niên mới lớn. Bộ quần áo đà, khăn lúp(?) trên đầu. Đeo chiếc dao găm, vỏ dao may bằng da trâu khô không thuộc. Quả lựu đạn buộc dưới áo cánh bằng sợi mây, làm nhô vạt áo sau lưng lên.

- Bên Sen Hạ có bộ đội mình đóng không?

- (Cười) - Không biết. Cấp chỉ huy bảo đưa đi là tui đưa đi, biết răng mà nói; Việc quân sự, hôm qua còn thấy họ dưới ấy sáng nay họ đi rồi cũng không hay.

- Chú có thích đánh Tây không?

Anh quay lại nhìn tôi bằng con mắt nửa ngạc nhiên, nửa cười cười, tưởng tôi nói đùa:

- Anh còn hỏi!

- Nhưng thích đánh ở nơi mô?

- Đánh thôn ni.

- Sao, không sợ rồi hắn khủng bố à?

- Hừ, đánh ở thôn ni cho mỗi khi hắn đến hắn gờm.

- Có ưng đánh đồn Sen Hạ không?

(Cười) - Đánh được, thôi còn nói chi nữa.

Tôi định bảo “Cậu chờ đến tối nay” cho cậu sướng. Nhưng nghĩ đến chuyện giữ bí mật, lại thôi:

- Chú có ưng giết Tây không?

- Ồ giật bom thích lắm.

- Chú đã được tự tay giật lần mô chưa?

Cậu dừng bước, tụt xuống ruộng cho ngang tầm tôi đứng, rồi chỉ tay về quả đồi cạnh đường số 1:

- Đó, ở cái đồi nớ. Anh có nhìn thấy cây đa như cái tàn không? Lần đầu tiên du kích bố trí bốn quả bom tự động. Bọn hắn đi sửa cầu, nổ ba trái. Chết mười lăm tên. Xã ni đứng nhất về thôn chiến đấu là thôn tui đó. Lần thứ hai bom giật. Hôm ấy không lấy được súng vì đồi tráng quá. Khi đi sũ sạo kiểm soát mặt đường, thấy còn ba bàn chân, một chiếc giày, một dúm ruột, một con mắt, thịt máu tung tóe khắp nơi. Áo quần rách bay dính mỗi bụi cây một mãnh. Cái mũ cao bồi móc trên ngọn cây. Tui lượm được chiếc mùi soa có thêu chữ và chiếc dao con sáu lưỡi có nam châm rất đẹp. Hôm đi làm vệ sinh chiến trường, đào lỗ chôn mấy bàn chân, thịt đã bấy ra, trông ghê quá.

- Chú có thích đi vệ quốc đoàn không?

- Có chớ. Nhưng y tá huyện về lựa nói em không đi được. Em có hai người anh đi bộ đọi rồi. (Cậu trở lại chuyện giật bom). Hôm ấy còn lượm được một mảnh báng súng và một khúc nồng bờrâuninh to bằng cái cán rạ (rựa).

Bờrâuninh  hay cạcbinh?

- Bờrâuninh  chớ. Bờrâuninh  có chân. Cạc binh không có chân mà cầm nhẹ tâng tâng.

Thấy cậu có vẻ rành về vũ khí, tôi hỏi:

- Thế chú đã biết bắn bờrâuninh chưa?

- Chừ có súng là bắn được tất. Súng trường Mỹ, bức kích pháo em đều bắn được.

- Chú nói tôi nghe, bức kích pháo bắn thế nào nào?

- Dễ ợt. Cái cũ có cái cò như giàng xay. Cái mới có cái núm tròn tròn, cứ vặn một nấc thì nghe tách một cái. Có đạn mà vặn tách một cái là đạn nổ rồi đó. Hôm đoàn xe của hắn từ trong đi ra, bọn em mang bức kích pháo đặt bên đường, bắn vô cái xe đi sau cùng. Đạn nổ tóe lửa phụt lên. Hắn bắn trả hai băng  Bren rồi đi tiếp, không dừng lại.

Chúng tôi lội qua bàu nước rất rộng. Nước lút sâu tới cổ. Lội qua bàu rồi vượt đường quốc lộ ở đoạn có cầu xi măng trắng và mặt đường bị đạn cày khá nham nhở.

- Lần trước, bọn em đánh tụi lính sửa chữa cầu ni đó.

Qua khỏi bàu, cậu đưa tay chỉ đường, nói với tôi:

- Anh có ưng bận quần thì bận, không thì để rứa đi cho mát. Chỗ ni không gặp thanh nữ mô. Gặp thanh niên mình thì ai cũng như ai cả.

Và cười hóm hỉnh nhe bộ răng vàng khè. Tôi hỏi: “Từ đây còn nơi nào phải lội nữa không?”

- Không. Anh yên tâm. Du kích không nói lừa cán bộ mô.

18.6.50: - Anh em đã nằm yên ngủ lấy sức ngày mai giết giặc. Họ nằm ngửa trên đội, dưới lưng lót bằng lá bẻ ở các bụi bờ. Nghe hơi nóng dưới đất bốc lên và sương đêm tỏa xuống ẩm áo quần. Giấc ngủ chập chờn, chốc chốc phải đưa tay xua muỗi vo ve bên tai tay chích vào má ngứa ran. Và kiến đất ở đâu đó kéo nhau đến hàng đàn hàng lũ, đầu tiên bò lên mặt, sau đó xộc vào cổ, vào tai rồi lần đến nách, bụng, háng, vào những chỗ kín nhất. Tiếng súng công đồn của ta đã ngót song địch như vẫn còn giật mình, thỉnh thoảng chồm dậy sủa ằng ặc một tràng 12 ly 7. Tiếng súng vọng vào đồi cây trong đêm khuya, không có tiếng súng trả lời.

Tôi mơ màng nửa ngủ nửa thức nghe tiếng quay máy điện thoại và tiếng anh tiểu đoàn trưởng hỏi: “A lô, alô, tình hình địch vẫn không có chi thay đổi chứ? Vẫn còn mười xe ở Phú Thiết? Vâng, nghe rõ rồi, vâng, vâng...”

Bầu trời nhiều sao long lanh, anh nghĩ tới những giọt nước mắt của đồng bào ngày mai khi nghe tin quân ta thắng trận.

19.6.50: - Nắng vừa lên thì hai chiếc Spitfire cũng vừa đến, rú ga lồng lộn quanh đồn, bắn mấy băng rồi đi thẳng. Buồn cười cho nó, tiếng hú rù rù như tiếng chiêng ở xa chưa tắt hẳn, moọc chê và bom của ta đã phóng vào đồn. Lại có ầm ì. Tiếng xe hay tiếng tàu bay? Mọi người nín thở để nghe cho rõ. Một anh thì thào: “Xe, xe”. Người đứng bên cạnh vỗ vào vai bạn: “Chết cha hắn rồi”. Nhưng không, đó vẫn là chiếc máy bay đầm già muôn thuở, do đôi càng lênh khênh sờ soạng khắp vùng và có lẽ không thấy có gì khác lạ, hắn cũng bỏ đi luôn.

Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Tháp cẩn thận lau lại ống nhòm, quan sát đoạn đường quốc lộ. Giữa hai mé đồi, hàng mít xanh im lặng, chiếc cầu trắng vẫn đợi chờ. Đại đội trưởng X đến gần, nóng nảy hỏi: “Hắn bắt đầu đi chưa anh? Chưa? Sao không đi để người ta bóp cổ cho rồi”.

Điện thoại: Ban chỉ huy mặt trận báo cho biết, đoàn xe ở Phú Thiết vừa xuất phát. Một trung đội đã đi trước xục xạo kiểm soát đường. Anh em chuẩn bị. Thay những cành lá nguỵ trang bắt đầu héo vì nắng. Các đội trưởng dặn dò đôi điều cần thiết cuối cùng. Xa lắm, bên kia dốc Sỏi, có thể nhìn thấy màu áo ka ki của mấy tê địch tới lui quan sát. Bên này, nấp sau các bụi cây, hằng trăm đôi mắt mở to, theo dõi chúng từng bước một. Song chờ đợi mãi vẫn không thấy gì khác hơn, mấy tên địch đã xuống đồi rút đi đâu mất tăm. Anh em lại chui vào bụi, tránh bớt nắng mặt trời càng về trưa càng gay gắt.

Nắng oi. Gió Nam nhẹ không đủ phe phẩy cành lá ngụy trang. Anh em nằm ngổn ngang theo từng tổ một dưới bóng cây. Tranh thủ ngủ một chút bù những hôm hành quân mệt nhọc. Có cậu nằm dọc mương nước cạn, mình cong như con tôm kho, có cậu chỉ đặt lưng lên một đám đất bằng, chân thò vào trong bụi. Nhiều tiếng ngáy đều đều. Những giọt nắng theo gió trôi qua trôi lại trên mấy anh lính ngủ ngon lành. Trong bụi cây, trung đội phó kê mảnh giấy lên đầu gối viết báo tường. Viết xong lẩm nhẩm đọc lại rồi gọi chiến sĩ ngồi bên cạnh.

- Sinh ơi, bài mi viết mô đưa tao coi nào.

Sinh quay lại, hé mắt nhưng nheo lại ngay vì chói nắng.

- Dạ, tui chưa chép lại, anh ạ.

Bỗng có tiếng động cơ ô tô chạy. Chuông điện thoại tới tấp, báo tin địch đến. Cùng một loạt chiến sĩ vùng dậy, mở chiếc khăn buộc che có súng lau mồ hôi trán. Ai cũng tươi và tỉnh táo như vừa được tắm nước lạnh. Tây đi rồi. Có nghĩa là vào rọ rồi, các con ơi. Người nhấc ống nước đeo bên vai, tu một ngụm. Người sửa lại quai dép. Tiểu đoàn trưởng tươi cười kéo chiếc nịt Mỹ, vỗ vỗ vào khẩu súng lục đeo trễ bên người.

Súng chính diện đã nổ.

19.6.50 (ghi tiếp) – Chiều, nắng vẫn to. Cháy da thịt vì tay áo xắn cao. Mồ hôi thấm hết áo trong đến áo ngoài. Nước lạnh uống ừng ực từng ống tre một. Hai chiếc Spitfire lại lồng lộn. Hình như vẫn hai chiếc máy bay ấy. bà đầm già rè rè liệng quanh tìm tòi, nhìn rõ hai dấu hiệu cờ tam tài sơn dưới cánh như đôi mắt cú vọ, thật đáng ghét.

Dọc đường vào TL Bộ đội rút về. Nóng và khát nước, súng hai ba chiếc, có anh ôm cái áo đi mưa. Các nội vụ viên vẫn gánh cơm đi ngược chiều, nhiều nồi đậy dưới chiếc rá đựng cơm. Nhiều anh hỏi xin vì tưởng đấy là nồi đựng nước uống. Hóa ra canh. Mùa này bữa ăn bộ đội cho dù ở trận địa cũng phải có canh thì anh em mới nuốt nổi. Gió Nam thổi khô cơm trong rá, lớp trên mặt như quánh lại. Mấy chiến sĩ áo quần nâu bạc màu dính bệt mồ hôi. Chân tay cũng màu nâu và cũng nhoáng ướt mồ hôi.

Tôi cùng các anh tiểu đoàn trưởng pháo đi ngược ra trận địa. Anh em đang ăn cơm. Các gánh đạn 75 ly ngụy trang lá xanh, xếp vuông vắn trông như bờ rộng. Con trâu béo mập, cổ kéo cày có u, thản nhiên ăn cỏ dưới mép ruộng. Nội vụ lỉnh kỉnh với nồi niêu, rá cơm. Các thùng gỗ đựng nước đã cạn hết, chỉ còn trơ xác chè bên trong. Bữa ăn vội vàng. Kìa, hai chiếc Spifire lại đến. Lại chiếc bà đầm già. Nó liệng hai vòng e ca nô sắp giã quá.

Di chuyển pháo cho kịp giờ khai hỏa. Ở đây cách đồn địch chừng hai cây số. Khẩu đại bác 75 ly cổ lỗ, bánh xe to. Nòng thì bóng xanh, đầu nòng chụp chiếc mũ da. Tôi lật mũ, sờ những đường rãnh trong nòng, pháo thủ bảo tôi đấy là những đường khương tuyến. Cảm thấy thương thương tuy hơi buồn vì nó cổ quá. Lúc nãy, trên đường đi đến đây tôi lần theo vết bánh xe hằn, cán nát đá thành vết thương, có nát, bụi bờ quằn oẹo xuống. Ngụy trang kín hẳn không nhìn ra hình thù gì.

Cải con trâu đực vào nó, nó hục hặc. Con trâu trông quá nhỏ bé trước cỗ pháo. Hai bên, hai hàng dây dài. Cả trung đội xúm lại kéo phụ sức cho trâu. Để mình trâu kéo thì nó chết. Hai người nhảy lên ngồi lên nòng giữ để cho nó nghiêng bên này chúi bên kia. Mấy người xúm lại phụ quay bánh xe nặng nhọc. Câu hò kéo dây xứ nghệ. Như theo điệu hò, con trâu cúi đầu ngúc ngắc tức giận vì cái cày này quá nặng so với thường ngày. Nó hì hục đi từng bước ngắn. Nắng gần tắt, chiếu những ánh cuối cùng lên lá ngụy trang. Cỗ pháo vẫn nặng nhọc đi giữa đồi sim lúp xúp.

Chập chõa tối, chúng tôi đến gần đồi Sen Hạ. Gặp đội xung kích. Anh em sẵn sàng vào đồn hôm nay, sau khi trọng pháo đã diệt xong những công sự đề kháng chính. Đi đầu đội xung kích là khẩu đội SKZ. Mỗi chiến sĩ vác một viên đạn trong giống như cái chày. Bước chân lính xung kích như dài hơn bước chân lính khác nhờ những đôi giày sơn đá cồm cộp, có vẻ hùng dũng và quyết liệt. Bước đi chắc. Vũ khí toàn là tiểu liên Sten, Thompson, thỉnh thoảng mới có vài khẩu Mút. Có anh vác thanh kiếm Nhật dáng cong thanh tao, vỏ bóng loáng, mảnh đồng ngăn cách chuôi và lưỡi kiếm ánh vàng vì được lau chùi quá cẩn thận. Mỗi anh cài một mảnh vải ở cầu vai áo để dễ nhận ra nhau khi xung trận. Có anh đỏm dáng buộc cả chiếc khăn hồng vào đấy. Họ đi trong hoàng hôn bóng nhòa với đồng ruộng. Tỏa một vẻ đẹp mạnh và vui. Lẫn giữa hàng quân, một-hai-ba-bốn, ở bốn cái thang mới đóng bằng tre tươi, thân tre còn xanh rói. Thang ngắn, vắt ngang trên vai anh chiến sĩ.

Đến tối thì súng trong đồn nổ từng phát một. Súng trường cách nhau nửa phút một phát; 12 ly 7 cũng chỉ bắn từng hai ba viên. Chắc chúng tiết kiệm số đạn dược còn lại sau hai đêm bị tấn công. Muốn tiết kiệm nhưng vẫn sợ cho nên phải bắn để vẻ sẵn sàng đây. Trời tối hẳn thì 12 ly 7 nổ dày hơn, hai ba viên từng loạt ngắn.

Chờ súng nặng của ta. Đến chín rưỡi rồi vẫn chưa nghe pháo bắn. Ta mới bắn được hai phát cối 120 thì bay mất culát, tìm mãi mới ra. Năm phát đại bác 75 ly của ta bắn chệch mục tiêu, không khống chế được ụ đặt khẩu 12 ly 7 của địch, nó vẫn xả đạn đến gai tai. Ánh lửa chớp lên khi ca nông ta bắn. Bên phải tôi là 75, bên trái 120.

Trận đánh không dứt điểm.

Lại một đêm nửa ngủ trên đồi, muỗi và kiến đốt. Hơi đất, sương đêm.

19.6.50: - Trưa nay, lúc trận đánh diễn ra, tôi đứng trên đồi cao, đối diện với đồi chỉ huy. Lá cờ hiệu màu xanh của trung đoàn trưởng bay rần rật. Thấy lá cờ bay mới biết có gió to, vì nắng quá rát, chỉ thấy nắng không thấy gió. Cờ đẹp quá. Đạn nổ như rang gạo. Bức kích pháo, moọc chê ình ình trống lớn trống nhỏ. Nhìn xuống đường quốc lộ thấy hai chiếc xe địch đang bốc cháy, khói xám ùn lên, bay tạt về một chiều theo hướng gió thổi. Một chiếc khác đi sau thấy hai chiếc trước vội vàng chạy lùi. Nó chạy giữa hai khoảng trống, giữa hai quả đồi, nơi có hàng mít xanh. Bộ đội ta đang xung phong lố nhố trên đường. Trên quả đồi dịch về mé trái, đạn moọc chê tung khói và bụi, khói ở đây lâu tan hơn khói chạy xe.

Mấy ông dân quân chiến đấu phối hợp là những người trở về sớm nhất. Vai vác cây tre vót nhọn, áo quần nâu, người nhỏ bé - phần đông dân quân ở đây đều như vậy. Mặt ai nấy đỏ bừng nhưng hớn hở. Họ vui như không phải vừa đi xông pha đối mặt với cái chết mà đi xem hội hè đình đám trở về. Tôi hỏi: “Sao các anh  lui về sớm thể”- “Bầy tui được cho tui cho lui, đi uống nước”.

Các ông kia tranh nhau nói về trận đánh:

- Tao chộ (mấy) thằng chết.

- Cái thằng bị thương ở đầu gối què chân nằm trên đường ấy, hắn còn sống. Tau định đâm cho một mũi, hắn sợ kêu ầm lên, thế là tau thôi.

Họ đi khuất. Một ông lão dân làng Sen tản vào trong núi lúc diễn ra trận đánh, giờ vác rựa trở về. Áo nâu, quần cụt, nón đan, mặt rám nắng hình như có pha màu sốt rét. Dáng đi lừ đừ, gặp chúng tôi ông dừng lại góp chuyện: “Tôi tính ra coi (trận đánh), ra tới nơi, bộ đội bãi rồi, tành ra về”.

Một ông già khác tay xách mấy ruột tượng gạo và chùm lựu đạn xâu trong chiếc nịt da cũ:

- Tui ở bên sông, nghe ngớt tiếng súng, tính ra coi thì gặp mấy anh bộ đội nhờ phụ gánh anh bị thương. Nửa đường, thấy tôi nặng quá, một anh đến đổi vai cho, và nhờ tôi cầm giùm mấy cái ni. Chừ tìm nơi mô mà trả lại anh em, hè?

- Một chiến sĩ dẫn mấy tù binh Pháp. Thằng nào thằng nấy đầu trần, áo phanh để lộ bộ ngực lông lá và mảng da đỏ như tắc kè phơi nắng. Nóng quá, một tên vừa đi vừa rên hừ hừ, miệng há hốc thở như trâu. Một tên khác bị thương ở mặt, vết thương nhẹ thôi nhưng máu bê bết làm cho bộ mặt hắn cùng thêm gớm ghiếc, giống hệt thằng Tây trong bức tranh cổ động vẽ bọn thực dân phát xít dã man. Đứa nào tay cũng bị trói quặt sau lưng. Anh đội viên mang, vai vác mấy khẩu súng Mút vừa tước được của chúng, bằng gỗ trắng mới tinh như vừa nhận ở kho ra. Đến chỗ tôi đứng, một thằng Tây cao lớn, người thô như nông dân, vẻ tỉnh táo nhất bọn, nhoẻn miệng chào: “bonjour monsieur”. (xin chào ông).

Mấy chiếc cáng theo sau. Anh vệ quốc đoàn bị thương băng  bó sơ sài. Mặt dính vết máu, lộ vẻ đau đớn. Một tay anh bíu chặt cáng tre. Miệng rên khe khẽ. Mặt anh cũng đỏ và loáng ướt mồ hôi.

- Nặng hay nhẹ?

Anh tải thương trả lời:

- Nhẹ thôi. Trúng hông.

Các anh tải thương áo nâu phanh ngực, còng lưng dưới đòn cáng và ánh nắng mặt trời. Ống tre đựng nước lúc lắc bên vai. Mặt mệt nhọc nhưng hớn hở. Bước đi chậm, thận trọng. Chân không dép đặt từng bước rụt rè trên đường sỏi nhọn và còn nóng bỏng. Mồ hôi, hơi thở, mùi máu tỏa không khí chiến trường. Hai ba cáng nối đuôi nhau vào. Anh chiến sĩ đi sau cùng nặng nhọc vác một lúc hai ba cây súng của đồng đội. Khẩu bức kích pháo tòn ten dưới nách bên phải.

Tưởng hết rồi, hóa ra đi sau cùng còn mấy ông tù vừa được giải thoát đang nói bô bô. Người nào người ấy gầy yếu đến thảm thương, mặt hốc hác như trong ảnh người đói năm 1945. Áo quần rách nát, có anh như không che kín thân. Nón cời. Có người không có nón, bẻ nhành lá che nắng cho cái đầu trọc lóc. Mặt mũi là những nét gãy khúc, gồ ghề; chỉ mỗi cái đầu trọc là đường tròn duy nhất, những người lớn tuổi râu ria xồm xoàm. Người nào người nấy đẫm mồ hôi, trông thảm thiết. Nhưng ai nấy vẫn lộ vẻ hớn hở, vừa tranh nhau thuật chuyện vừa hươ tay múa chân như trẻ con, như đang nói với những người quen biết ở xóm làng. Gặp ai cũng muốn dừng lại bắt chuyện, trong khi những người đi sau sốt ruột dục bước nhanh lên, không có tàu bay hắn đến bắn chừ.

- Bày tui người Quảng Ninh, thuộc xã Gia Ninh. Bị bắt từ một tháng hai mươi ngày ni rồi. Một tháng hai mươi ngày hắn bắt đi theo, chính mắt tui đã ba lần chỗ bị bộ đội mình đánh. Một lần, hắn bắt tui sương (gánh) gạo từ Lâm Thiện về Mỹ Trạch, mình chặn đánh. Bày tui gánh gạo đi giữa làng, thành ra không chạy kịp theo bộ đội. Hôm đó quân mình ít quá. Lần này hắn bắt bầy tui kẹp tay nhau đi hàng ngang mò mìn giữa đường. Hắn đi hai bên hai tiểu đội. Khi súng nổ, bày tui chạy sang hai bên đường nép xuống mép. Gặp mấy anh vệ quốc đoàn xung phong ra hỏi: “Ai? Tù phải không?. Tui nói: “Dạ, tù”. Mấy anh bảo: “Rứa thì chạy đi, mau lên!”. Bầy tui sướng quá chạy qua đây. Sướng quá, thiệt sướng quá. Cứ mong gặp bộ đội mình mãi. Tốp tui chỉ có  sáu anh em, chứ chuyến ni làng tui bị hắn bắt đi đến ba mươi ngày tề”.

Anh phanh rộng thêm chiếc áo đã không cài khuy cho mát, tay phe phẩy cành lá thay quạt. Trời đã xế chiều mà nắng vẫn như thiêu như đốt. Cánh tay anh cháy đen, chiếc quần ngắn bẩn không che kín bộ chân khẳng khiu.

***

Bọn tù binh ngồi nghỉ dưới bóng râm. Tên bị thương ở mặt nằm dài, người thẳng đơ như khúc gỗ. Vết thương nhẹ, máu đã chùi sạch bớt, mặt nó đã có vẻ thản nhiên tin tưởng. Mấy tên kia  ở trần. Một tên lê dương người Ý nhỏ nhắn, trẻ, đẹp trai. Một lão Tây già béo ịch. Lưng là tấm phản, mặt như mặt diều hâu. Quần soọc. Giày da cứng. Có tên đi giày không bít tất. Một tên mặc cái áo Mỹ bốn túi xanh màu lá cây. Tên Ý khai hắn người Piémont, vào đội quân lê dương. Cái lạ là hắn vẫn giữ được vẻ mặt tươi cười.

Một tên bị thương nhìn tôi, van vỉ xin “um peu d’eau” (một ít nước). Tôi nhìn quanh. Anh chiến sỹ đang đứng xem hiểu ý, thả chiếc ống tre đeo ở vai đưa cho nó. Một thằng rút mùi xoa tẩm nước lau mồ hôi cho tên bị thương. Bọn này tên nào cũng khai hắn mới bắn có một phát hoặc chưa kịp bắn phát súng nào. Một tên người Hungari, một tên người Đức. Hai tên này có vẻ thoải mái. Tôi hỏi có muốn được thả về không, chúng nói: “Cho chúng tôi được ở lại với các ông. Chúng tôi về mà không mang theo súng thì bọn chỉ huy cũng tống vào nhà tù thôi. Chúng tôi có thích đi đánh các ông đâu”.

Vào nhà dân, quá khát nước bê cả ghè nước ngoài hiên uống ừng ực. Thấy tôi nhìn, nó cười ngượng nghịu. Hôm sau, anh tiểu đoàn phó lệnh cho nội vụ cho mỗi thằng mỗi đĩa thịt bò xào với thơm (dứa), đứa nào đứa nấy sáng mắt lên, cám ơn rối rít.

Một tên tù binh nữa được cáng tiếp vào láng. Hai dân quân gò lưng vì thân xác hắn quá nặng. Tên này khai mình làm comptable (kế toán), lần này ra trận là lần đầu và chỉ còn hai tháng nữa thôi là hết hạn được trở về xứ. Số thằng này rủi. Khi bị thương, thấy đồng đội rút cả bao súng lục chuồi vào bụi chạy trốn, hắn bị thương cũng cố lết vào bụi. Lúc mặt trận yên ắng rồi, bộ đội ta đi kiểm soát chiến trường. Một chiến sĩ thấy một thằng Tây nằm chết thẳng cẳng, vui miệng thét đùa: Ô mê manh! (giơ tay lên). Cu cậu nằm trốn trong bụi, tưởng ta nhìn thấy mình rồi, lồm cồm bò lết ra giơ tay chịu trói.

Những thằng địch bị thương này làm khổ thêm cho lính mình. Tải thương thì nặng, lại săn sóc thuốc men tốn kém.

P.Q

Phan Quang
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 84 tháng 09/2001

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

16/04

25° - 27°

Mưa

17/04

24° - 26°

Mưa

18/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground