Dầu tràm nguyên chất là một loại dược liệu tự nhiên chăm sóc sức khỏe vô cùng hiệu quả được người dân sử dụng hàng trăm năm nay. Chính vì tính năng “thần dược” của dầu tràm mà người ta dùng nó cho các sản phụ, trẻ sơ sinh như một thứ biệt dược dành cho người có làn da non nớt, mẫn cảm. Dầu tràm được thoa lên gan bàn chân, lên bụng hay pha loãng với nước nóng rồi tắm cho trẻ để phòng gió độc, giữ ấm trẻ trong những giấc ngủ của mùa đông lạnh lẽo. Với những người già, dầu tràm là một loại thuốc xoa bóp trị nhức mỏi, giữ ấm không gì sánh được… cái thứ “thần dược” thôn quê ấy đã gắn với đời sống của những người dân nông thôn, thấm vào trong máu thịt của họ và trở thành một ý thức truyền thống của người mẹ, người chị khi có con nhỏ sơ sinh. Tuy nhiên, để có được chai dầu tràm nguyên chất là cả một quá trình sản xuất vất vả, khó khăn của người thợ thủ công. Từ việc tìm nguồn nguyên liệu cho đến khâu chuẩn bị, khâu nấu, lọc dầu, đóng chai… để đến được tay người tiêu dùng. Vì vậy, với điều kiện địa hình là vùng gò đồi, cây tràm phát triển nhiều nên người dân làng Tân Trưng, xã Hải Chánh đã phát triển nghề nấu dầu tràm từ cách đây khá lâu và trở thành một nghề thủ công truyền thống của làng.
Làng/thôn Tân Trưng nằm trên địa hình vùng đồi núi; phía Nam giáp làng Câu Nhi; phía Bắc và phía Tây giáp vùng đồi núi của xã phía Đông giáp làng Mỹ Chánh.
Vào cuối thế kỷ XIX, trước những biến cố lịch sử và những biến động xã hội do thực dân Pháp xâm lược, một số thanh niên trí thức quê ở Thừa Thiên kết nghĩa “Đào viên” tìm ra vùng đồi núi địa đầu Quảng Trị để tị nạn và sinh sống. Đó là các ông Trương Duy Phiên ở làng Hà Đồ (xã Quảng Phước, huyện Quảng Điền ngày nay), ông Bùi Nẫm và Trần Hoán ở làng Kế Môn (xã Điền Hải, huyện Phong Điền ngày nay). Sau một thời gian khai phá đất đai, vào khoảng năm 1896, số diện tích canh khẩn được Nhà nước chấp thuận. Đó là cơ sở đầu tiên để hình thành nên làng Tân Trưng.
Trước Cách mạng tháng Tám, Tân Trưng cũng chỉ có 10 gia đình sinh sống nên về hành chính lại phụ thuộc vào phường Tân Lương. Đất canh phá rất rộng gần 96 mẫu, đều là ruộng đất tư, ở hai khu vực khe Chè và nhà Trưa, vì chỉ có ở các khu vực này mới có nhiều ruộng nước để cày cấy.
Cư trú trên địa hình vùng gò đồi lại không nằm cạnh sông nên việc canh tác lúa nước cũng như nước để dùng cho sinh hoạt rất khó khăn. Vì thế, hoạt động kinh tế chính của người dân Tân Trưng từ bao đời nay chủ yếu là kinh tế vườn, trồng cây hoa màu và cây ăn quả. Hình thức cư trú tập trung theo từng cụm, men theo chân đồi.
Qua hơn 100 năm khai phá, gây dựng, con cháu của các họ Trương, Bùi, Trần, trong đó đông hơn cả là họ Trương được sinh sôi và kế nghiệp nối nhau cho đến nay đã hơn 6 đời. Bằng tinh thần lao động cần cù, sáng tạo nhân dân Tân Trưng đã cùng nhau đồng cam cộng khổ, chung sức khẩn hoang canh phá điền thổ, xây dựng và phát triển làng xóm từ buổi đầu cho đến ngày nay. Hiện nay làng có 48 hộ với 280 nhân khẩu.
Do đặc điểm địa hình là vùng đồi núi nên rất thuận lợi cho cây tràm phát triển, mặt khác cây tràm ở đây cho lượng dầu nhiều và tốt hơn so với cây tràm ở những nơi khác nên sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, nhân dân nơi đây đã bắt đầu nấu dầu tràm.
Ông Nguyễn Hữu Trì người gốc ở làng Kim Long, xã Hải Quế (một làng quê vốn có truyền thống lâu đời về nghề nấu rượu), trên cơ sở đã biết phương pháp nấu rượu, tham gia lớp học cách nấu dầu tràm tại Công ty dược Triệu Hải và đến năm 1979 thì chính thức mở lò nấu dầu tràm. Theo ông Nguyễn Hữu Trì thì khi học về ông đã mở lò tại nhà và sau đó mở thêm 3 lò nấu dầu tràm trong toàn hợp tác xã do ông làm tổ trưởng. Sản phẩm dầu tràm thường được nhập cho công ty dược để xuất khẩu sang Liên Xô. Năm 1990, khi Liên Xô tan rã cũng là lúc 3 lò nấu dầu tràm của hợp tác xã ngừng hoạt động (vì không xuất khẩu được dầu). Các lò nấu dầu tràm của các hộ gia đình thì vẫn hoạt động. Họ nấu dầu để bán trên địa bàn tỉnh Quảng Trị hoặc bán cho những người quen dùng dầu ở Đà Nẵng hoặc Thành phố Hồ Chí Minh... Tuy nhiên, vài năm trở lại đây do nhiều lí do khách quan lẫn chủ quan cho nên ở làng Tân Trưng không còn gia đình nào nấu dầu tràm nữa.
Để nấu được dầu tràm phải qua nhiều công đoạn, trước hết phải chuẩn bị nguyên liệu đó là lá tràm gió, chổi rành và nước trong.
Lá tràm gió thường mọc tự nhiên khá nhiều ở vùng đồi làng Tân Trưng. Nguồn nguyên liệu này cũng thất thường bởi vì lá sẽ mọc nhiều, sum suê vào mùa hè nhưng lại ít vào đông. Sau khi đi bứt lá về người ta sẽ cho vào nồi để nấu dầu tràm.
Dụng cụ chưng cất dầu gồm: Một nồi đồng với đường kính khoảng 1m, cao từ 1 - 1,5m để đựng lá tràm. Nồi bắt buộc phải làm bằng đồng vì không bị gỉ sét trong quá trình sử dụng.
Một thùng phi để làm lạnh, một cái lao đựng dầu.
Một sợi dây gọi là ruột gà để dầu và nước chảy ra (ruột gà nằm ở trong thùng phi), ruột gà được làm bằng đồng dài khoảng 25 - 30cm.
Lao (phễu) làm bằng 12 thanh gỗ huệng kết lại với nhau theo nguyên tắc Âm - Dương (tức ghép sấp ngửa) để nước không thể thoát ra. Bên ngoài cố định bằng các đường mây tắt. Lao cao khoảng 60cm, đường kính miệng 40cm, đường kính đáy 30cm. Trước đây, kết nối giữa các thanh gỗ này người ta thường dùng vỏ cây tràm để bịt lại. Còn khoảng hở giữa lao và nồi thường thì dùng cám và tro bếp trộn đều để trét lại.
Đồ hứng dầu: chai nhựa hoặc chai thủy tinh.
Quy trình nấu dầu: Để có được một lít dầu tràm đòi hỏi sự công phu của người nấu dầu tràm. Dầu tràm nguyên chất truyền thống được nấu trong nồi to. Người ta cho vào nồi khoảng 20 phân nước sau đó lót một cái rổ lớn ở dưới đáy và cho lá tràm lên trên. Một nồi nấu dầu khoảng 3 tạ lá tràm. Nếu chỉ nấu bằng lá tràm thì lượng tinh dầu không nhiều (1 nồi nấu được 1,5 - 2l dầu), vì vậy người ta thường nấu với tỷ lệ 95% lá tràm gió và 5% chổi rành sẽ cho lượng tinh dầu nhiều hơn (1 nồi nấu được từ 3 - 4l dầu) và tăng thêm hương thơm cho tràm.
Sau khi cho lá vào nồi, người ta dùng một sợi roăng quấn quanh miệng và đậy kín nắp nồi. Cho nồi lên bếp đun sôi khoảng 1 giờ thì hơi dầu từ trong nồi sẽ bốc lên, kết lại thành nước và chảy ra theo vòi trên nắp rồi chảy xuống ruột gà ở trong thùng làm lạnh, sau đó lại chảy ra lao đựng dầu. Do tinh dầu nhẹ hơn nước nên phần nước sẽ chìm xuống dưới và phần dầu sẽ nổi lên trên, chảy ra chai qua vòi dầu ở trên lao. Cứ như vậy cho đến khi lấy hết tinh dầu (nấu khoảng trong thời gian 3 giờ là được). Để nấu dầu tràm đạt chất lượng, người ta thường lấy lá khô của nồi trước để đun. Điểm lưu ý khi đun lửa đó là phải thật đều và kỹ, không lúc nào thiếu lửa hay để cho lửa cháy quá lớn sẽ làm bay mùi thơm của dầu. Nấu dầu tràm còn phụ thuộc vào thời tiết, nếu trời mưa lạnh quá thì nấu dầu cũng không ra.
Nấu dầu tràm cùng với các nghề thủ công truyền thống khác đã và đang tồn tại trên vùng đất Quảng Trị là những tinh hoa văn hóa, là những di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu. Sản phẩm của nghề nấu dầu tràm đã tạo nên một loại dược liệu tự nhiên chăm sóc sức khỏe rất hiệu quả góp phần giúp ích cho con người. Tuy nhiên, hiện nay do sản phẩm làm ra chưa tạo được thương hiệu nên thị trường không ổn định, mặt khác lá tràm phải đi hái ở xa. Rất cần quỹ đất để duy trì nguồn dược liệu. Những người biết nấu dầu đã lớn tuổi, thế hệ trẻ lại không có mấy người hứng thú với nghề này vì vậy mà nghề nấu dầu tràm đứng trước nguy cơ bị mai một.
Để duy trì nghề nấu dầu tràm của người dân làng Tân Trưng nhằm bảo tồn một nghề truyền thống, cung cấp cho người dân một loại dược liệu tự nhiên có giá trị, xã Hải Chánh đang có chủ trương xây dựng chương trình, kế hoạch để khôi phục lại nghề nấu dầu tràm làng Tân Trưng, đó là một dấu hiệu đáng mừng.
Hy vọng rằng trong tương lai không xa, dầu tràm Tân Trưng tiếp tục có mặt trên thị trường tỉnh nhà, các tỉnh lân cận, để duy trì loại dược liệu quý được mọi người ưa chuộng.
N.T.N




