Năm 1954, sau 9 năm anh dũng kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, ngày 21 tháng 7 năm 1954 Hiệp định Giơ - ne - vơ đình chỉ chiến tranh ở Đông Dương được ký kết. Vĩ tuyến 17 được chọn làm giới tuyến quân sự tạm thời chia đôi hai miền Nam - Bắc để quân đội hai bên tham chiến tập kết về hai phía nhằm tránh tái diễn một cuộc xung đột vũ trang trong thời gian chuẩn bị Tổng tuyển cử tự do thống nhất đất nước. Pháp rút quân về phía Nam vĩ tuyến 17, miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Huyện Vĩnh Linh của tỉnh Quảng Trị nằm ở phía Bắc vĩ tuyến 17 nên thuộc về miền Bắc xã hội chủ nghĩa và trở thành Khu vực hành chính đặc biệt trực thuộc Chính phủ Trung ương Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 15 - 9 - 1959, Ủy ban Hành chính Khu vực Vĩnh Linh đã ra Quyết định số 919/QĐ-UB thành lập Trường cấp II - III Vĩnh Linh. Năm học 1960 - 1961, Trường chính thức mang tên trường cấp III Vĩnh Linh. Ngay sau khi thành lập, Trường cấp III Vĩnh Linh có nhiệm vụ chiêu sinh và dạy học sinh là con em Khu vực Vĩnh Linh, đồng thời tiếp nhận học sinh các huyện phía Nam vĩ tuyến 17 của tỉnh Quảng Trị tập kết ra Bắc vào học.
Trong dòng chảy lịch sử, Trường cấp III Vĩnh Linh (1959) là ngôi trường Trung học phổ thông thứ hai được thành lập, sau Trường Trung học Nguyễn Hoàng (1951), nhưng là Trường Trung học phổ thông đầu tiên của chế độ xã hội chủ nghĩa trên mảnh đất Quảng Trị yêu thương.
Được sự quan tâm đầu tư của cả nước mà trực tiếp là Bộ Giáo dục, ngay từ những ngày đầu mới thành lập, Bộ đã ưu tiên điều động những giáo viên giỏi về Trường cấp III Vĩnh Linh. Đó là những giáo viên ưu tú đang công tác tại các tỉnh miền Bắc và các sinh viên vừa tốt nghiệp Đại học sư phạm Hà Nội như: Nguyễn Khắc Nhân, Lê Duy Minh... Nên chỉ trong một thời gian ngắn, Trường cấp III Vĩnh Linh đã nhanh chóng trưởng thành, chất lượng dạy và học không ngừng được nâng lên ngang tầm với các trường cấp III tiên tiến trên toàn miền Bắc.
Sáu năm học êm đềm trôi qua thanh bình với nhiều thành tích nổi bật, nhưng chiến tranh đã ập đến...
Ngày 7 tháng 2 năm 1965, lấy cớ Quân Giải phóng miền Nam tấn công căn cứ không quân Mỹ tại Pleiku, Tổng thống Mỹ ra lệnh mở “Chiến dịch Flaming Dart” cho máy bay ném bom Đồng Hới - Quảng Bình và thị trấn Hồ Xá - Vĩnh Linh để trả đũa. Chiến dịch không kích này đã chính thức mở màn cho cuộc chiến tranh phá hoại khốc liệt bằng không quân lần thứ nhất của Mỹ đối với miền Bắc Việt Nam.
Theo dự kiến, Mỹ sẽ đồng thời ném bom cả hai mục tiêu mà chúng đã trinh sát lựa chọn nói trên vào cùng giờ ngày chủ nhật 7 - 2 - 1965 để giành thế bất ngờ.
Cựu Trung tá phi công quân đội Sài Gòn, Nguyễn Huy Cương, người tham gia trận ném bom thị trấn Hồ Xá và vùng phụ cận chiều 8 tháng 2 năm 1965 kể lại trong Hồi ký của mình: “Trong phi vụ Bắc phạt này, tôi được chỉ định làm phi công phụ cùng bay với tướng Kỳ trên một chiếc Skyraider A-1E, nhưng vì tôi chưa bao giờ bay kiểu máy bay này nên Thiếu tá Tường đã thay thế tôi (Tôi bay trong phi tuần số 2)... Phi vụ được dự trù sẽ diễn ra vào ngày 7 tháng 2, nhưng bị bãi bỏ vì lý do thời tiết. Cuộc đột kích được dời lại vào ngày 8 tháng 2... Các phi cơ lần lượt cất cánh: một chiếc A-1E và 25 chiếc A-1H... Tôi dẫn đầu một phi tuần 4 chiếc bay ngay sau phi tuần số 1 của tướng Kỳ. Tiếp theo sau đó là 5 phi tuần, mỗi phi tuần 4 chiếc, do các phi công từ các Phi đoàn 514, 516, 518 và 520 điều khiển. Phi tuần sau cùng do Trung tá Dương Thiệu Hùng hướng dẫn. Sau hơn một giờ bay, chúng tôi đến vùng phi quân sự, và vượt qua sông Bến Hải. Ngay bên bờ phía Bắc, tôi thấy ngay một lá cờ đỏ thật lớn với ngôi sao vàng chính giữa: chúng tôi đã vào không phận Bắc Việt... Cuộc không kích được triển khai nhanh chóng, lực lượng oanh kích đã bắt đầu dội bom Vĩnh Linh...”
Trong trận oanh tạc đầu tiên của Mỹ và Không quân Quân đội Sài Gòn xuống thị trấn Hồ Xá chiều 8 - 2 - 1965, mục tiêu “doanh trại” Trường cấp III Vĩnh Linh bị ném tới 30 quả bom gồm cả hai loại 500 puond và 250 puond. (Mỗi puond tương ứng khoảng 450 gram. Hiểu nôm na là Trường cấp III Vĩnh Linh bị ném 30 quả bom, một loại nặng 250 kg, một loại 150kg). Trường học 2 tầng khang trang, nhà hiệu bộ, thư viện, phòng thí nghiệm bị phá hủy hoàn toàn. Đau đớn nhất là tổn thất vô cùng to lớn về sinh mạng, thầy giáo Lê Duy Minh, Chủ tịch Công đoàn nhà trường, là giáo viên dạy văn giỏi cấp miền Bắc (cấp Quốc gia) cùng bảy em học sinh ngã xuống khi trong tay vẫn còn cầm giáo án và sách vở.
Sau trận ném bom man rợ ngày 8 tháng 2 năm 1965 của Mỹ, để bảo đảm an toàn cho giáo viên và học sinh đồng thời tiếp tục hoàn thành chương trình năm học, Ủy ban hành chính và Ty Giáo dục Khu vực Vĩnh Linh ra lệnh cho Trường cấp III Vĩnh Linh sơ tán về thôn Hòa Bình xã Vĩnh Hòa, cách trường khoảng 4km để học sinh tiếp tục đến trường hoàn thành chương trình học kỳ II năm học 1964 - 1965 như kế hoạch.
Ba tháng học kỳ II của trường diễn ra trong bối cảnh hết sức khó khăn. Vừa di chuyển đến nơi sơ tán, thầy trò khẩn trương bắt tay làm trường lớp tạm, đào hầm hào phòng tránh và vào học ngay. Lúc đầu, do địch chỉ đánh ban ngày nên trường chuyển sang học đêm. Thời gian học đêm từ 17 giờ 30 đến 21 giờ. Thầy giáo Nguyễn Viết Lãm, năm học 1964 - 1965 học lớp 9 (hệ 10 năm) nhớ lại: Học sinh đi học đêm mỗi em mang theo một cây đèn dầu hỏa che kín bóng đèn chỉ chừa một lỗ nhỏ cho ánh sáng lọt ra chiếu sáng vừa đủ trang vở để ghi bài. Thầy giáo cầm đèn pin soi giáo án giảng bài. Cả khối tập trung một chỗ, nghe thầy truyền đạt nội dung, kiến thức và hướng dẫn, học sinh tiếp thu xong về nhà tự học. Tuy dạy và học trong điều kiện khó khăn như vậy nhưng hoạt động ngoại khóa có quy mô hoành tráng như Hội Văn học; Hội Toán - Hóa - Sinh vẫn diễn ra sôi nổi hào hứng.
Về sau, máy bay Mỹ bắn phá cả ngày lẫn đêm, nhà trường tổ chức cho học sinh chuyển sang học ngày để dễ quan sát, cơ động và xử lý tình huống.
Năm học 1964 -1965 kết thúc, trong điều kiện bị ném bom bắn phá ác liệt nhưng không có học sinh bỏ học, trường vẫn hoàn thành nội dung chương trình năm học. Xét hoàn cảnh đặc biệt của trường nằm trong vùng có chiến sự không thể tổ chức tập trung đông học sinh, Bộ Giáo dục đồng ý cho Trường cấp III Vĩnh Linh tổ chức xét tuyển tốt nghiệp cấp III phổ thông mà không thi tốt nghiệp.
* * *
Năm học 1965 - 1966 bắt đầu trong điều kiện Mỹ tiếp tục “leo thang” chiến tranh, ném bom phá hoại miền Bắc. Trên địa bàn Khu vực Vĩnh Linh, trừ bốn xã dọc phía Bắc giới tuyến quân sự tạm thời, còn lại, tất cả các xã của Khu vực Vĩnh Linh đều bị ném bom, bắn phá liên tục.
Để đảm bảo an toàn trong quá trình học tập, trường được chia thành ba phân hiệu. Phân hiệu I do thầy giáo Trần Đình Kham, Phó Hiệu trưởng phụ trách, điểm trường đóng ở xã Vĩnh Hòa, đón học sinh các xã: Vĩnh Nam, Vĩnh Trung, Vĩnh Tú, Vĩnh Thái, Vĩnh Kim, Vĩnh Long, Vĩnh Chấp, Vĩnh Hòa.
Phân hiệu II, điểm trường đóng ở Vĩnh Lâm do thầy Phó Hiệu trưởng Lê Văn Khinh phụ trách, đón học sinh ba xã Vĩnh Lâm, Vĩnh Sơn, Vĩnh Thủy.
Phân hiệu III, điểm trường đóng ở Vĩnh Tân, do thầy Hiệu trưởng Nguyễn Hữu Bành phụ trách, đón học sinh các xã Vĩnh Quang, Vĩnh Giang, Vĩnh Tân, Vĩnh Thành, Vĩnh Hiền, Vĩnh Thạch.
Học sinh thị trấn Hồ Xá và các cơ quan sơ tán về gần điểm trường phân hiệu nào thì nhập học tại điểm trường đó.
Do điểm trường phân tán, lớp phải bố trí xa nhau để tránh thương vong hàng loạt khi bị ném bom nên học sinh nhiều xã phải đi bộ hàng chục cây số theo các chiến hào liên thôn, liên xã, qua nhiều trọng điểm ác liệt để đến trường.
Nhà báo Trần Đức Nuôi (Vĩnh Trà) học sinh của trường khóa 1963 - 1966, từng làm phóng viên Đài Phát thanh Giải phóng A, sau năm 1975 công tác ở Ban Biên tập Đài Tiếng nói Việt Nam, gọi con đường đến trường của anh và các bạn năm 1966 là “Con đường nắng lửa”. Anh kể: Từ Vĩnh Chấp đến trường toàn đi bộ dưới chiến hào thông từ làng này sang làng khác, xã này sang xã khác. Qua các trọng điểm đánh phá ác liệt như ngã ba Sa Lung, doanh trại cũ của bộ đội, dốc Chợ Vang, Khe Su... thì tranh thủ chạy để vượt qua trọng điểm cho nhanh. Từ nhà đến trường 12km toàn chạy, từ lớp về nhà cũng chạy, thở không ra hơi...
Học trò đi học vất vả như thế, thầy giáo đi dạy cũng không kém. Đổi tiết dạy các thầy cô giáo phải đi bộ từ lớp này sang lớp khác thường là vài ba cây số. Nhiều lần giữa đường đổi tiết bị máy bay ném bom, đến lớp cả người và giáo án lấm lem bùn đất không kịp nghỉ, cứ thế bước lên bục giảng. Nói là lớp học, là bục giảng cho “oai” chứ thực tế các lớp học chỉ là một hầm rộng hình chữ nhật đào sâu xuống đất khoảng 1,5 mét, có kích thước 5 mét x 8 mét, nắp bằng dày tối thiểu 2 gang tay. Từ hầm học có đường giao thông hào dẫn ra bên ngoài. Hầm học có cửa hẹp thông gió nhưng chỉ đủ ánh sáng khi trời nắng, trời mưa âm u thì học trong hầm học trò không thấy vở để ghi bài...
Điều kiện dạy và học như thế nhưng chương trình, kế hoạch năm học vẫn được thực hiện trôi chảy. Thầy giáo Nguyễn Xuân Phùng, học sinh từng đạt giải Khuyến khích trong kỳ thi học sinh giỏi Toán lớp 10 toàn miền Bắc năm học 1965 - 1966 kể lại: “Hội Văn học, một hoạt động truyền thống hàng năm của nhà trường vẫn được tổ chức rất hoành tráng ngay tại Nhà thờ Di Loan, sát bờ Bắc sông Bến Hải, bên kia là Đồn Cảnh sát Dân sự chính quyền Sài Gòn. Nhà thờ Di Loan lúc đó là nhà thờ cũ bỏ không khi đồng bào Công giáo di cư vào Nam năm 1954. Các tác phẩm Văn học là truyện ngắn hoặc đoạn trích tiểu thuyết được đưa vào trích giảng trong chương trình Văn học lớp 8, 9, 10, được các thầy cô giáo bộ môn Văn chuyển thể thành kịch bản sân khấu rồi dàn dựng cho học sinh biểu diễn. Còn Hội Toán - Hóa - Sinh thì các chuyên mục cũng rất phong phú, các bài toán giải phương trình được các thầy chuyển thành thơ đố vui dí dỏm cho học sinh thi giải...
Trong Nhà truyền thống Trường Trung học phổ thông Vĩnh Linh hôm nay còn lưu giữ tấm ảnh chụp trong năm học 1965 - 1966: Thầy giáo Nguyễn Văn Minh dạy môn tiếng Trung Quốc, khi đi dạy, thầy mang theo khẩu súng trường đến treo trên vách lớp, máy bay đến, thầy trở thành chiến sĩ tự vệ đánh máy bay bảo vệ các em, đúng như trong ca từ bản nhạc “Trường tôi” của thầy giáo Hoài Quang Phương: “Người thầy giáo cũng là người cầm súng...”.
Cũng như năm học 1964 - 1965, Bộ Giáo dục đồng ý cho Khu vực Vĩnh Linh được xét tốt nghiệp cấp III cho học sinh khối 10 mà không tổ chức thi. Chương trình học tập của khối 8 và 9 theo quy định của Bộ Giáo dục được thực hiện đầy đủ.
Năm học 1965 - 1966 kết thúc cũng là lúc quân dân Quảng Trị ruột thịt mở mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, Khu vực Vĩnh Linh trở thành trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ. Mặc dù vậy năm học 1966 - 1967 vẫn được khai giảng theo đúng kế hoạch chung của toàn miền Bắc.
Mặc dù chiến tranh ngày càng ác liệt, nhưng năm học 1966 – 1967, số học sinh đến trường lên đến 750 em, đội ngũ quản lý và giáo viên gần 60 người. Không chỉ có giáo viên vừa cầm bút vừa cầm súng mà học sinh lớp cuối cấp cũng tham gia phục vụ cuộc chiến đấu bảo vệ quê hương. Tấm gương dũng cảm bất chấp bom đạn bới hầm bị sập cứu đồng bào bị thương của học sinh Lê Thị Hiệp ở xã Vĩnh Hiền đã đi vào lịch sử truyền thống của nhà trường, được các thế hệ học sinh nối tiếp nhau học tập.
Thầy giáo Hoàng Đức Hoanh từ trên bục giảng đã tình nguyện trở về quê hương Cam Lộ tham gia công tác hoạt động bí mật xây dựng cơ sở cách mạng. Địch xăm trúng hầm bí mật, thầy đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng và hi sinh anh dũng trên đất mẹ Cam Giang. Nêu gương thầy, nhiều thế hệ học sinh của trường sau khi tốt nghiệp đã kế tiếp nhau lên đường ra mặt trận đánh giặc.
Kết thúc năm học thứ 3 trong vùng lửa đạn, Trường cấp III Vĩnh Linh có 95% học sinh đủ điều kiện được xét lên lớp và đỗ tốt nghiệp. Trong năm học cuối cùng của trường trên tuyến lửa Vĩnh Linh, Trường cấp III Vĩnh Linh được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký lệnh số 99/LCT ngày 16 - 9 - 1967 tặng Huân chương Lao động hạng Ba, Bộ Giáo dục tặng cờ thưởng luân lưu, Công đoàn ngành giáo dục Việt Nam tặng Bằng khen.
Học tập trong điều kiện chiến tranh ác liệt nhưng học sinh Nguyễn Thị Bích Hải vẫn đạt giải Ba kỳ thi học sinh giỏi Văn khối lớp 10 toàn miền Bắc.
* * *
Nhận thấy tình hình chiến tranh ngày càng ác liệt, đế quốc Mỹ đang leo những nấc thang cuối cùng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, không thể đảm bảo an toàn cho học sinh đến trường, Trung ương Đảng và Chính phủ chủ trương sơ tán toàn bộ học sinh cả ba cấp học của khu vực Vĩnh Linh ra các tỉnh phía Bắc.
Từ ngày 31 - 8 - 1967, thầy và trò Trường cấp III Vĩnh Linh bắt đầu cuộc hành quân sơ tán ra Tân Kỳ - Nghệ An, để lại sau lưng gần ngàn ngày dạy và học kiên cường trong lửa đạn.
Một ngàn ngày gian khổ hi sinh ấy, trong lịch sử nhà trường là một trong những trang hào hùng oanh liệt nhất.
Một ngàn ngày dạy và học dưới mưa bom bão đạn đã tạo dựng nên tên tuổi những nhà giáo thuộc thế hệ “kim cương đầu giới tuyến”: Lê Duy Minh, Hoàng Đức Hoanh, Đào Tâm Điền, Nguyễn Xuân Tứ, Lê Nguyên Cát, Nguyễn Hữu Bành, Trần Đình Kham, Lê Văn Khinh, Vũ Đóa và lớp học sinh “qua lửa thử vàng”: Xuân Đức, Trần Đức Vân, Trần Văn Chiến, Lê Viết Xê, Ngô Xuân Tiếu, Trần Đức Nuôi, Lê Phước Long, Thái Lãm, Thái Vĩnh Kháng, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Vĩnh Thử, Cao Viết Sinh, Võ Duy Chất, Đào Duy Thanh... và nhiều Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, nhiều sĩ quan cao cấp Quân đội và Công an ưu tú khác.
Trên đất nước ta ít có mái trường nào thầy giáo và học sinh cùng một lúc gánh trên vai hai nhiệm vụ dạy và học, chiến đấu và phục vụ chiến đấu nhưng đều hoàn thành xuất sắc cả hai nhiệm vụ trong ngàn ngày chiến tranh khốc liệt như Trường cấp III Vĩnh Linh, nay là Trường Trung học phổ thông Vĩnh Linh, Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới.
T.P.T




