Những năm cuối đời quân ngũ tôi được tham gia biên soạn bộ sử chiến tranh giải phóng của lực lượng vũ trang và nhân dân Quảng Trị. Tiếp xúc với khá nhiều nhân chứng lịch sử, chi chép về họ tới mấy cuốn sổ tay nhưng khi biên soạn thì không thể đưa hết vào sách. Là vì không sách nào chứa được hàng vạn việc làm của hàng ngàn người dân bình thường cho sự nghiệp giải phóng dân tộc thống nhất nước nhà. Họ chiến đấu, phục vụ chiến đấu thầm lặng, chiến công cũng thầm lặng như cuộc đời họ. Một trong những người đó là Giả Vầng người nữ du kích dân tộc Pakô xã A Túc huyện Hướng Hoá (Quảng Trị).
Giả Vầng (tên thật là Hồ Thị Hòn) đã vào tuổi ngoài bát thập. Năm tháng và đạn bom chiến trận ngày nào đã làm bà già đi như trái núi nhưng khoảng mươi mười lăm năm trước dân bản vẫn thấy bà lặn lội cùng cựu chiến binh vào rừng sâu núi thẳm tìm kiếm và cất bốc hàng chục hài cốt liệt sĩ đưa về nghĩa trang huyện Hướng Hoá. Cái nghĩa cử đẹp đẽ thấm đẫm đạo lý này đâu phải là hành động bột phát mà bắt nguồn từ nhiều năm tháng rèn giũa trong máu lửa chiến tranh ở người phụ nữ Pakô này.
Thuở ấy có lần máy bay B52 ném bom rải thảm núi rừng Hướng Hoá, nhiều quả chưa nổ nằm ngổn ngang rải rác đó đây. Nguy hiểm nhất là một quả to thù lù như con cọp ngồi rình mồi chẹn cả lối đi lên rẫy. Tuy cái bụng thì đói nhưng cái đầu lại sợ, cái chân thì run, không ai dám lên rẫy kiếm củ sắn, săn con thỏ, con chồn. Cả bản xôn xao, thấp thỏm, không biết quả bom nổ lúc nào. Thôi thì “tránh voi chẳng xấu mặt nào” người ta tìm đủ mọi cách đi vòng tránh nó, càng xa càng tốt. Nhưng có một người không thèm tránh mà tìm cách đến gần, đó là Giả Vầng. Chị suy nghĩ hồn nhiên, nó là cọp, là beo hay là gì đi nữa nhưng đuổi đi được rồi thì không thể hại ai được. Nghĩ sao làm vậy, chị tìm đến chỗ bom nằm cố sức lăn, vần nhưng nó lỳ lợm như một tảng đá gắn vào vách núi. Lại gắng sức lăn, vần nhưng vẫn không nhúc nhích. Mệt, đói, mắt đổ hoa cà, hoa cải. Phải nghỉ một lúc lấy sức đã. Dang rộng tay nằm ngửa nhìn đăm đắm lên tán cây rừng lốm đốm nắng, Giả Vầng bồn chồn suy ngẫm. Chẳng lẽ chịu thua nó?
Nhớ lại trước đây vào năm 1961 trong hoàn cảnh khốn khó trăm bề, đội du kích của xã mới thành lập, vũ khí hết sức thô sơ, đi đánh trận mà ngó mặt người nào cũng vàng bợt ra vì đói, vậy mà Giả Vầng đã mưu trí chỉ huy một tiểu đội dùng bẫy đá và tên ná tẩm thuốc độc diệt gọn một trung đội địch đi tuần. Hay cái lần dùng súng trường bắn rơi máy bay cũng nan giải lắm. Biết tin địch sẽ đổ quân xuống đồi Cô ca lui chuẩn bị càn quét lùng sục đường dây 559. Chị ôm súng ngồi phục suốt từ trời còn đẫm sương đêm đến khi ông mặt trời gác núi, bụng cồn cào đói cơm mà chẳng thấy tăm hơi máy bay, máy bò đâu cả. Chờ mãi, đến gần tối mới thấy một chiếc trực thăng “cá nóc” từ hướng đông nam phần phật mò tới. Quên hẳn cơn đói và khát đang dày vò, chị giương súng lên bình tĩnh rê theo mục tiêu đợi đến khi nó sắp tiếp đất mới xiết cò. Chiếc trực thăng bốc khói cố rướn lên nhưng chỉ qua được một ngọn đồi rồi lao xuống vực nổ tan tành. Thế đấy, hai lần đi chiến đấu Giả Vầng đều thắng, thắng giòn giã, mà lạ chưa thắng trong lúc cái bụng hắn đòi ăn. Còn lần này cái bụng hắn cũng đòi ăn y hệt hai lần trước. Liệu có vượt qua được không? Đang nằm nghỉ. Cái chân, cái tay được nghỉ nhưng cái đầu đâu được nghỉ mà rối bời trăn trở nghĩ cách kiếm cái gì ăn đỡ đói và đuổi được “thằng bom” lì lợm. Bỗng nhìn thấy lấp ló dưới tán cây rừng một tổ kiến to treo lơ lững đung đưa theo gió. Ôi! Có cái ăn đây rồi! Chợt nhớ hồi mới cao hơn cái gùi có lần a - ăm (bố) nói “kiến vàng đem nấu canh chua”, a- ăm đã nói thế thì chắc là kiến ăn được. Chị vội trèo lên cây gỡ tổ kiến xuống, bốc một nắm chà cho chết rồi bỏ vào mồm nhai, nuốt. Mùi vị món kiến sống hăng hắc, mằn mặn, cay cay, lần đầu tiên trong đời Hòn nếm thử. Nó nhoèn nhoẹt trong miệng khi nhai nhưng chị cố nuốt, một vốc rồi hai vốc... Uống thêm mấy ngụm nước suối thấy cái bụng đã đằm, dường như khoẻ ra. Chặt một đoạn cây làm đòn, gắng sức bẫy, quả bom nhích dần từng phân, cuối cùng nó phải thua sức người lăn ào xuống vực. Cái tin “con Hòn đuổi được thằng bom Mỹ đi rồi” truyền nhanh khắp bản, bà con vô cùng ngỡ ngàng, thán phục, theo chị vào rừng nhặt hàng oi bom bi chưa nổ quăng xuống vực. Cứ như thế, hết việc này đến việc khác, việc nào được giao chị đều hoàn thành xuất sắc. Có lần đi gùi đạn cho bộ đội, trời tối, đường trơn, vấp ngã gãy 6 chiếc răng cửa khiến chị ngất xỉu. Khi tỉnh dậy thấy gùi của mình đã được san đều cho đồng đội Hòn thét lên đau xót: “Cán bộ không tin cái bụng miềng hay răng mà lấy hết đạn chia cho người khác”. Rồi khóc sướt mướt. Cực chẳng đã người cán bộ vận tải phải trả lại đủ số đạn, chị mới vui vẻ xốc gùi đi tiếp. Rồi chiến dịch Đường 9 – Nam Lào 1971 vừa mới qua một trận sốt nặng, sức khoẻ chưa bình phục hoàn toàn chị lại lăn xả vào làm hết công này đến việc khác từ vác đạn dẫn đường cho xe tăng quân giải phóng đến phối thuộc với bộ đội truy bắt tù binh, việc nào cũng làm tốt.
Giả Vầng - Hồ Thị Hòn và hàng trăm phụ nữ khác ở Hướng Hoá đã hiến trọn tuổi xuân của mình cho núi rừng quê hương, góp phần xứng đáng cho lực lượng vũ trang và nhân dân Hướng Hoá được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVTND - phần thưởng cao quý nhất mà huyện Hướng Hoá đạt được trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Giả Vầng và nhiều đồng đội của bà không chép trong sử nhưng họ là những người góp phần nhỏ bé nhưng vô cùng xuất sắc làm nên lịch sử. Những cống hiến và thành tích của họ trong chiến tranh cách mạng luôn được ghi nhận và sống mãi trong lòng nhân dân.
T.B




