TCCV Online - Cuộc chiến đấu 81 ngày đêm trong Mùa hè đỏ lửa ở Thành cổ Quảng Trị đã khép lại hơn 40 năm nhưng dư âm khói lửa chiến tranh và những kí ức về cuộc chiến theo họ suốt cuộc đời của những người lính sau khi nước nhà thống nhất và trở về với cuộc sống đời thường.
Đường dây hữu tuyến và người thứ ba còn lại
Tân Lâm là một trong những căn cứ lớn, có hỏa lực mạnh nhất của địch ở vùng giới tuyến. Bấy giờ tôi là tiểu đội trưởng, dưới chỉ huy của đại đội trưởng Quang, thuộc đại đội 1, tiểu đoàn 4, trung đoàn 24, sư đoàn 304 (C1-D4-E24-F304) kết hợp với sự yểm trợ của trung đoàn pháo, trung đoàn phòng không, đơn vị chiến xa, bộ đội hoả tuyến, công binh… Nhiệm vụ của chúng tôi là mai phục, tấn công phía Tây Thành Quảng Trị. Quân ta dàn quân mai phục, đào hầm vây lấn ngày đêm ăn ngủ tại trận địa, mục đích câu dầm đợi quân địch mệt mỏi thừa cơ ta tấn công. Địa điểm mai phục của quân ta được chia làm hai vòng. Vòng một cách căn cứ của địch là 80m, vòng hai mai phục bên ngoài cách vòng một là 120m. Tôi thuộc sở chỉ huy đại đội được đóng chốt tại vòng hai, cách căn cứ của địch là 200m, tư thế bọn tôi luôn sẵn sàng xông lên yểm trợ cho vòng một, khi cần thiết. Địch dùng đại liên xối xả bắn ra, quân ta ở vòng hai dùng B41 bắn vào. Tình hình chiến sự rất nóng bỏng, chốt điểm vòng một của ta vì đang mai phục bí mật nên có lệnh tuyệt đối không được nổ súng, tránh bị bại lộ. Hai bên đang kiềm chế nhau từng phút từng giây thì bỗng nhiên chúng tôi mất liên lạc với chốt điểm vòng một phía trước, đại đội trưởng Quang dáng người rất thư sinh nhưng khi chiến đấu thì rất tháo vát và anh dũng. Tôi vẫn còn nhớ tiếng hô của Đại đội trưởng Quang lúc bấy giờ: “Đồng chí Xuân!” “Có tôi” - Tôi tức thì đáp lời. Anh ra lệnh: “đồng chí lần theo đường dây liên lạc bị đứt, xử lý cho thông suốt liên lạc và về báo cáo lại tình hình” .“Tuân lệnh!”. Tôi xách AK nhảy khỏi hầm, vẫy tay hô: “đồng chí Đệ và đồng chí Tuyến theo tôi!” Ba chúng tôi lập tức lao lên theo đường dây hữu tuyến. Tằng…tằng…tằng tiếng súng địch bắn xối sả liên hồi, khói mù mịt trời đất. Chúng tôi vẫn lao về phía trước, được khoảng 50m thấy đường dây liên lạc bị đứt cuốn thành cuộn xoăn tít. Tuyến xông vào nắm lấy đầu dây, tôi ôm súng lăn một vòng tròn về phía trước, vừa chạy vừa tìm đầu dây đứt còn lại, hai thằng tôi bò nghiêng trên mặt đất. Lúc này địch tăng cường bằng hai khẩu đại liên bắn chéo nhau, tôi tìm được đầu dây đứt bên kia nhưng quay lại thi Tuyến đã ngã lăn ra đất, Đệ vừa tới kịp lao vào ôm lấy Tuyến. Tuyến đưa mắt nhìn Đệ rồi nhìn tôi, tiếng của Tuyến yếu ớt trong tiếng súng đạn mịt trời. “a…nh… ph…ải …là… li…ên…l…ạc…số…ng!”. Tôi không đủ thời gian nghĩ gì ngoài nhiệm vụ được giao chưa hoàn thành. Tôi nhìn Tuyến lần cuối cùng rồi lệnh cho Đệ ở lại lo cho Tuyến, nén nỗi đau mất bạn vào lòng, một mình tôi tiếp tục xông lên. Tôi cắm đầu chạy về phía trước, dưới làn đạn của địch nã như mưa. Cách chốt điểm vòng một của ta chừng 70m, vì sợ địch phát hiện chúng tôi đã chớp nhoáng làm tín hiệu riêng như đã thống nhất theo kiểu mã hoá hình ảnh, động tác. Các đồng chí bên chốt sử dụng một cái que bất kỳ, giơ lên, nếu que đứng thẳng là đồng đội an toàn, nếu que nằm nghiêng thì có sự tổn thất, que càng nghiêng nhiều thì quân mình tổn thất càng lớn. Tôi thở phào vì thấy chiếc que giơ lên vẫn thẳng đứng, biết được đồng đội mình ở đó vẫn an toàn. Đáp lại tín hiệu từ chốt điểm vòng một, tôi đưa hai ngón tay trỏ bắt chéo, nghĩa là tôi ra lệnh cho đồng đội phải bám trụ đến cùng, khi nào trời tối hẳn, chờ lệnh mới được rút quân. Tôi đưa tay sờ nắn khắp cơ thể thấy mình không bị trúng đạn, kiểm tra lại tư trang thì thấy cái quai súng của mình bị xiên thủng hai lỗ, quay lại tìm đồng đội nhưng không thấy Đệ và Tuyến đâu nữa, trở lại sở chỉ huy tôi báo cáo tình hình và nhận lệnh tiếp của đại đội trưởng Quang. Hôm đó đại đội tôi đã hy sinh khá nhiều, hai thằng trong nhóm bộ tam cùng xông lên nối đường dây liên lạc với tôi còn rất trẻ, cả ba chúng tôi đều mới vừa bổ sung về đại đội 1 nên chưa kịp hỏi về hoàn cảnh của nhau. Không biết gia đình tụi nó thế nào. Riêng có điều này thì tôi hiểu rất rõ, hành trang của tôi, của Đệ và Tuyến, khi xông pha ra chiến trường chỉ có trái tim nóng bỏng tuổi hai mươi, cứ hồn nhiên dâng hiến cho Tổ quốc và cũng thản nhiên nhận về mình cái chết nhẹ như lông hồng. Tôi thấy mình còn may mắn hơn nhiều so với những đồng đội đã phải nằm lại chiến trường. Đến tận giờ tôi vẫn chẳng lý giải được, dưới làn mưa đạn của địch như vậy mà tôi vẫn còn sống sót? Có lẽ, tôi chỉ còn biết cảm ơn cái quai súng nó đã hứng những viên đạn thay tôi để cho tôi được bình an. Nhưng … Tuyến ơi! Đệ ơi!
***
Căn hầm và người sống sót
Tối 23-7- 1972 tức ngày thứ 26 trong 81 ngày đêm, khi trời tối hẳn, anh em chúng tôi nhận được lệnh rút quân về tuyến sau để nhận nhiệm vụ mới. Lúc này trong căn hầm trực chiến của chúng tôi chỉ còn lại ba người. Ở cái khoảng lặng giữa những trận đánh, ba thằng tôi lại có những phút giây ít ỏi để nhớ nhà. Thằng Dũng quê Thanh Hóa, cái thằng gan lì mà thật hóm hỉnh, nó hớn hở khoe với chúng tôi: “tin vui nỳ anh em ơi! Bữa ny đơn vị có quà hậu phương gửi vô đó! Mỗi thằng được một điếu Tam Đảo đầu đỏ ny và hai chiếc kẹo Hải Châu, thông báo hết!”. Vừa nói Dũng vừa tung gói quà vào tay Lâm. Lâm là người dân tộc Tày quê ở Bắc Kạn, người to béo ít nói. Lâm lặng lẽ bóc gói quà rồi chia cho tôi và Dũng, nó giữ lại một phần cho mình, Lâm cất hai chiếc kẹo để dành, và bảo: “Ây dà, quà hậu phương nó gửi là quý lắm vớ! Quà đến được tận nơi cũng như người nó đến tận nơi rồi à!”. Nó tìm một góc ngồi châm lửa hút thuốc. Bên này Dũng hỏi tôi: “anh Xuân đã có tình yêu chưa?”. Nghe Dũng hỏi tôi mới nhớ, quả thật, từ lúc rời ghế nhà trường vào bộ đội chỉ toàn luyện tập đánh đấm, súng đạn chứ chưa hề có cảm xúc và không có thời gian nghĩ về chuyện yêu đương. Tôi chưa kịp trả lời thì Dũng lại hỏi vui tiếp: “sao như anh đang nhớ ai?!”. Tôi cười đáp: “nhớ bố mẹ, gia đình, nhớ làng xóm quê hương chứ còn nhớ ai!”, Giọng Dũng trầm xuống: “Tui cũng rứa, ở nhà bây chừ đang mùa chanh đỏ, vườn chanh không biết mùa ny trái đậu sai không? Mẹ tui ngày nào cũng dậy sớm mang chanh đi chợ, tui thương mẹ quá!”. Tôi hỏi Dũng: “vậy còn cậu thì sao, đã yêu chưa?”. Dũng hào hứng kể: “Một cô bé hàng xóm dễ thương lắm! Chiều nào cổ cũng sang phụ mẹ tui hái chanh, hôm nào cũng vậy trước khi về cổ không quên đun cho mẹ và tui một nồi nước lá chanh thơm nóng để gội đầu”. Tôi vỗ vai Dũng, nói tếu: “vậy là ông tướng hơn bọn tôi rồi!”. Dũng tâm sự: “tui thương và nhớ cổ nhưng đến giờ tui vẫn chưa kịp nói gì với cổ”. Tôi trách Dũng: “sao giờ vẫn chưa nói?”. Dũng trả lời: “chiến tranh mà, tui định bụng khi nào thống nhất đất nước sẽ trở về nói với cổ”. Tôi nhìn về phía cuối hầm, ở đó có tiếng sụt sịt, hình như thằng Lâm nó đang khóc?! Bỏ nốt chiếc kẹo vào mồm, Dũng kéo tay tôi , cả hai cùng đứng dậy, chưa kịp an ủi Lâm. U..u…ù…ùng, bất ngờ một tiếng nổ lớn. Bỗng ngực tôi tức nghẹn, tôi cố vùng vẫy nhưng mỗi lúc càng khó thở hơn, muốn kêu lên nhưng không thể mở miệng. Cảm giác tôi sắp chết đến nơi rồi, đầu ngón chân đau buốt, cùng lúc nghe có tiếng gọi ới ới, rồi tôi không biết gì nữa. Sau này được nghe kể lại mới hay là một quả bom đã độn thổ chính giữa căn hầm chúng tôi, trong lúc đào bới, đồng đội đã vấp vào bàn chân thò nhô lên mặt đất của tôi, khi họ lôi tôi lên thì máu trong miệng tôi ộc ra. Tôi được đưa về điều trị ở trạm phẫu phía sau. Sau này tôi mới biết tôi bị ngạt do sức ép của bom và bị đất vùi làm vẹo và chấn thương cột sống. Ngay đêm hôm đó cả đại đội tôi tìm kiếm, đào tung cả khu hầm nhưng chỉ thấy thi thể của Hoàng Văn Lâm, quê ở Bắc Kạn. Lâm to khoẻ là thế, chiến đấu gan lì là thế, vậy mà, có lúc cũng khóc sụt sùi vì nhớ nhà, nhớ mẹ. Không dám ăn hai cái kẹo, giữ làm tín vật hậu phương… Vậy mà Lâm không còn nữa. Còn Nguyễn Văn Dũng, quê Nông Cống - Thanh Hoá thì mọi người đã không tìm thấy anh. Lâm và Dũng mãi ở lại đất Thành Cổ! Để rồi đêm đêm cỏ cây vẫn thì thầm kể chuyện cho đồng đội tôi nghe về mẹ, về gia đình, làng bản, về mối tình đầu trong vắt, nưng nức hương hoa chanh vườn nhà .
***
Người con gái trên dòng sông Ba Lòng.
Một đêm cuối tháng 8- 1972 tôi mơ hồ nghe y tá nói: Tình hình chiến sự và thời tiết thuận lợi nên nội trong đêm phải di chuyển toàn bộ thương binh vượt dòng sông Ba Lòng về trạm phẫu phía sau an toàn. Lúc đó toàn thân tôi còn đang bất động, chỉ có hai tay còn cử động chút ít. Tôi được đưa đi bằng cáng thương, ra tới bờ sông họ đặt tôi lên chiếc thuyền cao su, chiếc thuyền chỉ có thể chở được hai người. Tôi được bàn giao cho một nữ dân công hoả tuyến người Quảng Bình. Đêm đó có rất nhiều thương binh được chuyển đi. Những chiếc thuyền được dàn ra mặt sông, tránh sự chú ý của địch. Ánh trăng mờ, không đủ để tôi nhìn rõ mặt người dân công hỏa tuyến nhưng, chiếc áo tối màu của cô làm nền để lộ hai cổ tay tròn trắng, thân hình cô khá đầy đặn, tôi nghĩ cô ấy rất trẻ. Cả hai chúng tôi cùng im lặng, tôi nằm bất động trên thuyền, toàn thân đau nhức, mê man trong cơn sốt. Chợt một giọng nữ người Quảng Bình ngân lên từ khúc sông dưới: “khoan khoan hò khoan…ơ…ơ…”. Giọng ca hồn nhiên, trong trẻo làm tôi bừng tỉnh. Tôi hé mắt nhìn bầu trời thật trong và cao, ánh trăng thật mơ mộng, nơi đây như chưa từng có bom đạn. Tôi mơ màng như mình đang bơi giữa chốn yên bình, có trăng sao sông nước lung linh, có người con gái quê dịu dàng, có tiếng hò quê hương ngọt ngào bay bổng, tôi như đang dần sống lại giữa tình quê rất gần. “Hậu phương đây rồi!Chiến thắng rồi!” - Tôi thốt lên và thầm nhủ : “giữa chốn mưa bom bão đạn mà vẫn có tiếng hát lạc quan , hồn nhiên đến thế thì quân ta cầm thắng chắc rồi!”. Những cô gái đã mang hơi thở hậu phương đến tận chiến trường khói lửa, nhóm lên tràn ngập niềm tin chiến thắng, làm sống lại những thương binh tưởng chừng đã chết như chúng tôi. Tiếng trực thăng từ xa vọng lại, mỗi lúc một gần, cắt ngang dòng cảm xúc khiến tôi bừng tỉnh. Cô gái vội đẩy thuyền nhanh hơn, chiếc trực thăng gầm rú lượn qua đầu chúng tôi rồi quay lại tìm kiếm, thi thoảng lại bắn một hồi vu vơ. “Gần tới bờ chưa cô?”- Tôi lo lắng hỏi. “Gần tới rồi, đồng chị cố lên ha!”- cô gái vừa an ủi tôi vừa liên tục khua chèo, chiếc mũ tai bèo lật về phía sau. Bỗng cô nhảy tùm xuống nước, phía trước có một cành cây to chặn ngang khúc sông, hai tay cô vừa đẩy vừa lôi thuyền về hướng khác, người cô ướt sũng, ánh trăng rọi vào mái tóc đen bị buột ra xõa xuống khuôn mặt còn rất trẻ. Lúc này bỗng nhiên tôi không còn đau đớn mà chỉ ái ngại cho cô gái, sợ cô kiệt sức vì quá mệt. Tiếng máy bay mỗi lúc gần hơn, nó đang quay trở lại. Hình như mọi thuyền khác cũng đang cập bờ? “Tới bờ rồi, cố lên nào các đồng chí ơi!”- Vừa hô cô gái vừa nhảy ra khỏi thuyền, hai tay cô đẩy thuyền vào bờ. Chiếc trực thăng đang soi trên đầu, nó quạt rẽ những khóm cây bụi cỏ ven bờ, rồi nhả đạn vu vơ vào những chỗ khả nghi, vừa đó thôi bầu trời còn thơ mộng là thế, vậy mà giờ đây cả khúc sông lại cồn lên bão lửa. Tằng...tằng…tằng. Cát ở cạnh thuyền tôi tung lên, trong tích tắc cô gái chồm lên tôi, cả thân thể cô với khuôn ngực ấm nóng đè lên người, lên cổ, lên mặt tôi. Tôi biết cô làm động tác che đạn cho tôi. Bất chợt, một cảm xúc lạ trào lên trong tôi. Nỗi sợ bom đạn, trước sự sống và cái chết hòa lẫn cảm xúc đầu đời của một chàng trai tuổi 20 chưa một lần tiếp xúc thịt da người con gái. Lần đầu tiên trong đời tôi tiếp xúc con gái ở cự ly gần nhất, lại trong hoàn cảnh sự sống và cái chết cận kề . Trong giây phút ngắn ngủi tôi kịp nhận ra, khi phải đối mặt với kẻ thù, cái chết dẫu càng gần thì tinh thần đồng đội càng trở nên cao cả, sức mạnh lòng yêu nước càng trở nên cháy bỏng đến tột cùng, đức hy sinh càng dài càng rộng. Bởi vậy, cô gái đã không do dự ôm trọn cơ thể tôi, quên mình để che đạn cho tôi. Bỗng tôi giật mình khi thấy nóng nơi bả vai, tôi sờ tay lên vai. “Trời ơi, máu! Tôi bị thương rồi đồng chí ơi!”- Tôi thốt lên, hai tay vừa lay gọi cô gái. Cô gái từ từ ngồi dậy, cô cũng đưa tay ôm lấy bả vai mình, không kịp nói gì, cô gục xuống. Tiếng trực thăng đã xa dần, đằng kia những thuyền khác cũng đang di chuyển vào bờ, tôi nghe một giọng nữ người Quảng Bình gọi to:“chúng bây ơi, cái Thắm bị thương rồi!”. Mọi người đổ lại chỗ chúng tôi, họ gọi cô ấy là Thắm và đưa cô ấy đi. Bàng hoàng như vừa trong cơn ác mộng, tôi lại tiếp tục sốt li bì, tỉnh dậy thấy mình nằm ở một trạm phẫu phía sau an toàn. Cũng từ đó tôi không có tin gì về những cô dân công hỏa tuyến trên sông Ba Lòng đêm ấy nữa. Sau này tôi có hỏi thăm một số nơi nhưng cũng không ai hay. Giờ đây họ ra sao? Ai còn ai mất? Và cô gái tên Thắm, người đã để lại một vạt máu nóng trên bờ vai tôi để hoàn thành nhiệm vụ giữ mạng sống cho thương binh. Bây giờ có còn hay đã hy sinh ngay từ đêm ấy? Mong sao vẫn còn sống đến hôm nay! Từ đó tôi luôn thấy mình nợ người con gái tên Thắm trên dòng Ba Lòng năm xưa một mạng sống mà không bao giờ trả được. Các đã góp những giọt máu của mình, viết lên những chiến công với tinh thần quyết tử làm nên chiến thắng Thành Cổ, xứng đáng là những nữ dân công hỏa tuyến anh hùng của cách mang Việt Nam. Qua bài viết này tôi xin được bày tỏ lòng tri ơn tới tất cả các chị đã cứu và đưa những thương binh chúng tôi qua sông Ba Lòng đêm ấy. Tôi hy vọng ở đâu đó, người con gái tên Thắm năm xưa, nay là bà Thắm sẽ đọc được dòng tâm sự này mà liên lạc với tôi. Đó là ước nguyện lớn của tôi và cả gia đình tôi.
N.T.S
Thái Nguyên, tháng 4 - 2014




