|
N |
gày 25/3/1972 - Đêm tối sùng sũng. Trời mưa lất phất và gió hun hút lạnh. Chiếc xe vận tải nhỏ loại Gát 53 của Liên Xô chạy lắc lư qua những ổ trâu, ổ voi trên đoạn đường chiến lược.
Choàng tấm nilon, mình ngồi dúi vào một góc xe, dựa lên chiếc máy vô tuyến gật gù ngủ. “Qua cầu Long Đại rồi! Đây là đâu nhỉ?” “Vừa qua Mỹ Đức, có lẽ đây là Phú Thuỷ!” Tiếng anh em nói với nhau qua tiếng gió ù ù. Anh Bàng tiểu đội trưởng nhắc nhở: “Nói nhỏ thôi! Đây là ngã tư Thạch Bàn! Ra vào bao nhiêu lần rồi mà không nhớ. Cãi nhau mãi. “Tiếng xe hình như tắt hẳn, không thấy xóc nghiêng ngả nữa. “Hạ sĩ Ngát đâu?” Có tiếng gọi hơi gắt của tiểu đội trưởng. Mình choàng dậy, thấy anh em đã xuống xe hết cả. Qua ánh đèn pin, kim đồng hồ chỉ 22 giờ. “Tiểu đội chú ý! Một hàng ngang, tập hợp!” Tiếng vũ khí, khí tài lách cách rồi im lặng. “Đây đã là đất Vĩnh Linh. Chúng ta sẽ hành quân năm cây số nữa, tạm nghỉ tại nông trường cao su Quyết Thắng mấy ngày, Toàn tiểu đội phải tuyệt đối giữ bí mật và chấp hành kỷ luật chiến trường. Rõ chưa?” Lý đứng cạnh tôi, lèm bèm: ”Biết rồi, khổ lắm... Ra vào cả chục lần, bố cứ nhắc mãi.” Cả tiểu đội thông tin 12 người ở chung một cái lán của đội 9, nông trường Quyết Thắng. Ba ngày liền nghỉ ngơi, sinh hoạt “nhỏ nhẹ”. Trời vẫn mưa liên tục, chỉ ăn rồi nằm ngủ. Công nhân nông trường khá đông, họ sống thành từng đội, từng khu, nhưng bọn mình không dám tiếp xúc với ai. Từ đây đến chỗ địch đi bộ hơn ngày đường, ngày nào súng lớn của ta và địch cũng nổ xen nhau.
Ngày 29/3/1972. Lệnh hành quân chiến đấu. Tiểu đội xuất phát lúc 7 giờ 45 phút, im lặng, không lời chia tay. Lần trở lại chiến trường năm nay, xác định của đơn vị là nhiệm vụ nặng nề, gian khổ hơn. Bởi cục diện chiến trường đã có nhiều thay đổi. Sự gian khổ thấy ngay trong ngày đầu tiên. Suốt tám tiếng đồng hồ hành quân dưới trời mưa tầm tả. Đường núi lầy lội, hiểm trở. Hai ống quần Tô Châu mới tinh của mình lấm bết đất đỏ vì ngã liên tục. Anh Bàng chạy đến bên cạnh: “Cậu Ngát liệu có theo kịp đơn vị không? Cố lên, đưa cái ba lô tôi mang cho.” Những chiến sĩ thông tin lên máy giỏi như mình luôn được chú ý như vậy. Kỳ ra Bắc cuối năm ngoái, mình về nhà và tranh thủ cưới vợ. Sau một tháng nghỉ phép, anh em ai cũng kêu mình sức khoẻ “có vấn đề”. Hôm nay thì mệt quá. Đang lúc tưởng không lê nổi bước nữa thì đến chỗ nghỉ. Một đơn vị bạn đang đóng quân ở đây và có nhiệm vụ giữ chốt. Mấy cậu bộ binh nhăn nhở trêu “D18 hả? Sao vào sớm thế? Chiến dịch đã bắt đầu chưa?” “Không vào sớm thì ai chỉ đạo cho các tướng đánh đấm thế nào?” Một cậu đang lau súng, cầm băng đạn AK chỉ ra xung quanh: ”Quanh đây đã dì dòm ba ngày nay rồi! Các tướng vào trong ấy liệu mà giữ gìn đấy!” Chẳng phải cánh lính chốt doa tụi mình, mà tình hình đang nóng lên thật. Suốt từ chiều đến nửa đêm pháo ta và pháo địch đấu nhau quyết liệt. Gần sáng, có quả pháo nổ gần hất tung cả mấy chiếc võng, có tiếng chửi: “Đ...mẹ thằng Mỹ nhá! Không cho các bố mày ngủ à!”. Có tiếng M79 nổ ục... oàng, tiếng AR15 nổ xé gió, tiếng AK chan chát đáp lại. Tiếng chỉ huy đơn vị truyền đến: “Địch chiếm chốt đấy! Các đồng chí thông tin nằm tại chỗ!” Súng lại rộ lên, đạn lửa vạch ngang dọc ngay trên đầu. Bọn địch không ngờ có một trung đội quân ta đóng dưới chốt vòng lên đánh chọc sườn. Tiếng hò hét kêu la loạn lên một hồi rồi bọn địch rút chạy, bỏ lại 40 xác chết, một tên đại uý bị bắt, trông hắn ngơ ngơ, mặt trắng bệch, dáng vẻ thư sinh. Mấy chiếc cáng thương binh của ta khiêng ngang qua chỗ mình. Cậu lính trẻ măng nằm trên chiếc cáng đi cuối cùng mặt lấm tấm mồ hôi, răng nghiến chặt. Cánh tay bị gãy lìa đầm đìa máu. Mình xoa nhẹ lên vai cậu ta: “Đau lắm phải không em! Cố lên nhé!” “Tiểu đội hai đi chôn cất liệt sĩ nhé!” Mình níu tay một người hỏi: “Mấy?” “Ba!”
Ngày 5/4/1972. Mấy hôm nay tiếp tục hành quân sâu vào vùng chiến. Cả đơn vị im lặng đi bên nhau, không ai nói gì. Trời vẫn mưa thối đất. Đi trong mưa, nghỉ trong mưa, ăn trong mưa. Quần áo, ba lô, lương khô, tất cả đều ướt sũng. Mình cố che cho cái máy vô tuyến khỏi ướt, còn thì mặc cho nước mưa tưới từ đầu đến chân. Hôm nay đi khá vất vả, đến 14 giờ thì tập kết. Đào công sự xong, cứ ướt mèm như thế dựa lưng vào vách đất ngủ một giấc. Lý lay mình dậy, đưa cho một thanh lương khô ướt nhoét: “Này! Cố mà ăn đi. Lấy sức còn chuẩn bị lên máy.” Vừa đeo cáp nghe vào tai, tin chiến thắng làm mình quên cả đói và mệt. Quân ta đã chiếm được Cồn Tiên, Cam Lộ. Cao điểm Phu Lơ (544) cũng bị ta dọn nốt. Hôm 2/4 ta dùng hỏa lựa mạnh tấn công điểm cao 241. Cao điểm này có 600 lính địch do một trung đoàn trưởng chỉ huy. Máy bay địch quần đảo liên tục, pháo địch bắn chặn xung quanh cao điểm hòng yểm trợ cho 241. Một phản lực Mỹ bị tên lửa ta bắn cháy ngay trên làng An Thái. Lý hò hét: “Giỏi quá! Mấy thằng tên lửa phục chỗ nào mà hay thế nhỉ?” Ta dùng loa địch vận. Bên phía địch cử một đại uý cầm cờ trắng ra xin gặp chỉ huy quân giải phóng. Dưới ấp Tân Tường, địch dồn đóng lại rồi rút chạy hàng loạt.
Mấy ngày không được bữa cơm nào, toàn ăn lương khô nên có cảm giác người cũng khô đi. Nhìn số lương khô dự trữ, mình đoán sẽ còn phải ăn lương khô dài dài. Để giữ bí mật, nước uống cũng không được nấu, cứ nước suối vã mãi thế này sợ bị sốt rét mất. Tình hình chung đang sáng sủa lên. Chỉ mấy ngày mở màn chiến dịch ta đã tiêu diệt và bắt sống hơn 6000 lính địch, bắn cháy hàng chục máy bay. Có tin Cửa Việt đã giải phóng.
Tổ thông tin ba người của mình tiếp tục hành quân về địa điểm mới. Nhiệm vụ quan trọng nhưng lại có vẻ nhàn nhã giữa những trận đánh đầy máu lửa. Những nguy hiểm gian khổ cũng ít ai biết đến. Như hôm nay chẳng hạn. Gấp rút đi liền một mạch từ 15 giờ đến 21 giờ, đói thì giở lương khô ra ăn, khát thì vốc nước suối. Súng nổ ầm ầm xung quanh, pháo sáng cháy liên tục, vàng khè ma quái. Lúc cắt phương vị vào một ven đồi. Tổ trưởng Thế dừng lại bảo: “Lạc đường rồi!” Cả ba nghếch mặt nhìn trời, chỉ thấy lấp lóa ánh pháo sáng. Bây giờ mà lạc đường thì khốn nạn đây! Lý than thở. Thế quyết định cho tổ đi về phía bên trái, nhưng mới đi khoảng 50 mét pháo địch nổ cấp tập ngay phía trước. Lại vàng sang bên phải, vừa đi vừa nghe tiếng súng để nhận ra quân mình. Lần mò mãi đến hai giờ sáng mới tìm đến vị trí X. Tiếng súng tiểu liên cực nhanh rèn rẹt phía trước mặt. Cả tổ đã nằm ngay sau lưng quân địch. Kệ cha nó! Ba thằng bảo nhau thế rồi chui vào dải rừng non cây lúp súp, trải nilon nằm nghỉ.
Ngày 12/4/1972. Một tuần liền bám vị trí X. Suốt từ ngày 30/3 đến nay toàn lương khô nước suối. Đêm thức từ 4 đến 5 giờ lên máy. Chỉ có hai người biết lên máy nên rất vất vả. Thiếu ăn, thiếu ngủ, người ngợm bẩn thỉu, trông đứa nào cũng nhếch nhác, phờ phạc. Chiếc hầm cũ bị đạn pháo làm hỏng, lại ở về phía địch, nguy hiểm quá. Cả tổ bàn nhau chuyển hầm sang bên kia sườn núi. Mất một đêm và buổi sáng mới đào xong hầm. Đêm chuyển hầm thì trời lại mưa to. “Quân phản động!” Lý nói lập bập trong mưa. Mình hỏi lại: “Ai phản động?” “Thằng trời!” Thế an ủi: “Chịu khó ướt một chút, mưa thế này càng đảm bảo bí mật”. Chuyển xong hầm, Thế cho cả tổ lần lượt xuống chân núi tắm giặt. Người nhẹ bẫng như muốn bay lên được. “Thằng Ngát có bốn lá thư nhận hôm kia, mang ra đọc đi!”. Đúng là có bốn lá thư thật, mấy hôm căng thẳng quá chưa kịp đọc. Lá thư của cô Ba ở Hà Tĩnh: “Em nhớ các anh lắm, bao giờ các anh trở lại...” Lý bảo: “Để cho tao! Mày có vợ rồi!” Bỗng hắn cau mặt kêu: “Thèm cơm quá. Bây giờ mà được bát cơm nguội nhẩy!”
Buổi sáng trời trong vắt, nắng dịu, nên máy bay địch hoạt động cả ngày. Từ sáng đến chiều không ngớt tiếng bom đạn. Lưới lửa phòng không của ta hất bọn chúng lên cao, ném bom không chính xác. Mình định chui vào bụi cây nghỉ một chút thì nghe dưới chân núi có tiếng nổ ầm, đó là chiếc phản lực địch bị ta bắn rơi, nổ tung. Chiếc dù nửa đỏ nửa trắng lơ lửng ngay trước mặt mình. Tên phi công cố co chân lên như sợ đạn phía dưới bắn vào. “Mẹ mày chứ! Định chuồn à!” Mình chửi tục rồi chụp khẩu AK nhằm chiếc dù bắn điểm xạ hết cả băng đạn. Không trúng vì khoảng cách xa quá . Tên phi công rơi ngay dưới chân núi, cách chỗ mình chưa đầy 1 km. Thế nào bọn trực thăng cũng lên cứu phi công. Phải gấp rút chuyển đài về phía sau và báo cho đơn vị bộ binh dưới kia cho thêm mấy cây súng nữa để sẵn sàng chiến đấu. Đúng lúc ba cậu bộ binh lên đến nơi thì chiếc trực thăng cũng phành phạch bay tới. Nó bắn một loạt 20 ly và ném cối ra xung quanh rồi bắt đầu sà xuống chỗ tên phi công. Bốn khẩu AK đồng loạt nhả đạn, chiếc trực thăng vội nhào lên, sau thấy hoả lực của bọn mình ít, nó lại lao xuống. “Bắn mạnh vào!” Mình hô to, rồi mấy anh em lại nhằm vào máy bay xiết cò. Thằng trực thăng lại ngóc lên, nó bực mình gọi bọn khác. Nhoáng cái, mấy chiến F4 lồng lộn bay tới, ném bom lung tung, anh Pha báo lên là dưới kia có 5 người bị thương vì bom bi, cần ba cậu bộ binh về đơn vị ngay. Khi bọn F4 rút đi, ba người xách súng rút xuống, lúc ấy hai chiếc trực thăng lại mò đến vè vè hạ dần độ cao, mình gọi với theo ba người: “Nó lại lên đấy! Bắn đi đã.” Nhưng ba người kia ở chỗ trống trải sợ bị lộ nên không nổ súng. Mình cáu quá vừa bắn vừa chửi.Hai thằng trực thăng chẳng thèm để ý gì đến tiếng súng lẻ loi của mình. Chúng hối hả hạ cánh đón tên phi công đi mất. Tiếc quá!
Giữa đêm có lệnh rút về đơn vị. Cả tổ lục tục phụ giúp khiêng thương binh ra trạm quân y. Leo dốc, lội suối đi suốt 12 giờ liền mới tới nơi. Mệt lả. Ngay sáng hôm đó có lệnh chuyển tiểu đội đi chỗ khác, nhưng chưa kịp triển khai thì bị địch pháo kích. Những quả đạn pháo hạng nặng nổ ngay giữa đội hình hành quân. Tất cả chỉ kịp lẫn vào chỗ ẩn nấp gần nhất. Mình nhào vào sau một gốc cây bên khe núi. Yên lùn ngọ nguậy cái mũ sát bàn chân mình. Anh Bàng và Hòa nằm bên phải tơ hơ cạnh hòn đá thấp. Trên nữa là Cường và Nghĩa, mình lia mắt tìm đồng đội. Còn Bồng đâu rồi? Quay lại phía sau, thấy Bồng nấp sau một tảng đá, đang giơ tay vẫy và cười với mình. Một làn chớp nhoáng ngay trước mặt. Như có ai cầm vồ nện vào ngực mình, chiếc mũ bay mất, mắt đổ hoa cà hoa cải. Khi mở mắt ra được, thấy cái hố đạn ngay phía trên đầu mình chưa đến 1m. Thoát chết. Có tiếng kêu cứu của Bàng và Hoà, họ đã bị thương. Bên cạnh, Cường đang cố lôi cái chân gãy ra khỏi khe đá. Đang định bò lên giúp họ thì một quả pháo nữa rót vào đội hình. Mình nhìn rõ anh Bồng ngã lăn ra, nửa đầu trên bị mảnh pháo phạt bay mất. Nghĩa cũng bị một mảnh pháo găm vào ngực. Mình bật khóc, thế là hai đồng đội đã hy sinh, ba người bị thương. Chôn cất cho Nghĩa và Bồng xong, cả tiểu đội dìu nhau đến vị trí mới. Hai ngày sau mới quay lại, chuyển Bồng và Nghĩa đi nơi khác, đánh dấu mộ cẩn thận.
Ngày 2/5/1972. Mình đã nói với Lý từ ít ngày trước: “Sắp giải phóng rồi mày ạ!” Nhưng Lý nẹt mình: “Đừng có lạc quan tếu. Lại nhớ vợ rồi hả?”. Đến hôm nay thì Lý lại bảo: “Cho cậu về Ban tham mưu được đấy. Phán đoán tình hình chính xác lắm”. Ngay từ 27/4 quân ta bắt đầu tiến đánh thị xã Đông Hà. Đến sáng 28/4 thì Đông Hà hoàn toàn giải phóng. Hai tiểu đoàn 30 và 33 biệt động quân của địch bị diệt gọn. Thiết đoàn 14 và 17 gồm 140 xe thiết giáp bị quân ta diệt và bắt giữ. Cả thiết đoàn 20 có tiếng là “mạnh nhất Đông Dương” cũng bị đánh cho tơi tả. Những ngày cuối tháng 4/1972 trên toàn chiến trường Quảng Trị địch hoàn toàn rơi vào thế bị động, các đơn vị tan rã hàng loạt, không ứng cứu được cho nhau. Quân giải phóng thừa thế tấn công quyết liệt. Ngày 1/5/1972 địch thất thủ ở Ai Tử. Quảng Trị hoàn toàn giải phóng. Tin vui như làn gió mát tràn lan từ Trường Sơn xuống ven biển làm nức lòng quân dân ta.
Tổ thông tin của mình rời núi 108 sang địa điểm mới. Sắp tới, tình hình chung sẽ ra sao? Quảng Trị giải phóng rồi, không biết đơn vị lại ra Bắc hay đi sâu vào phía trong. Mình đem suy nghĩ ấy nói với cả tổ. Lý gạt phắt đi: “Ôi dào! Chỉ lo bò trắng răng!”. Rồi hắn ong ỏng hát: “Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ Đi...”
P.Q




