TCCV Online - Có lần một nhà văn hóa nước ngoài nói: Cách thức để nhận ra diện mạo của quê hương chính là phải rời xa nó cách thức để tìm về quê hương là hãy tìm nó trong tâm hồn mình, trong ký ức, trong hoài niệm… và sau cùng là đến vùng quê khác để tìm quê hương.
Thật đúng với hoàn cảnh thăng trầm và ký ức màu xanh của tôi và thế hệ chúng tôi.Trước năm 1945, tôi đã được học tại trường Thánh Mẫu (Đông Hà École Sainte Marie) ba năm. Nếu tính từ kỳ thi tiểu học cấp tỉnh năm 1949 tại Cùa (Kỳ thi đó tôi may mắn đỗ đầu được báo Tiếng Vang tỉnh đưa tin) cho đến nay, dễ thường có đến sáu mươi năm! Con đường học vấn trong kháng chiến chống Pháp mấy ai dám chắc tin ở sự lựa chọn. Quê tôi làng Nghĩa An, Xã Cam Thanh, huyện Cam Lộ, nay là TP. Đông Hà, Quảng Trị, nhà ở vùng tạm bị chiếm, sơ sẩy một chút là có thể bị ngụy quyền lùa đi lính. May thay từ năm 1950 đến 1953, Trường phổ thông Lê Thế Hiếu được thành lập và phát triển - một chủ trương sáng suốt của tỉnh. Lại được gia đình gom góp cơm áo gạo tiền, nhất là được nhân dân vùng Cùa (Cam Lộ) cưu mang, giúp đỡ nơi ăn, chốn ở, coi như con em mình. Tôi nói với bạn bè, nhân dân mình đã có ý thức sớm vận dụng phương thức xã hội hóa giáo dục. Cứ mỗi lần nhớ về những năm tháng hiểm nguy và gian khó ở chiến khu Cùa ngày ấy, chúng tôi thấy mình yêu đời, lạc quan, tin tưởng.Chúng tôi ghi trong Nhật ký cá nhân không ít hoài niệm, nhưng sâu đậm nhất là những hiện tượng Văn hóa kháng chiến bên ngoài xã hội ùa vào trường học. Bấy giờ thực hiện chủ trương văn nghệ sĩ Thanh - Nghệ - Tĩnh “đi thực tế” vào vùng tạm chiến Bình Trị Thiên, một đoàn nhà văn, nhà thơ, kịch sĩ, nhạc sĩ toàn là những tên tuổi lớn như Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Trần Hoàn, Phạm Duy, Đình Quang, v.v… đã có mặt ở chiến khu Cùa, Ba Lòng trước khi đến những vùng du kích ở Cam Gio, Triệu Hải. Những lần như vậy, Trường Lê Thế Hiếu với nhiều giáo viên từ Thanh - Nghệ - Tĩnh vào, am hiểu văn hóa, văn nghệ mang theo nhiều cuốn sách hay, in bằng giấy “bổi” với thơ của Tố Hữu, Lưu Trọng Lư, kịch của Bửu Tiến, Đình Quang, Thơ văn cách mạng và kháng chiến của Hoài Thành, Thư nhà của Hồ Phương, v.v… Bấy giờ làm gì có giáo trình, giáo án.Thay thế chúng là kiến thức văn chương, khoa học của các thầy được trang bị những năm tháng ở các trường Huỳnh Thúc Kháng và Sự phạm Liên khu IV.Tiếp đến là những buổi giao lưu, diễn thuyết của nghệ sĩ Giang Tấn trước bộ đội và học sinh tại một lớp học bằng tre - nứa ở làng Mai Đàn. Ông nói rất hấp dẫn, đầy cảm xúc trào dâng về nhiều tác phẩm nổi tiếng văn học Xô Viết, về chiến tranh vệ quốc của Bôrít Pôlêvôi, Ilia Erenbua, thơ Ximônốp, v.v… có tác dụng như một sức mạnh vật chất đối với người nghe. Tôi lại nhớ một bài thơ chép trong Nhật ký của Văn Tôn, nhà thơ quân đội (về sau tôi mới biết ông chính là nhà thơ, nhà điêu khắc Hải Bằng, người Huế) tiếc thương một nữ cứu thương người Pháp đã hy sinh tại chiến trường Nam Đông (Vùng An Nha, An Hướng phía Tây Gio Linh). Bài thơ có đoạn:
Chiều nay tiếng súng anh ngừng nổ
Thấy xác em nằm giữa cỏ tranh
Anh đắp cho em mền trấn thủ
Còn đâu nhìn thấy mắt xanh xanh?!
Bên xác còn nguyên tờ giấy mỏng
Vội vàng anh nhặt, đọc dòng thư
Thư buồn mẹ nhắn con về nước
Anh biết nhà em cũng xác xơ
Chúng bắt em đi xa đất nước
Bỏ nhà lìa mẹ cách em thơ
Qua đây dày xéo quê hương bạn
Nhà cửa tan tành ngọn cỏ khô…
Và câu kết:
Thương em, tiếng súng anh ngừng nổ
Thi hứng bài thơ mang tính nhân văn sâu sắc, là nhịp đập con tim nhà thơ trùng khít với nhân vật trữ tình, đọc lên làm tim ta thắt lại. Nhưng bấy giờ câu kết bị phê phán: “mất lập trường!”. Âu cũng là câu chuyện ấu trĩ một thời của lịch sử.
Cũng trong đoàn văn nghệ nói trên, tôi chú ý hiện tượng Phạm Duy. Đến Quảng Bình, ông có nhạc phẩm Quê nghèo: Chiều qua, đi qua vùng bị chiếm / Tôi thấy O nghèo kể rằng / Quân thù về đây đốt làng / Bao giờ anh lấy được đồn Tây / Để em mua áo tặng người lập công… Vào Quảng Trị, xuống Gio Linh, ông viết Bà mẹ Gio Linh
Mẹ già cuốc đất trồng khoai,
Nuôi con giết giặc đêm, ngày
Cho dù áo rách, sờn vai
Cơm ăn bát vơi, bát đầy…
Mấy chục năm đi lạc đường, Phạm Duy trở về quê mẹ, bà con Gio Linh, Mai Xá rộng lòng đón người từ xa xứ. Còn ông thì biết vượt lên mặc cảm, và hơn thế, khâm phục những người dân quần nâu, áo vải làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975, và lần này trước ông những bà mẹ nuôi lớn lớp anh hùng hiện ra như những vị Thánh mà có lần ông viết trong một bài báo. Đến Thừa Thiên - Huế ông rạo rực, lạc quan viết nhạc phẩm để đời: Về miền Trung, miền thùy dương bóng dựa ngàn thông… với cảm nhận vẻ đẹp màu tím Huế, cảnh trầm mặc của đền đài cố đô, dòng nước lững lờ trôi của sông Hương dù chỉ là qua hình ảnh tưởng tượng của một niềm thơ…
Mùa hè năm 1953, tôi cùng mấy đồng môn vượt Trường Sơn, trèo U - Bò, Ba Rền ra Hà Tĩnh, học cấp 3 Phan Đình Phùng, rồi năm 1956 thi đỗ đại học Tổng hợp Hà Nội, khóa I (1956 - 1960), sau đó đi du học ở Liên Xô, được tuyển vào khoa ngữ văn đại học Quốc gia Mátxcơva mang tên Lômônôxốp. Đó là nhờ chính sách đào tạo nguồn nhân lực cho miền Nam sau khi nước nhà thống nhất. Dù làm nghề gì, dù đạt học vị học hàm khác nhau, chúng tôi không bao giờ quên công ơn của quê nhà, của gia đình và nhất là vẫn canh cánh giữ vững và phát triển truyền thống hiếu học của vùng đất thiêng Cam Lộ. Nhà khá giả cho con đi học đã đành, ngay cả gia đình nghèo khó vẫn cố gắng tần tảo để con em học hành tấn tới, bằng anh, bằng bạn. Bỗng nhiên tôi nhớ đến các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ Hồ Sĩ Thoảng, Hồ Sĩ Khách, Hồ Sĩ Sà ở Nghĩa An; Hồ Sĩ Đàm ở An Bình; Trần Trọng Đăng Đàn, Nguyễn Xuân Hòa ở An Mỹ; Nguyễn Thạch Giang ở Bích Giang; Đỗ Bang ở Mộc Đức, Nguyễn Xuân Trường ở Định Xá, Nguyễn Xuân Nguyên ở làng Đông Hà, v.v… là những người con thành đạt của quê hương Cam Lộ. Còn GS. TS. Nguyễn Xuân Vinh là thành viên tổ chức vũ trụ học (NASA) của Mỹ mà tôi biết qua mạng, hiện là nhà khoa học yêu nước, có công đóng góp cho nền khoa học vũ trụ của Hoa Kỳ. Riêng tôi, sau khi tốt nghiệp đại học Tổng hợp Hà Nội, còn được tiếp tục ở đại học Lômônôxốp với thời gian trên 8 năm từ sau đại học đến TSKH. Năm 2002 tôi được vinh dự tặng bằng danh dự: Viện sĩ Viện Hàn lâm nghệ thuật phương Đông.
Đời người có ba điều bất hủ: lập đức, lập ngôn và lập công. Ở những mức độ khác nhau, trong trên dưới nửa thế kỷ qua với bao nhiêu biến cố lịch sử, thế hệ chúng tôi, những người dù ở quê hay xa quê, nhưng cội nguồn, quê cha đất tổ, nguồn gốc tông tộc, đồng hương, đồng đội, trường xưa lớp cũ của Cùa, ở Cam Lộ bao giờ cũng có sức vẫy gọi, bởi mảnh đất đó là nơi phát sinh tài năng, là động lực sáng tạo, là chỗ dựa tinh thần của những người xa quê, được coi là nét đẹp văn hóa lấp lánh, góp phần định hướng cho chúng tôi khi nghĩ về Cam Lộ thân thương, về Quảng Trị anh hùng, về mái trường Lê Thế Hiếu thân thuộc - cái nôi đầu tiên của sự sinh thành và trưởng thành của một thế hệ, đã cống hiến một phần nhỏ tài năng và trí tuệ cho đất nước, quê hương.
H.S.V