Bấy giờ, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đóng ở Cam Lộ, Ủy hội Quốc tế làm việc ở Quán Ngang, còn Ban liên hiệp Quân sự chúng tôi ở thôn thượng Cam Thanh. Nói là trụ sở tại đó nhưng chúng tôi lại thường xuyên xuống đối mặt với quân địch trên tuyến Thạch Hãn để đòi chúng nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định Paris. Qua đấu trí, đấu lý mấy cuộc với bọn Thủy quân lục chiến ở Liên đoàn Bảo an, nhất là bọn tuyên úy, bọn tâm lý chiến và an ninh quân đội ở Thạch Hãn, Chợ Sãi, Phù Liêu, Long Quang... Chính ủy Lương Chí Hiền bổ nhiệm tôi về làm Trưởng ban Binh địch vận, chuyên làm sĩ quan tùy tùng cho các vị lãnh đạo tỉnh và Cục Địch vận Tổng cục Chính trị vào nghiên cứu lý lịch.
Khi có lệnh ngừng bắn, chiến trường miền Nam nói chung, Trị - Thiên nói riêng và đặc biệt là địa bàn Triệu - Hải đều nằm trong thế da báo. Giá bấy giờ có máy bay ghi lại hiện trạng hình ảnh chiến trường Trị - Thiên sẽ thấy cờ xanh đỏ của Mặt trận đan gài với cờ ba sọc từ Thạch Hãn vào tận sông Ô Lâu; từ Hải Vân đan xen ra đến Huế. Chính vậy mà bọn địch điên cuồng xóa thế da báo, ngang nhiên lấn chiếm phá hoại Hiệp định Paris.
Từ Cửa Việt đến Tích Tường - Như Lệ vòng vào đến sông Nhùng, Vũng Tròn, Bạch Mã... tự nhiên hình thành một tuyến phòng thủ của đôi bên và liên tục xẩy ra xung đột do địch lấn chiếm đất đai.
Con đường chuyển quân của ta từ cánh đồng Phù Liêu (Triệu Tài) qua Đạo Đầu, Đồng Bào và Linh Chiểu để tiếp tế cho "Khu Lõm" được hình thành ngay từ sáng 28 - 1. Đó là kết quả công tác binh địch vận của quân ta. Theo thỏa thuận giữa Đại tá Lữ trưởng 147 Thủy quân lục chiến với đồng chí Nguyễn Dũng - Phó Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị (đóng vai Sư trưởng) địch cho quân cắm hai hàng vè bằng cờ ba sọc rộng 100m chạy từ vùng giáp ranh giải phóng vào tận Hải Quế, Hải Quy... Theo quy ước đó ngày ta chuyển thương binh, liệt sĩ ra Bắc, đêm chuyển quân và vũ khí, lương thực, thực phẩm vào cho quân và dân trong vùng da báo ở "Khu Lõm". Có lúc khẩn cấp, ta phải chuyển quân cả ban đêm. Quân lính địch đóng trên cao điểm 11 chạy xuống kêu trời với ta ở nhà Hòa hợp dân tộc: "Ôi trời đất - lạy mấy ông nội, kéo quân vào cả ban ngày thế kia tôi không cho nổ súng, ông lớn ông trị tụi tôi mất tiêu. Xin ông cho quân đi thấp xuống giùm cho tôi nhờ".
Cứ như vậy, chúng tôi chớp thời cơ vận động thuyết phục binh sĩ địch án binh bất động để hậu phương chi viện cho cuộc chiến đấu ở "Khu Lõm".
Đang say sưa với những ngày tiếp xúc vận động binh sĩ địch quay súng trở về làm ăn sinh sống với gia đình ở các nhà Hòa hợp thì tôi và Đại úy Trần Tuấn được trên gọi về báo cáo tình hình tư tưởng binh sĩ địch và kết quả công tác binh vận với đồng chí Tố Hữu.
Nhận lệnh, anh em chúng tôi phóng xe về Cam Thanh báo cáo diễn biến tư tưởng và hiện trạng trên tuyến Thạch Hãn. Về hiệu quả của các vật kỷ niệm do quân ta tặng binh sĩ địch như: kẹo, thuốc lá, bia Trúc Bạch, dép Bác Hồ (dép 6 quai), ảnh Ái Vân, những băng ca cải lương của Tấn Đạt... anh em binh sĩ thích lắm. Khi được tặng họ hăm hở đem về dấu đáy cùi che mắt bọn tâm lý chiến, an ninh quân đội, đợi ngày có phép mà về khoe với ba má, với bầu bạn, và người yêu là đã gặp Việt cộng và được tặng quà như là chuyện thật như bịa. Bởi thế, mỗi lần trao tặng ở nhà Hòa hợp mà chưa có chữ ký vào ảnh hoặc vào bao thuốc lá là chưa được. Nhiều lúc không còn vật kỷ niệm để tặng nữa, anh em nhặt giữ cả vỏ bao thuốc cũng nằn nì xin bằng được chữ ký đề tặng. Bấy giờ, tôi được phòng Chính trị cho gọi biệt danh là "Thanh Hải" và cứ thế mà ký tất. Phải nói là kẻ địch nó tuyên truyền thế nào mà tôi gặp anh em binh sĩ hết lớp này đến lớp khác, khi đổi ra tuyến, họ đều tò mò xem Việt cộng thế nào, Việt cộng có đuôi không? Và rồi tự thú: "Hóa ra các anh giải phóng đẹp trai và hiền khô, chúng mình đều là máu đỏ da vàng cả đánh nhau chi cho nồi da nấu thịt...". Chính những ngày đầu hai bên vừa bước ra khỏi trận chiến đều háo hức xem mặt nhau và say sưa với kỷ vật, say sưa với giọng ca trên các Trạm truyền thanh làm binh vận của ta nên địch đã thỏa hiệp cho ta mở đường chuyển được hàng trăm thương bệnh binh cùng nhân dân bị kẹt ra ngoài, chuyển vào được hàng trăm tấn đạn dược, thuốc men và các đơn vị chủ lực vào thế chân, tiếp tục dáng trả bọn địch lấn chiếm.
Nghe vậy, đồng chí Tố Hữu nói: "Được đi chiến trường và được nghe báo cáo kết quả thế này tôi khỏe ra bao nhiêu! Thế mà đồng chí bác sĩ cứ can gián không cho tôi làm việc. Anh em ở dưới đó làm tốt lắm, hay lắm, sáng tạo và lý thú lắm nhưng phải nhớ cảnh giác với âm mưu địch. Chớ để lạnh lưng, hở sườn".
Trở về tuyến tiếp tục duy trì hành lang chuyển quân được 23 ngày sau thì địch đưa Lữ đoàn 258 về thay Lữ đoàn 147 và bịt cửa hành lang. Lúc này, cơ bản ta đã cài cắm xong lực lượng bố trí nội tuyến và hầm bí mật cho hoạt động lâu dài trong vùng địch, còn đại bộ phận các đơn vị như đội 1, đội 2, K10, K14, K15, các trạm phẩu và bộ đội Triệu Hải đã rút ra ngoài. Tiểu đoàn 14 là đơn vị bám trụ đến cùng, lúc hành quân theo trảng cát ra đến Long Quang thì bị kẹt. Có sự trùng hợp ngẫu nhiên là Trần Lộc - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Thủy quân lục chiến và Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 14 của ta cũng tên là Trần Quang Lộc (bây giờ là Đại tá Cục trưởng Cục hậu cần QK4). Cả hai bên đang gầm ghè nổ súng thì tổ địch vận chúng tôi đến mời Lộc ra "hòa đàm" tại nhà Hòa hợp Triệu Trạch. Sau khi thong thả mở két bia Trúc Bạch mời Lộc và mấy sĩ quan tuỳ tùng, anh Trần Tuấn, anh Bùi Thảo mở tấm bản đồ cam kết trước đây với Lữ đoàn 147 chỉ vào ký hiệu hành lang giới hạn bởi hai hàng cờ 3 sọc mà chữ ký còn tươi mới. Lộc trở quẻ: dẹp, dẹp, dẹp! Trước khác, giờ khác, 147 khác, 258 khác, ai vô vùng tôi canh giữ là tôi oánh, tôi không oánh thì mìn tôi gài giữa bãi cũng nổ trụi luôn! Giờ quý ngài tính sao?
Tôi bảo: Tốt nhất là ông cứ cho quân nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định Paris, không được nổ súng. Hai bên chúng tôi và các ông cùng tìm cách tháo gỡ dọn đường để cho quân của chúng tôi tập kết về vùng giải phóng. Bằng không, ông muốn "oánh" thì rất đơn giản. Chúng tôi cũng vừa điện cho Mặt trận Khu Đông - các đơn vị bộ binh, pháo binh và xe tăng đã sẵn sàng. Chắc ông biết tên tuổi của Trung đoàn 48 chứ? Đó là chưa nói Tiểu đoàn ông Lộc sẵn sàng đánh giáp lá cà mở đường máu ra, ông có thích chơi thì chúng tôi dừng tiệc bia này về tổ chức cuộc chơi khác.
Lộc hỏi lại:
- Lộc là Lộc nào?
- Lộc chỉ huy quân đang đứng phía trong hàng rào của ông chứ Lộc nào, Lộc đặc công đấy ông biết chưa. Nghe vậy, Lộc Thủy quân lục chiến thay đổi thái độ và nâng cốc lên: Thôi, ta dô một trăm phần trăm! Rồi hắn hạ giọng: Thôi, nói vậy chứ, quý vị làm lẹ lên, bảo anh em nhanh chóng vượt đi kẻo "ông lớn" ra là mệt đấy. Nói đoạn nó vẫy tên lính bộ đàm quay máy cho nó gọi các đơn vị không được nổ súng, cử người chỉ đường an toàn cho quân giải phóng hành quân.
Chúng tôi ai nấy nhẹ nhõm mừng thầm là đã bảo vệ an toàn cho tiểu đoàn, một đơn vị đã từng chiến đấu đến phút chót trên địa bàn "Khu Lõm". Sau này, Tiểu đoàn 14 về đứng chân ở Hà My, An Lộng, Hữu Niên, tôi gặp lại Trần Quang Lộc, anh tâm sự: Hôm ấy, tụi mình hành quân ra đến đó thì trời sáng bạch, thấy địch vây tứ bề, nhìn thấy cờ giải phóng tung bay đó rồi nhưng hết đường qua. Nếu các cậu thua trận "Công tâm" tại nhà Hòa hợp thì bọn tớ chỉ còn có cách mở đường máu mà ra chứ biết mần răng. Nằm trước cửa tử rồi còn chi!
Khi chính quyền Sài Gòn cho rằng đã bị Chính phủ Mỹ bỏ rơi, chúng trắng trợn phá hoại Hiệp định Paris, điên cuồng xua quân chiếm đất, cướp dân từ Quảng Trị, Thừa Thiên, Chư Nghé, Chương Thiện, Củ Chi, Bình Long, Phước Long... đi ngược lại nguyện vọng hòa bình, hòa hợp dân tộc của nhân dân và binh sĩ. Địch làm vậy ta càng được thế tấn công địch trên cả ba mũi: Quân sự, chính trị và binh địch vận.
Những ngày sau ký kết, chỗ nào đánh nhau cứ đánh, chỗ nào ngồi "hòa đàm" uống rượu cùng nhau cứ ngồi, bọn tuyên úy và an ninh quân đội ngụy chẳng cách gì ngăn cản nổi. Các ngôi nhà Hòa hợp từ Tích Tường, Như Lệ, chợ Sãi, Hữu Niên, An Lộng, Phù Liêu, Long Quang 1, Long Quang 2 .v.v... cứ mọc lên liên tiếp làm chỗ giãi bày tâm sự cho binh sĩ địch với quân và dân ta. Các huyện Triệu Phong, Hải Lăng, Gio Linh, Cam Lộ... thường xuyên tổ chức cho đồng bào ra tuyến hỏi thăm và nhắn tin cho chồng con đang ở bên kia chiến tuyến. Ông Hành, ông Dũng, ông Béo bên Tỉnh ủy, ông Thời, ông Đạt, ông Sơn... ở Cục địch vận; ông Hiền, ông Châu, ông Bưởi, ông Thản ở Tỉnh đội và Bộ Chỉ huy Khu Đông thường xuyên thay nhau xuống với binh sĩ ở các nhà Hòa hợp. Ở quân khu Trị Thiên - Huế, các đồng chí Hồng Nguyên, Mai Tuấn, Lê Khả Phiêu và thiếu tướng Hồ Tú Nam mỗi lần xuống Quảng Trị đều ghé thăm và trực tiếp đối thoại với sĩ quan địch ở các nhà Hòa hợp. Các đồng chí cho đây là thời cơ có một không hai để đánh rã tư tưởng quân địch, chúng càng đổi quân, ta càng cài cắm cơ sở và đánh địch được cả diện rộng và chiều sâu. Đặc biệt, các chị ở Huyện hội Phụ nữ Triệu Phong, không tuần nào là không bám tuyến, bám nhà Hòa hợp để tuyên truyền, cảm hóa địch. Chị Lê Thị Mỹ Lệ sinh bé Nhung dưới làn bom đạn, chồng còn công tác xa nhà, con còn đỏ hỏn nhưng vẫn không vắng mặt ngày nào trên tuyến. Chính hình ảnh mẹ con bồng bế nhau trên tuyến đã gây cho bao người lính Cộng hòa đứng cầm súng mà lòng họ bồi hồi nhớ quê.
Khi nghe các đoạn băng anh em binh vận ghi được chính từ chỉ huy tại các nhà Hòa hợp: "Nhất tướng Công thành vạn cốt khô" hay bài thơ:
"Tôi có chai rượu riêng
Của mẹ tôi gửi theo quà tết
Bây giờ chiến tranh chấm dứt
Chúng ta hòa hợp uống chung...
Nhạc sớm nay là khúc nhạc hòa bình
Lời chung kết là bài ca hòa hợp
Người lĩnh xướng là toàn dân tộc,
Trong đó có tôi và anh..."
Nghe vậy, các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân khu Trị Thiên rất khoái.
Từ những buổi tâm tình như vậy đã lay thức lòng người, đưa tâm khảm anh lính Cộng hòa trở về với cội nguồn, về với tình dân tộc. Hàng trăm người lính khi bị bọn chỉ huy hành hạ, vác súng vượt rào ra vùng giải phóng khóc nức nở, xin quân giải phóng cứu vớt. Trại đón tiếp binh sĩ Sài Gòn của ông Điểu ở Cam Giang ngày một chật ních, không đủ chỗ ăn, chỗ ngủ, phải thường xuyên chuyển anh em về trại Quân khu và cho về nhà sinh sống với gia đình.
Đùng một cái, lệnh tấn công phát ra, quân ta đã ém sẵn vào các căn cứ địch, pháo lớn của mặt trận vừa gầm lên, ngày 19 - 3 - 1975 toàn bộ quân địch trên tuyến Thạch Hãn đều tháo chạy như ong vỡ tổ. Ta không cần đánh mấy mà cần người tiếp đón hàng binh và thu hồi vũ khí.
Bốn mươi tám cán bộ chiến sĩ làm binh địch vận của tỉnh Quảng Trị đi cùng cánh Đông dồn đuổi địch về Cửa Thuận An và tiếp quản Huế. Sau đó, chúng tôi được lệnh trở về Quảng Trị giáo dục cho hơn hai vạn tù hàng binh. Sau những nội dung cải tạo giáo dục cơ bản của Chính phủ, các lớp học ấy được chính quyền Cách mạng ghi nhận. Đại tá Nguyễn Văn Đính và Vĩnh Phong nguyên Trung tá Trung đoàn 56 Việt Nam Cộng hòa trở về với cách mạng năm 1972 đều đến gặp mặt trao đổi, khẳng định chính sách nhân đạo sáng ngời của Chính phủ mà bản thân là một minh chứng. Các lớp học tù hàng binh tự nguyện cùng nhân dân đi rà phá, tháo gỡ bom mìn, giải phóng đồng ruộng và làm nhiều việc làm có ích lập công chuộc tội. Sau đó, anh em binh lính cơ bản đã được trả quyền công dân trước khi về với gia đình. Đó là những phần việc cuối cùng kết thúc những tháng năm làm việc sôi nổi, nhiệt tình nhất của anh em chúng tôi sau khi ký kết hiệp định Paris trên tuyến Thạch Hãn.
N.T.T




