1. Tìm về khu di tích Ái Tử, Trà Bát, Dinh Cát (1558 - 1626), động lực khơi nguồn cảm hứng cho ý tưởng sáng tạo nghệ thuật, tôn vinh tiền nhân
a. Khơi nguồn “Dựng nghiệp”
Từ cổ chí kim con người Việt Nam chúng ta đa phần nghiêng về “văn hóa tâm linh” để tìm nơi bày tỏ những nguyện vọng, mơ ước nằm ngoài tầm với của mình. Thuyết “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa” luôn được áp dụng một cách triệt để và đồng hành với nhiều sự kiện, nhiều kế hoạch. Vì vậy, không ngạc nhiên khi đọc những trang sử Việt
455 năm trôi qua, trong lòng mỗi người Việt Nam nói chung, quê hương Quảng Trị nói riêng vẫn luôn tự hào, tưởng nhớ, ngưỡng vọng những bậc tiền nhân đã dày công dựng nghiệp, tô bồi giang sơn gấm vóc để cho chính chúng ta, những người đã, đang và sẽ sống yên bình, hạnh phúc trên chính mảnh đất đã từng thấm đẫm mồ hôi nước mắt và cả những giọt máu anh hùng hy sinh vì quê hương đất nước. Trong những trang sử dựng nước và giữ nước của các anh hùng dân tộc, chúng ta không thể không nhắc đến công đức to lớn của các vị chúa Nguyễn mà tiêu biểu và tiên phong là Đoan Quận công - Nguyễn Hoàng.
Ngay từ những năm tháng đầu đời của mình, Nguyễn Hoàng và gia đình đã chịu nhiều nguy hiểm gian truân: khi Mạc Đăng Dung soán ngôi nhà Lê, Nguyễn Kim cùng một số tùy tùng thân cận đã lánh sang Lào (Ai Lao), chiêu mộ nghĩa dũng, thu nạp hào kiệt với quyết tâm phò nhà Lê trung hưng, với công trạng của bậc công thần ngài được vua Lê Trang Tông phong là Thượng phụ Thái sư Hưng Quốc công. Năm 1545 (Ất Tỵ), Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc chết, thọ 75 tuổi, quyền hành rơi vào tay con rể là Trịnh Kiểm. Khi Nguyễn Kim chạy sang Ai Lao thì Nguyễn Hoàng mới hai tuổi, được Thái phó Nguyễn Ư Dĩ là cậu ruột nuôi dạy nên người. Trịnh Kiểm là anh rể, muốn thâu tóm quyền hành nên ngấm ngầm ám hại các em vợ. Nguyễn Uông, con trưởng của Nguyễn Kim đã bị hãm hại. Nguyễn Hoàng rất lo sợ, liền đem chuyện cơ mật trao đổi với Uy Quốc công - Thái phó Nguyễn Ư Dĩ, người cậu ruột trước đây đã chăm lo nuôi dạy ông từ khi mới hai tuổi. Thấy Nguyễn Hoàng “mắt phượng trán rồng, tướng mạo khôi ngô, thông minh tài trí, ắt sẽ dựng nên nghiệp lớn” nên Nguyễn Ư Dĩ đã nguyện theo phò và đem việc kiến công lập nghiệp để bàn bạc và khuyến khích với cháu… Khi Nguyễn Ư Dĩ đến yết kiến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm xin mách cho kế an toàn, Trạng Trình đã ứng khẩu thành thơ: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (Một dãy núi Ngang có thể dung thân muôn đời). Nguyễn Hoàng nghĩ ra, đến nói với chị gái là Ngọc Bảo xin với anh rể là Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ Thuận Hóa là nơi hoang vu nhiều giặc giã. Trịnh Kiểm đồng ý cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa với ý đồ mượn tay giặc giết chết em vợ. Năm 1558 (Mậu Ngọ), Trịnh Kiểm tâu với vua Lê Anh Tông cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa. Được lệnh vào Nam, bất chấp mùa đông giá rét, Nguyễn Hoàng giong buồm đi ngay, những người họ hàng ở huyện Tống Sơn cùng quân lính ở đất Thanh – Nghệ, nhiều người đem cả vợ con, đi theo có đến nghìn người. Các danh thần cùng đi có Nguyễn Ư Dĩ, Tống Phước Trị, Mạc Cảnh Huống….
Vào
Nguyễn Hoàng là người khôn ngoan, nhân hậu, lưu tâm đến dân tình, hết lòng thu dụng hào kiệt. Ông giảm sưu, hạ thuế khiến lòng người ai cũng mến phục, nhân dân xưng tụng ông là chúa Tiên. Trong hành trang ý chí và tinh thần mang theo có cả câu sấm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông đã bỏ qua đèo Ngang với địa thế hiểm trở, cũng chẳng dừng chân bên bờ sông Gianh, Nhật Lệ hay Cửa Tùng phì nhiêu màu mỡ… Đoan Quận công và đoàn tùy tùng từ Cửa Việt lên sông Quảng Trị, đến đất Ái Tử, huyện Vũ Xương (nay là huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị); mặc dù đất Ái Tử bốn bề cát trắng chơ vơ, nhưng với cặp mắt tinh tường, sự quyết đoán và tinh thông phong thủy, ông đã chọn đúng nơi “địa linh nhân kiệt” đầu tiên của Đàng Trong và bắt đầu xây dựng cơ nghiệp nhà Nguyễn.
Từ Ái Tử, theo đường quốc lộ 1A về phía Nam 65km là đến kinh thành Huế với nhiều đền đài lăng tẩm, lầu son gác tía, cung điện nguy nga, nay đã trở thành Di sản văn hóa thế giới; chúng ta những người yêu quê hương, từng tự hào về bề dày lịch sử của Quảng Trị không khỏi ngậm ngùi tưởng nhớ và so sánh về dấu tích xa xưa của một địa danh đã từng là “Kinh đô dựng nghiệp” đầu tiên của một vương triều vàng son vang bóng một thời. Mặc dù chỉ với gần 68 năm (đến năm 1570 chúa Nguyễn Hoàng đã chuyển dinh trấn từ Ái Tử về Trà Bát - nay thuộc làng Trà Liên, xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, và đến năm 1600 thì chuyển về Dinh Cát), Ái Tử - Trà Bát – Dinh Cát đã mang một sứ mệnh lớn lao không thể đo đếm bằng thời gian hoặc vật chất tầm thường. Chính vì lẽ đó mà khi Phú Xuân trở thành “Chính dinh”, các vua chúa nhà Nguyễn đã không quên tôn vinh vùng đất “dung thân” của tiên phụ trên đất Quảng Trị là “Cựu dinh”.
b. Thông qua truyền thuyết lịch sử về chúa Nguyễn để tái hiện sử thi và chuyển thể sân khấu hóa trong lễ hội.
- Dâng “nước”
Ngay buổi đầu tiên khi Đoan Quận công và đoàn “nghĩa dũng” đặt chân đến Ái Tử, nhân dân vùng sở tại đã cùng nhau dâng lên bảy vò nước trong. Uy Quốc công Thái phó Nguyễn Ư Dĩ đã tâu với ngài rằng: “Đây là phúc trời cho đó. Việc trời tất có hình tượng. Nay chúa thượng mới đến mà dân đem “nước” dâng lên, có lẽ là điềm “được nước” đó chăng?”. Nguyễn Hoàng nhận lấy bảy chum nước ấy, chọn Ái Tử để đóng dinh làm nơi dựng nghiệp, gọi là dinh Ái Tử (1558 - 1570). Chính sự kiện như một điềm báo tốt đẹp này đã dấy lên một luồng sinh khí tạo tiền đề cho những thành công vang dội về sau của chúa Nguyễn.
- Trận đánh “lịch sử”
Thời gian tưởng như đã phủ đầy dấu tích dinh cũ ngày xưa. Ngày nay bên cạnh bờ sông (gần khu vực sân bay Ái Tử trước đây), vẫn còn vài vết tích và địa điểm của một ngôi miếu thờ ghi dấu chiến công của Nguyễn Hoàng trong trận đánh vào năm 1572 với Lập Bạo. Lập Bạo vốn là một tướng giỏi của nhà Mạc, có biệt tài về thủy chiến, nhận nhiệm vụ với một đoàn quân rất mạnh cùng 60 binh thuyền xuất phát từ Hải Dương bằng đường thủy vượt biển vào sông Ái Tử để diệt cho bằng được Nguyễn Hoàng. Nghe tin, biết thế giặc đang mạnh, chúa Nguyễn bày binh bố trận để chống giữ với bao trăn trở lo toan. Sau một ngày chờ đợi mệt mỏi ngài thiếp đi, trong giấc mộng thấy một người đàn bà mặc áo xanh tiến vào bên cạnh bảo rằng: “Muốn diệt tướng giặc phải dùng kế mỹ nhân”, giật mình tỉnh giấc thấy một tì nữ là Ngô thị nhan sắc xinh đẹp bước vào. Nhớ lại giấc mộng như một điềm báo, Nguyễn Hoàng kêu lên rằng “Trời đã cho ta lối thoát”. Liền truyền cho Ngô thị một truyền lệnh và sắp đặt mọi chuyện. Nhận sứ mạng nặng nề, nguy hiểm nhưng vô cùng cao cả, Ngô thị liền mang lễ vật đến ra mắt và dâng cho Lập Bạo xin được cầu hòa. Lập Bạo vốn là một tướng tài nhưng cũng ham mê tửu sắc. Thấy Ngô thị xinh đẹp, Lập Bạo trong lòng mê thích nhưng bên ngoài lại giả bộ nổi giận mắng rằng: “Chúng tưởng ta dễ tin, cho ngươi đến đây để mồi nhử ta chăng?”. Ngô thị với nhan sắc đẹp và giọt nước mắt trời ban, đã nhẹ nhàng đối đáp trôi chảy làm say lòng tướng giặc. Nàng đã dụ được Lập Bạo theo mình đi vào nơi quân của Nguyễn Hoàng mai phục đúng như kế sách. Nguyễn Hoàng trên bộ dọc theo lối vào dinh trại cho đào những hố để nghĩa dũng tình nguyện cảm tử ngụy trang mai phục, dưới sông cho thủy quân neo thuyền sẵn sàng chờ lệnh… Để tỏ rõ uy thế của mình nhằm trấn áp đối phương, Lập Bạo đã một mình bước xuống thuyền tiến vào… Khi biết mình bị lừa, Lập Bạo chống trả quyết liệt và mở đường trở lại thuyền. Trên sông, nghĩa binh theo kế hoạch chặn đánh phủ đầu. Lập Bạo vốn là một vị tướng giỏi về bơi lặn khó bề bắt được, may thay Lập Bạo lặn đến đâu trên mặt nước có một con “chim” bay theo đến đó và cất lên tiếng kêu “trảo trảo” như chỉ đường cho quân Nguyễn, hết hơi Lập Bạo bị giết, quân nhà Mạc tan tác. Nguyễn Hoàng thoát được hiểm họa khôn lường. Để nhớ ơn Ngô thị, Nguyễn Hoàng cho lập đền thờ ngay bên bờ sông Ái Tử và phong là “Trảo Trảo Linh Thu phổ trạch tướng hựu phu nhân”, dân trong vùng gọi là miếu Trảo Trảo.
- Hiền tài phò tá - Chuyện về một pho tượng cổ
Như đã nói ở trên, Thái phó Nguyễn Ư Dĩ là một trong những cận thần có vai trò hết sức quan trọng đối với hành trình dựng nghiệp của chúa Nguyễn. Tuy nhiên đến nay việc chăm sóc, tôn tạo, phục dựng và tổ chức kỷ niệm về ngài vẫn đang nằm trong suy nghĩ của những người yêu nước, yêu lịch sử Việt
Chuyện kể rằng: Bức tượng đồng hiện nay của Nguyễn Ư Dĩ được người dân lưu giữ, thờ cúng tại thôn Trà Liên Tây, mang một giá trị văn hóa sâu sắc. Tượng cao 0,62m, phần vai rộng 0,3m. Tượng đúc bằng đồng, ở tư thế ngồi ghế thấp, hai chân gấp khuỷu hơi dạng ra, nét mặt hơi nhìn xuống, khuôn mặt chữ điền, cằm vuông, râu dài, tai to, đội mũ quan hai lớp, chân đi hia để lộ phần mũi. Đặc biệt, toàn thân được khoác tấm áo choàng rộng phủ từ vai xuống, vắt trên hai chân. Mấy trăm năm nay, người dân thôn Trà Liên Tây xem bức tượng đồng như linh vật để thờ cúng trong làng. Tuy vậy, qua thời gian với những biến thiên của lịch sử, bức tượng đồng Nguyễn Ư Dĩ lại trải qua một số phận kỳ lạ. Theo ông Phan Đăng Khuynh, Trưởng Ban Văn hóa xã Triệu Giang, trước đây, pho tượng được đặt tại một ngôi chùa trong làng có tên là Liễu Bông (một vị trí nằm gần quốc lộ 1A hiện nay); năm 1972, bom Mỹ đánh phá ác liệt, rất may bức tượng vẫn được người dân bảo vệ nguyên vẹn. Pho tượng thuộc loại hiện vật thờ cúng của làng, không thể di chuyển, vì vậy, ngày hòa bình lập lại, trên nền chùa cũ, người dân đã dựng lại một ngôi chùa đơn sơ để đặt bức tượng thờ.
Do địa thế nền ngôi chùa cũ nằm khá gần đường quốc lộ, việc bảo vệ bức tượng chủ yếu dựa vào sự giám sát của người dân nên năm 1989, kẻ gian đã đánh cắp bức tượng. Cả làng Trà Liên thời đó xôn xao đổ xô đi tìm. Ông Hồ Quang Phục, một trong những người đi tìm pho tượng bị đánh cắp thời đó, kể: “Do bức tượng quá nặng, kẻ gian không vận chuyển đi xa được. Tại bờ sông Thạch Hãn, dấu chân kẻ gian (do mang tượng quá nặng) in hình trên bờ cát ven triền sông. Tôi và người dân trong làng đã phải dùng thuốn thép “rà” tìm, sau hai ngày thì phát hiện bức tượng đồng bị đánh cắp của làng bị vùi trong cát…” Cũng theo người dân trong làng, bức tượng đồng đã nhiều lần bị kẻ gian dòm ngó bởi nghi là có chứa vàng và đồng đen! Kể từ đó, để đề phòng mất cắp, người dân đã dời pho tượng đến bên đình làng rồi xây một cái am nhỏ để thờ cúng. Dẫn chúng tôi đến nơi đặt bức tượng hiện nay, ông Khuynh cho biết: “Hiện nay, pho tượng đã được chính quyền xã kết hợp với Trường Tiểu học Triệu Giang quản lý. Trên thực tế thì việc quản lý pho tượng đồng chủ yếu do người dân trong làng đảm nhiệm”.
Bức tượng Thái phó Nguyễn Ư Dĩ mang trong mình một giá trị văn hóa lớn lao, như lời đánh giá của một cán bộ Bảo tàng Quảng Trị: Đây là bức tượng có một không hai, đã tồn tại hàng trăm năm và đã trở thành báu vật quốc gia. Theo ghi nhận của chúng tôi, mặc dù được đặt trong một cái am nhỏ bằng bê tông cốt thép khá kiên cố song nó lại nằm giữa đồng không mông quạnh. Với việc “tự quản lý” của người dân trong thôn, liệu ai dám chắc rằng bức tượng sẽ không bị đánh cắp hay xâm hại một lần nữa?
- Truyền thuyết (truyền khẩu) về bà Phạm Thị Coòng (Tôm)
Chuyện kể rằng: Trong lúc cấp bách, bằng mọi cách chúa Nguyễn phải thoát khỏi sự truy đuổi của quân Trịnh thì dây quai chèo thuyền của ngài bị đứt, may thay lúc ấy có bà Coòng xuất hiện và đã hiến tặng cuộn tơ để thay thế, chính vì vậy ngài đã về đến dinh trại an toàn. Để tỏ lòng tri ân, tưởng nhớ người giúp mình thoát nạn, chúa Nguyễn đã cho lập miếu thờ bà, hiện nay miếu vẫn còn tại làng An Mô, xã Triệu Long, nhân dân sở tại gọi là “Miếu thờ bà Phạm Thị Coòng” (còn gọi là Tôm).
Qua những truyền thuyết, những câu chuyện nhỏ ít ỏi nêu trên, chúng ta cần suy ngẫm về mội giai đoạn lịch sử quan trọng của dân tộc, về một vùng đất và một hình tượng tiền nhân để có giải pháp ứng xử công bằng, đừng để lãng quên mà có lỗi với hậu thế. Nhất là trong lúc những tư liệu về hình tượng và giai thoại trong giai đoạn lịch sử của chúa Nguyễn Hoàng được ghi lại khá khiêm tốn thì chính những câu chuyện, những truyền thuyết nêu trên đều có thể chuyển thể, tạo dựng thông qua tiểu phẩm nghệ thuật tái hiện sử thi, sân khấu hóa, sẽ rất có giá trị.
Dòng chảy của cuộc đời cứ thế trôi qua, con người và cuộc sống lại băng băng về phía trước. Chính vì vậy, những trầm tích của giai đoạn lịch sử hào hùng xảy ra ngay trên mảnh đất Triệu Phong, Quảng Trị của 455 năm về trước ngày càng được phủ dày thêm những lớp bụi của thời gian và sẽ đi vào lãng quên nếu chúng ta không đồng lòng khơi dậy. Hội thảo khoa học lịch sử với chủ đề Quảng Trị - Đất dựng nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng (1558 – 1613) là một dấu mốc quan trọng để các nhà nghiên cứu, các nhà sử học khẳng định vị thế xứng đáng và vai trò của chúa Nguyễn Hoàng trong hành trình dựng nghiệp; là cơ sở quý báu và quan trọng để có thể tổ chức lễ hội và các chương trình hoạt động cộng đồng nhằm tôn vinh nhân vật lịch sử “chúa Nguyễn” (thông qua kinh phí xã hội hóa).
2. Khơi nguồn cảm hứng
Trong hoạt động truyền bá thông tin, tìm hiểu và xác minh thông tin để khẳng định một sự việc, một thương hiệu hay một giai đoạn lịch sử, thì thông tin truyền khẩu có vị trí hàng đầu. Do vậy, để khơi dậy và khẳng định vị trí, vị thế lịch sử của một bậc tiền nhân có công rất lớn trong công cuộc “dựng nước”, việc sân khấu hóa, tái hiện sử thi để gửi thông điệp về giai thoại lịch sử cho công chúng là một việc làm cần thiết đối với một nhân vật lịch sử đã gắn liền với một vùng đất, một địa danh (là tài sản vô giá của nhân dân Triệu Phong, Quảng Trị).
Là những người con của Triệu Phong, Quảng Trị, chúng tôi mong mỏi được đóng góp công sức và ý tưởng nhỏ bé của mình vào việc khơi dậy, tôn vinh một địa danh lịch sử:
Thông qua Hội thảo khoa học lịch sử với chủ đề Quảng Trị - Đất dựng nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng tại huyện Triệu Phong để khơi nguồn cho việc hình thành đề án thám sát khảo cổ, tiến tới xin Nhà nước và các cơ quan, ban, ngành chuyên môn đầu tư kinh phí phục dựng, tôn tạo khu di tích “Cựu Dinh” của chúa Nguyễn Hoàng xứng đáng với tầm vóc và công lao của ngài đã hiến dâng cho quê hương đất nước.
Thông qua việc tổ chức các hoạt động cộng đồng, các nhà tổ chức xã hội, một số cá nhân có tấm lòng hướng về Quảng Trị và Hội hoàng gia hậu duệ triều Nguyễn ở trong nước, nước ngoài, nhất là những người đang sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với các cơ quan, đơn vị chuyên môn, trên tinh thần chủ trương “xã hội hóa” để tổ chức một lễ hội tái hiện sử thi với chủ đề về “Chúa Nguyễn Hoàng”, về “Dinh cũ làng xưa”. Lễ hội tái hiện sử thi với chủ đề về “Chúa Nguyễn Hoàng”, về “Dinh cũ làng xưa” sẽ là một cơ hội, một bài học ôn lại lịch sử hết sức phong phú, khơi dậy niềm tự hào dân tộc cho thế hệ hôm nay và các thế hệ con cháu mai sau.
Tổ chức lễ hội tái hiện sử thi về “Chúa Nguyễn Hoàng” sẽ là hoạt động văn hóa - lịch sử mang một trọng trách và ý nghĩa thiết thực, tạo nên cơ hội khẳng định cội nguồn lịch sử, góp phần phát huy tiềm năng du lịch của di tích lịch sử, đề nghị xếp hạng Di tích quốc gia; đồng thời, tạo cho địa phương Triệu Phong, nơi đã được tiền nhân chọn làm “Kinh đô dựng nghiệp”, có cơ hội hình thành một địa chỉ văn hóa và di tích lịch sử, mở ra một chương mới trong sự nghiệp phát triển văn hóa du lịch của tỉnh nhà, đóng góp nhất định cho sự nghiệp phát triển kinh tế và giới thiệu hình ảnh địa phương cho bạn bè năm châu bốn biển.
L.T




