Làng Thuận Nhơn, Thuận Đức (xã Hải Vĩnh, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị) là quê hương của tướng Ngô Văn Sở, Hiền phi Ngô Thị Chánh. Là một làng có truyền thống tốt đẹp được xa gần biết đến qua câu ca nhiều người truyền tụng: “Tre Ngô Xá, phá Câu Hoan, sông Phước Điền, tiền Thuận Nhơn…”. Con người Thuận Nhơn, Thuận Đức chất phác, hiền lành, nhân ái, khí phách con nhà võ tướng, cần cù trong lao động sản xuất, anh dũng trong chiến đấu. Trong khuôn khổ bài viết này tác giả xin tập trung vào vấn đề quá trình thành lập hai làng Thuận Nhơn, Thuận Đức và ý nghĩa tên gọi ấy.
1. Quá trình thành lập làng Thuận Nhơn
Thuận Nhơn với tên gọi, cương vực như hiện nay đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài. Thuận Nhơn bao gồm hai vùng đất: xứ Già Giàu (nhà giàu) và xứ Cồn Đống - Cồn Miếu. Vậy làng ra đời như thế nào? Trở lại với lịch sử cũng chính là tìm về cội nguồn, tìm về những mối liên hệ trong quá khứ. Tìm hiểu lịch sử khai phá của tiền nhân cũng chính là tìm hiểu về lịch sử của làng Thuận Nhơn.
Trước hết, vùng đất xứ Già Giàu, trước kia là của cư dân Chăm. Sau đó, nhân dân làng Thi Ông tiếp tục khai phá. Căn cứ vào tác phẩm Ô châu cận lục của Dương Văn An ra đời năm 1553 ta thấy trong danh mục 49 làng ở Hải Lăng, làng Thi Ông chưa có tên trong danh mục ấy. Theo các cụ già làng Thi Ông cho biết làng do ba họ Hồ, Nguyễn, Võ cùng nhau khai phá về sau có thêm họ Lê. Ở làng bây giờ họ có nhiều đời nhất là họ Võ, 19 đời tính trung bình một đời 25 năm thì làng Thi Ông đã có hơn 475 năm lịch sử. Vào cuối thời chúa Nguyễn, theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn huyện Hải Lăng có 5 tổng, 67 làng, 4 thôn, 4 phường, 2 tộc. Trong đó tổng An Khang có 16 làng, 1 thôn, 2 phường, Thi Ông thuộc tổng An Khang.
Như vậy, đến khi đào sông Vĩnh Định (1825), cư dân làng Thi Ông đã đồng cam cộng khổ cải tạo đất đai xây dựng lên một làng rộng lớn. Nhận thấy đây là một vùng đất tốt nên ngài Ngô Văn Thắng, Ngô Văn Thọ đã mua đất của làng Thi Ông nằm ở hữu ngạn sông Vĩnh Định với diện tích hơn 30 mẫu.
Thứ hai, vùng đất xứ Cồn Đống – Cồn Miếu: Cồn Đống - Cồn Miếu (làng Câu Hoan) nằm ở tả ngạn sông Vĩnh Định, nơi giao nhau ngã ba sông rất thuận lợi cho đi lại, phát triển kinh tế.
Theo lịch sử Đảng bộ Hải Thiện (1992) cho biết đây cũng là vùng đất trước kia của Chăm Pa. Câu Hoan nằm trên ngã ba đường thiên lý Bắc - Nam nên thu hút rất nhiều cư dân trong quá trình di cư vào Nam sinh sống đã trụ lại đây lập nghiệp.
“Ba vị đứng đầu trong đội ngũ những người có công được làng thờ phụng, ghi nhớ công lao là vị thuỷ tổ họ Đặng, Bùi các vị đều là quan lại văn võ của triều đình. Hưởng ứng chính sách chiêu dân lập ấp xây dựng phía Nam Tổ quốc của Nhà nước, vị tiên tổ họ Lê là Lê Xuân Đô đã cùng ngài Đặng Đức Đạt và Đặng Phong Thuần đưa bà con thân thích vào đây lập nghiệp. Gia phả hai họ Lê, Đặng cho biết đến nay đã có hơn hai mươi thế hệ con cháu sinh sống lao động xây dựng Câu Hoan. Nếu tính thế hệ trung bình 25 năm thì hai họ đến nay lập nghiệp 600 năm trước”.
“Đất Câu Hoan vốn rộng, rừng rú, truông độn nhiều, ruộng vùng trũng không kém phần phì nhiêu nhưng để cải tạo khai phá được cần nhiều sức lao động. Bởi thế các bậc tiền bối luôn sẵn sàng đón nhận thêm nhiều gia đình di cư từ Bắc vào hoặc các vùng khác đến chung sức canh phá đồng hoang sú vẹt đặng xây dựng xóm làng yên vui. Vài thế hệ sau họ Lê, Đặng dựng nghiệp là tổ tiên họ Lê Quang, Lê Phúc, Đỗ, Bùi, Trương, Hoàng lần lượt đến tụ cư tại đây, góp phần quan trọng tạo lập và phát triển làng Câu Hoan”.
Đến đầu thế kỷ XIX cương vực Hải Thiện đã ổn định theo bộ Điền làng Câu Hoan năm Cảnh Hưng thứ 40 (1799) bản chữ Hán ruộng đất xã Câu Hoan là 1.200 mẫu, 8 sào, 13 thước. Phần đất hoang hoá, gò đồi hẹp còn 299 mẫu, 5 sào, 5 thước. Tên làng Câu Hoan được đặt cho một tổng của huyện Hải Lăng.
Vì vậy, vùng đất xứ Cồn Đống - Cồn Miếu thuộc làng Câu Hoan trước khi trở thành đất Thuận Nhơn đã có một quá trình khai phá cải tạo lâu dài của cư dân các bộ tộc Chăm rồi đến cư dân các họ Lê, Đặng, Bùi, Hoàng,…
Vậy hai vùng đất trên chính thức trở thành đất Thuận Nhơn lúc nào?
Theo Đại Nam thực lục cho biết vào năm Ất Dậu Minh Mạng thứ 6 (1825) vua đã cho đào sông Vĩnh Định: “Quảng Trị trước có đường kênh từ Trung Đơn đến La Vi rồi nhiều lần cát lấp nông cạn thuyền bè khó đi vua muốn thông đường vận chuyển trước sai giám thành Đỗ Phúc Thịnh đến xem. Bèn khai thông đường kênh mới từ Quân Kinh đến Trung Đơn (dài 1.720 trượng, mặt nước rộng 6 trượng là cùng). Đến nay sai Thống chế Phan Văn Thuý trong coi việc đào sông cấp cho cờ khâm sai và bài phụng chỉ để thêm trọng thể. Phát 3.700 người dân Thừa Thiên và Quảng Trị đến đào, hậu cấp tiền gạo 2 phương, 15 uyển, vật liệu dùng thì không được lấy của dân. Dụ Phan Văn Thuý rằng: “gần đây ít mưa, giá gạo hơi cao, trẫm thật chẳng muốn nhọc sức dân, chung con sông ấy công tư đều có lợi mà người đến lại được cấp tiền gạo, chẳng chút ngại phí, ấy là cái ý lấy công thay chẩn,…”.
Sông Vĩnh Định được khơi đào không chỉ tạo điều kiện cho nhân dân đi lại thuận lợi, cung cấp nước cho nông nghiệp mà nó còn đánh dấu sự ra đời một đơn vị hành chính mới đó là làng Thuận Nhơn.
Theo gia phả truyền lại trong đoàn quân thần chỉ huy đào sông ấy có hai ông Ngô Văn Thắng, Ngô Văn Thọ là con trai của Chưởng cơ Ngô Văn Sở tham gia. Sau khi sông đào xong hai ông được phép trưng canh, mua đất lập làng. Như quan niệm của người xưa có câu “nhất cận thị, nhị cận giang” nên hai ngài đã mua hai vùng đất của làng Thi Ông, Câu Hoan có dòng sông Vĩnh Định chảy qua nhưng trên thực tế nhờ sức ép của bà Hiền phi Ngô Thị Chánh (vợ vua Minh Mạng, chị gái hai ngài) rất lớn.
Đến năm 1839 dưới triều vua Minh Mạng, Thuận Nhơn chính thức có làng hiệu. Ngài Ngô Văn Thắng (ngài anh) theo “tập ấm” được phong làm quan cai đội nên ngài đã nhường tước vị khai canh cho ngài em là Ngô Văn Thọ và con của ngài là Ngô Văn Văn làm hậu khai khẩn. Hiện nay, theo gia phả họ Ngô con cháu sống ở đây tồn tại khoảng 7 - 8 đời, tính trung bình một đời 25 năm làng Thuận Nhơn ra đời vào thời điểm từ năm 1825 - 1839 là hoàn toàn có cơ sở.
Như vậy, lịch sử của làng Thuận Nhơn tồn tại khoảng 180 năm nay, so với chiều dài lịch sử dân tộc Thuận Nhơn ra đời muộn song đã để lại nhiều dấu ấn nổi tiếng về một làng quê giàu có được mọi người lưu tụng “tiền Thuận Nhơn”.
2. Quá trình phát triển làng Thuận Nhơn và sự ra đời làng Thuận Đức
Từ 30 mẫu đất của xứ Già Giàu, ngài khai canh đã mua thêm 100 mẫu ở xứ Cồn Đống - Cồn Miếu của làng Câu Hoan lập nên làng Thuận Nhơn. Hiện nay diện tích đó không đổi bao nhiêu.
Không bằng lòng với diện tích hiện có, muốn mở rộng đất đai, tăng diện tích canh tác, mặt khác thể hiện phần nào sự giàu có của người xưa nên các ngài tiếp tục mua đất ở Trung Đơn, Hà Lỗ, Lai Phước với diện tích bao nhiêu không rõ. Theo các cụ cho biết là rất nhiều và ở nhiều nơi nhưng vì đất đó không quản lý từ lâu, một phần do trả lại, một phần do sang nhượng, mua bán giấy tờ không còn.
Để chứng minh làng có nhiều đất, chúng ta dẫn ra đây câu chuyện “rào đất ở làng Hà Lỗ” được ghi trong gia phả họ Nguyễn ở Hà Lỗ như sau: “…Quốc cậu Ngô Văn Thọ từng làm rể ở Hà Lỗ. Sau khi cưới bà họ Nguyễn (bà chị), quốc cậu còn cho người mang trầu rượu đến hỏi bà em. Họ Nguyễn chưa chịu, quốc cậu liền rào khúc sông Ô Lâu của làng, chảy qua phần đất của quốc cậu đã trưng mua (nay là cánh Đồng Lăng) gây khó khăn cho dân làng. Cuối cùng họ làng hỏi ý kiến bà em. Bà này ưng thuận qua câu hò:
Một ngày bước xuống thuyền rồng
Còn hơn muôn thuở sống trong thuyền chài …”.
Bằng chứng thứ hai: Để tỏ tình giao hảo thân thiện với các làng xung quanh. Thuận Nhơn đã đúc chuông tặng làng Lam Thuỷ, Thi Ông. Lam Thuỷ đã để lại cho Thuận Nhơn khoảng 10 mẫu đất ở cánh đồng Nam. Về sau không rõ vì lý do gì Thuận Nhơn đã trả lại đất cho Lam Thuỷ nên vùng đất đó gọi là Hạ Nghĩa.
Sang đầu thế kỷ XX cùng với sự phát triển dân số, trong khi đất canh tác có hạn, nhu cầu tìm đất mới để di dân là vấn đề bức xúc đặt ra. Và vấn đề đó được giải quyết. Theo cụ Ngô Xưng một người sống lâu năm ở làng cho biết:
Ở làng Câu Hoan có ông Điển Thành là người giàu có nhất làng muốn được kiện, chiếm lấy đám “trưa chợ” của làng Câu Hoan làm nghĩa trang gia đình. Đám “trưa chợ” là một mảnh đất khá rộng (2 - 3 mẫu), khô cằn, quanh năm chỉ dùng gieo mạ và dân làng trồng khoai lang, đậu mè… toạ lạc ở cuối làng Câu Hoan giáp ranh với làng Trung Đơn (Hải Thành). Ông Điển Thành đã nhờ ông Ngô Kim Định giúp đỡ bằng cách nhờ linh mục Paul Nguyễn Văn Chính chánh giáo xứ ở Hội Yên lên tiếng với chính quyền. Ông Ngô Kim Định lúc bấy giờ cũng là người giàu có nhất Thuận Nhơn, là người rất có uy tín với linh mục Nguyễn Văn Chính vì ông là người trong họ đạo. Linh mục Nguyễn Văn Chính rất thân với thượng thư bộ lại Nguyễn Hữu Bài, tri phủ Hải Lăng Ngô Đình Diệm.
Do vậy, sự việc của ông Điển Thành nhanh chóng thành công. Để tỏ tình bang giao, giữa hai họ Đặng và Ngô kết nghĩa sui gia cụ thể ngài cho hai người con gái Thuận Nhơn về làm dâu họ Đặng (Đặng Khươu, Đặng Mãnh). Ông Điển Thành đã giúp ông Ngô Kim Định mua khoảng 50 mẫu đất hoang hoá của Câu Hoan và lập làng Thuận Đức.
50 mẫu đất hoang hoá này gồm hai khoảng đất riêng biệt cách nhau khoảng 2km gồm có: một là “trằm đỏ tía” trên khoảng 40 mẫu ruộng nẩy và đất hoang. Đông và Bắc giáp rú Thi Ông, Lam Thuỷ, Tây và Nam giáp Câu Hoan; hai là “trằm cây rỏi” khoảng 10 mẫu ruộng nẩy và đất hoang chưa khai phá bốn phía xung quanh đều là đất hoang hoá và những đồi cát trắng của Câu Hoan.
Đến năm 1916 làng Thuận Đức mới có làng hiệu do ông Ngô Kim Định đặt. Năm 1931 triều đình sắc phong cho ông Định danh hiệu “Tiền Khai Canh” và ông Ngô Ổn danh hiệu “Hậu Khai Khẩn”.
Như vậy, Thuận Nhơn trải qua một quá trình phát triển đã hình thành thêm một làng mới đó là làng Thuận Đức, đa số con cháu họ Ngô ở đây đều xuất phát từ họ Ngô Thuận Nhơn.
3. Ý nghĩa tên làng Thuận Nhơn, Thuận Đức
Trước khi nói về ý nghĩa tên làng Thuận Nhơn, Thuận Đức tác giả bài viết xin thử đưa ra một số ý kiến xung quanh các địa danh trên:
* Xứ Già Giàu: vốn được cư dân Thi Ông gọi là “thượng đoạn” sau khi Thuận Nhơn an cư lạc nghiệp đổi lại xứ “Già Giàu” chỉ sự giàu có của nhiều gia đình. Do vậy, Thuận Nhơn ra đời từ việc mua đất lập làng là điều dễ hiểu.
* Xứ Cồn Đống - Cồn Miếu trong lịch sử Đảng bộ Hải Thiện có ghi lại truyền thuyết của bà con Câu Hoan như sau: “Dân làng Câu Hoan lưu truyền rằng vào đời Minh Mạng (1820 - 1840) có một bà thứ phi của vua tên là Trần Thị Sở vì không được vua sủng ái đã về đây tìm nơi nương thân. Bà mua tạo nhiều tư điền, tư thổ, lập dinh cơ tại xóm Quý và trở thành người giàu có nhưng vẫn không được yên phận trước sự gièm pha dè bỉu bóng gió của dân làng. Bà đã hoá điền, xin ra dựng nhà lập vườn ở nơi heo hút phía Đông Bắc làng. Đó là cơ sở đầu tiên cho sự ra đời của làng Thuận Nhơn. Mấy chục năm sau vào thời Tự Đức một số dân lưu tán các nơi đến đây xin khai khẩn mua đất đai của xã để lập thành đơn vị hành chính mới nằm lọt ngay trong vùng đất của xã nhà nhưng lại thuộc xã khác”.
Đoạn trích trên có hai điểm cần chú ý: Một là bà Thứ phi Trần Thị Sở bị thất sủng về đây mua đất tạo dinh cơ đó là tiền cơ sở lập nên làng Thuận Nhơn điều này là chưa chính xác. Bởi theo gia phả họ Ngô Thuận Nhơn cho biết có bà Ngô Thị Chánh (1792) huý là Kiều làm Hiền phi của vua Minh Mạng. Rất nhiều sử sách khác cũng cho biết: 1806 khi hoàng tử Đảm đến tuổi lập thiếp bà Ngô Thị Chánh được chọn vào hậu cung. Sau 30 năm, năm 1836 bà được vua Minh Mạng sắc phong làm Hiền phi Ngô Tuệ Khiết, bà rất được vua Minh Mạng sủng ái và có dự định phong làm Vương phi. Bà Hiền phi hưởng nét tinh anh và hào khí của người cha ở trong hàng tướng lỗi lạc mà lịch sử ghi công cả hai triều đại: Tây Sơn và Nguyễn. Bà là thân mẫu của 5 vị hoàng tử: Hoàng tử thứ 2 huý tên Chính mất sớm, hoàng tử thứ 5 Vĩnh Tường Quận Vương Miên Hoàng (1811), hoàng tử thứ 6 Phú Bình Công Miên Áo (1817), hoàng tử thứ 40 Hoà Quốc Công Miên Quần (1828), hoàng tử thứ 60 Quảng Hoá Quận Công Miên Uyển (1836). Hoàng trưởng nữ công chúa Ngọc Tông Thụy An Tịnh (1812), Hoàng nhị nữ công chúa An Phú Khuê Gia (1813), Hoàng tam nữ công chúa Lộc Thành (1815), Uyển Đạm Thuỵ Đoan Khiết, Hoàng nữ thứ 33 công chúa Đoan Thục mất sớm.
Như vậy, căn cứ vào năm sinh của các hoàng tử, hoàng nữ và sắc phong Hiền phi chứng tỏ bà Chánh rất được sủng ái và là Hiền phi nên trong quá trình mua đất lập làng Thuận Nhơn bà cũng có một sức ép rất lớn.
Thứ hai, đoạn trích có nói “đến đời Tự Đức có một số người đến mua đất lập làng…” nhưng ta biết 1839 làng đã có làng hiệu mà ngài Ngô Văn Thọ được phong là ngài khai canh. Địa danh xứ Cồn Đống - Cồn Miếu được bà con Thuận Nhơn gọi tắt là “trong phường” hay “phường Sở” nói trại đi là “phường sả” để tránh phạm huý với ngài tổ của mình. Có lẽ vì thế mà truyền thuyết Câu Hoan gọi là bà phi nào đó là Trần Thị Sở chăng.
Vậy tại sao làng không đặt tên khác mà đặt tên làng là Thuận Nhơn, Thuận Đức? Sở dĩ như vậy theo bà con Thuận Nhơn cho biết nguồn gốc của mình ở Thuận Nghĩa. Trong gia phả chi I, họ Ngô Thuận Nhơn mở đầu viết: “… Cao tổ huý Ca dĩ tiền sinh trưởng Gia Định tỉnh, Thuận Nghĩa thôn, kỷ sự tích bản vô tường kỷ…”. Về sau Ông Ngô Kim Định mua đất lập làng mới đặt Thuận Đức cũng bắt nguồn như vậy. Cả ba làng đều lấy chữ Thuận đứng đầu. Đặt Thuận Nhơn, Thuận Đức với ý nghĩa tìm Thuận Nghĩa mà về. Vì thế trong câu đối ở miếu ngài khai canh có đề:
“Địa tịch Thuận Giang, Ngô phái diễn
Nhân toàn gia quận, tướng môn lai”
Sau nhiều năm thất lạc với thôn Thuận Nghĩa như có đề cập trong gia phả, con cháu họ Ngô cụ thể cụ Ngô Xưng đã bỏ nhiều năm tìm kiếm, qua tư liệu sưu tầm được trong Gia Định thành thông chí và thư của cụ Nguyễn Đình Đầu cung cấp cụ Xưng đã tìm gặp bà con họ Ngô Thuận Nghĩa - hậu duệ tướng Ngô Văn Sở tại xóm Dinh, xã Long Thuận, huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang (Mỹ Tho cũ). Tên làng thật sự có ý nghĩa như chính tên gọi của nó.
Kết luận:
Từ quốc lộ 1A dọc theo tỉnh lộ 68 đến ngã ba sông Vĩnh Định nhìn về phía tay trái làng Thuận Nhơn hiện dần ra - một nét mộc mạc đơn sơ, cổ kính nhưng đây đó phảng phất nhịp sống mới. Từ Thuận Nhơn qua làng Lam Thủy đi lên hướng Tây khoảng 3km là làng Thuận Đức. Qua trình bày sự thành lập hai làng, có thể khẳng định sự ra đời của làng Thuận Nhơn, Thuận Đức là do quá trình mua đất lập làng. Trên dòng sông Vĩnh Định chảy qua xã Hải Vĩnh ngoài làng Thuận Nhơn còn có làng Lương Chánh ra đời cũng như vậy. Đây là một hình thức lập làng mới ở huyện Hải Lăng vào thế kỷ XIX mà trước đó chưa thấy xuất hiện. Trải qua gần 180 năm cải tạo đất đai, đấu tranh với thiên tai, chiến tranh, nhân dân hai làng đã tạo nên những xóm làng trù phú, con cháu ngày nay phát huy truyền thống của tổ tiên ra sức xây dựng quê hương giàu đẹp.
T.Q.T - N.T.M.T
________________
Tài liệu tham khảo:
1. Ban chấp hành Đảng bộ xã Hải Thiên (1992), Lịch sử Đảng bộ xã Hải Thiện, Quảng Trị.
2. Trần Viết Điền, Về tướng Ngô Văn Sở ấy, Hội thảo khoa học Phú Xuân - Thuận Hoá đối với phong trào nông dân Tây Sơn, NXB Thuận Hoá, Huế, 1989.
3. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục (tập 2), NXB Giáo dục, Hà Nội.




