|
T |
ôi ngồi bệt xuống chân đài tưởng niệm nhìn đăm chiêu làn khói hương ngoằn ngoèo bay lên, ánh nắng ban mai dìu dịu lấp lánh dưới bầu trời xanh trong, ngọn gió se lạnh thoảng qua làm cho từng đám khói cuộn tròn rồi loãng dần và bay vào không trung như những bàn tay xoắn xuýt dắt nhau đi vào cõi xa xăm. Hơn ba mươi năm rồi các anh đi xa, quê hương ngày một thay da đổi thịt, nghĩa trang đứng sừng sững bên đường cái quan như gương mặt người xưa luôn dõi theo từng bước chân nhọc nhằn xuôi ngược hôm nay…Tôi đang thả tâm tư trôi theo dòng ký ức thì chị Đào đến vỗ vào vai – Anh có nhận ra những ai trong này không? – Tấm ảnh có bốn người mà nay chỉ còn lại một mình anh…Tôi chộp lấy…Đúng rồi! – Tấm ảnh trắng đen cỡ 6 x 9 giấy đã ố vàng, lớp thuốc loang lỗ, thú thật tôi bị bất ngờ, và không còn nhớ ảnh được chụp trong hoàn cảnh nào và tác giả là ai? Chỉ biết là khoảng năm 1969, tại xóm Thủy Ba – Vĩnh Thủy – Vĩnh Linh, cái thời “Ăn cơm Bắc đánh giặc Nam”. Chúng tôi đã từng đóng quân ở đó, những ai có thể khó nhận ra bởi tấm ảnh có mờ đi theo năm tháng nhưng với tôi, bóng hình của những đồng đội năm xưa hiện lên gần gũi, thân thương như chúng tôi đang tủi tủi mừng mừng trong ngày gặp mặt “Hội Khe Lòn” hôm nay. Dưới khóm tre xác xơ bom đạn, sau lưng là cánh đồng trắng xóa, xa xa vài nữ dân quân lom khom cấy lúa súng vẫn quàng vai. Hai người đứng quàng vai nhau là Hòe với Thi, tôi và Châm thì ngồi lơ đãng. Châm cầm chiếc đài bán dẫn nghiêng tai nghe, tôi đội mũ tai bèo ngảnh mặt nhìn xa xăm…Tất cả toát lên cái trẻ trung, dạn dày gắn bó vô tư. Quả đúng như vậy, bốn chúng tôi đều ở cái tuổi mười chín đôi mươi đi vào cuộc chiến. Hòe dáng thư sinh, Thi mộc mạc rắn rỏi có chiếc răng khểnh nói cười có duyên. Châm cao lòng ngòng mà trong chiến đấu lại nhanh nhẹn như một chú sóc, cả ba người đều từng nằm gai nếm mật, bám đất bám dân chiến đấu và hy sinh trên mảnh đất Cam Lộ quê hương. Nếu nói về thành tích chiến đấu của các anh thì làm sao tôi có thể kể hết trong những trang viết ngắn ngủi này. Nhìn trong ảnh Thi cười tươi tắn, tôi lại nhớ nụ cười mãn nguyện của anh sau trận đánh địch giữa ban ngày tại trại tập trung Cam Vũ. Dạo ấy khoảng năm 69 – 70, trên địa bàn bắc đường 9 có một vùng núi đồi nằm giữa các trục đường số 1, đường 9, đường 75 và 76, ta gọi là Khu tứ giác, địch đã dùng hàng chục nghìn ca máy húc ủi sạch cây cối, Khu tứ giác rộng hàng trăm kilômet nơi “ Rường che bộ đội, rừng vây quanh thù” thì nay thành bãi trắng mênh mông, những quả đồi trọc lóc chơ vơ như những chiếc bánh bao khổng lồ nằm lăn lóc, ta có thể đứng mãi tận Cồn Tiên dùng ống nhòm nhìn rõ mồn một thị xã Đông Hà với những căn cứ Mỹ bao quanh, những khẩu pháo nòng dài 175 ly đen ngòm, xe nhà binh chạy lúc nhúc, máy bay lên xuống…khép nép hai bên bờ sông và các trục đường là những mái tôn lụp xụp, đó là các trại tập trung của địch, chúng ráo riết “Bình định”, “Thanh lọc”, bắt bớ, tra tấn, đánh đập nhân dân cực kỳ dã man. Đêm đêm chúng tăng cường phục kích, cài mìn khủng bố hòng ngăn chặn cách mạng đến với quần chúng, địch dùng nhiều thủ đoạn thâm độc, cài mìn ngay lối ra vào những gia đình chúng cho là cơ sở cách mạng làm cho nhiều người dân lành chết oan uổng, nhiều bà con không dám mở cửa tiếp xúc với cán bộ ta…- Phải tiêu diệt bọn cài mìn tạo thế, tạo đà cho phong trào quần chúng! Châm thốt lên như vậy, nhưng làm sao đánh cho được bọn này lại là một bài toán khó giải, bởi vì nơi trú quân về đến trại tập trung phải hơn 2km qua cánh đồng không một bụi cây, lùm cỏ khó bề tiếp cận mục tiêu. Trong lúc đó kẻ địch lại thực hiện lệnh giới nghiêm cứ đến bốn giờ chiều là ai về nhà đó, súc vật phải đưa vào chuồng để cho chúng hoàn thành cái việc cài mìn. Khó là vậy nhưng làm sao ngăn được quyết tâm của các anh. Một ngày tháng năm nắng như đổ lửa, cánh đồng hoang cỏ cháy thành một màu vàng lóe mắt…Những hố bom, mương nước cạn khô nứt nẻ. Tổ ba người gồm Châm, Thi và Hòe phải hóa trang thành màu đất, như con kỳ nhông trên bãi cát trắng, các anh bò lê từng chặng giữa ban ngày, chúng tôi ngồi ở căn cứ hồi hộp theo dõi từng giây, có lúc tim như ngừng đập. Đàn bò hoảng loạn chạy xáo xác…con chim nhạt chợt bay vút lên trời kêu chiêm chiếp…Chỉ một cái sơ suất địch phát hiện là các anh chỉ còn chiến đấu và hy sinh trần trụi giữa cánh đồng, thật quá mạo hiểm nhưng điều đó không xảy ra. Từ mười giờ trưa đến bốn giờ chiều nắng rát, đói khát, lầm lũ bò đi. Tổ Châm cũng đã tiếp cận được bờ rào kẽm gai và cũng là lúc một tiểu đội lính ngụy lom khom cài đặt những quả mìn tội ác. Bất thần 3 khẩu AK đồng loạt nổ súng quật ngã từng tên. Vừa bắn vừa hô xung phong…địch hoảng loạn chạy ra khỏi khu tập trung về hướng Đông Hà, khi quay lại trận địa tám tên địch nằm vắt vẻo tay còn ôm những quả mìn định hướng, những cuộn dây điện, mắt vẫn còn ngơ ngác, hốt hoảng. Thu chiến lợi phẩm các anh quay về trong niềm hân hoan, chúng tôi chạy ra ôm chầm lấy nhau mừng trào nước mắt. Châm nói lớn: - Chúng ta đã trả thù cho đồng bào, đồng chí chúng ta, bây giờ dẫu có hy sinh cũng hả dạ rồi…Ba gương mặt cháy sạm, hốc hác mà miệng vẫn cười tươi, vô tư mãn nguyện…
Vẫn cầm tấm ảnh trên tay, tôi cùng chị Đào đi về phía dãy mộ bên góc nghĩa trang, hàng cây xà cừ vươn cành che bóng nên hàng chữ trên những tấm bia mờ mờ, ba ngôi mộ nằm kề nhau cùng ngày hy sinh là Nguyễn Hải, Nguyễn Hoạt và Lê Văn Ban. Tôi sửng người liên tưởng…Tấm ảnh trong tay có bốn người nay còn một mình tôi và trận đánh đêm 27.8.1970 của tổ 4 người nay chỉ còn tôi sống sót…Những hàng bia mộ trong nghĩa trang bỗng mờ đi, tiếng chim trên cành nhỏ dần để lại một khoảng mông lung. Tôi nghe như có vật gì đó đè nặng trên ngực, đôi chân như bị cỏ dại níu chặt…Có người quan niệm con số bốn là con số tử, con số “xui xẻo”. Riêng tôi con số bốn bây giờ như cái gì đó đã tạc vào tâm can, qua cuộc chiến tôi còn đây mà bao nhiêu đồng đội đã ngã xuống, con số bốn như con nợ luôn mang bên mình, nó đòi hỏi, nhắc nhở tôi bám trụ cũng phải sống xứng đáng. Những năm 69 – 70, thực sự là thời kỳ ác liệt, quả thật địch đã đẩy ta ra xa tạo một vành đai bảo vệ căn cứ Đông Hà. Khu tứ giác không còn là hậu cứ với những đoàn quân rầm rập, ngay chỉ còn bốn chúng tôi bám trụ cũng phải đào hầm bí mật, ngày chui xuống lòng đất, đêm đội lên tìm về với dân, vừa nhen nhóm giữ vững phong trào, vừa gom góp lương thực, thực phẩm; có những đêm mưa tầm tã, trong khu tứ giác không còn một cành cây mắc tăng võng, chúng tôi ngồi đội mưa núp mặt vào đầu gối suy nghĩ miên man, mỏi lưng qua – Ban nảy ra sáng kiến…tập trung ba lô gùi cõng một đống lấy áo mưa phủ lại, dùng một tấm tăng trải làm chiếu và một tấm làm chăn cứ thế ôm súng nằm dưới mưa, nước lọt từ dưới lưng, nước xuyên từ trên mặt. Chúng tôi ôm nhau ướt lại khô, khô lại rồi ướt mà mưa cứ lộp bộp triền miên, mưa mang đến nỗi buồn, cô đơn trống trải; những cơn mưa lác đác đêm trường chúng tôi ngồi thì thầm tâm sự. Hoạt nói rằng:- Tôi mồ côi cha chỉ còn mẹ và hai em nhỏ, em tôi còn đi ở tớ kiếm tiền nuôi mẹ, nếu hòa bình rồi tôi không còn, các anh nhớ giúp đỡ mẹ và em tôi! Ban chậm rãi – Cuộc chiến chắc còn gay go ác liệt, tôi chỉ mơ ước được đứng vào hàng ngũ của Đảng thì có hy sinh cũng toại nguyện, nhưng trước đây tôi từng là lính ngụy nên ước mơ khó có thể đạt được. Thôi thì xin làm một quần chúng trung thành với Đảng cũng vinh dự rồi!...Vợ tôi chắc sẽ lấy chồng, các anh nhớ chăm sóc dùm đứa con gái nhỏ! Anh Hải là người lớn tuổi hơn cả không nói gì chỉ khẻ trở mình. Tôi biết rằng những tâm sự đó trở thành lời trăn trối. Đêm hôm sau trời ngớt mưa và trăng lại sáng vằng vặc, chúng tôi lại tìm về với dân mặc dù biết trăng sáng mà đi là cực kỳ nguy hiểm nhưng đã gần một tuần chúng tôi không nắm được tình hình, vả lại lương thực cũng đã cạn. Tổ bốn người đi thành hàng dọc, sách nhau 20 mét, lội bì bõm qua cánh đồng trắng nước, ánh trăng lung linh trước mặt như dẫn đường đưa chúng tôi về thôn Nhật Lệ và soi sáng cho chúng tôi gỡ từng quả mìn để đột nhập vào trại tập trung. Sau khi gặp cơ sở nắm bắt tình hình và xây dựng phong trào, chúng tôi quay về nhà mẹ Nậy, một cơ sở trung kiên và là một “trợ lý hậu cần” vững chắc của chúng tôi. Bữa cơm nguội với nước ruốc, cả tổ ngồi mò mẩm ăn ngon lành, anh Hải còn ghé tai tôi: - Mai mốt hòa bình sẽ ăn một bữa cơm nóng với rau muống luộc…Không phải là thiếu niềm tin ở tương lai nhưng đôi lúc chúng tôi chỉ mơ có vậy. Một bữa cơm nóng đàng hoàng, một giấc ngủ bình yên, đi đứng, nói cười với dân giữa thanh thiên bạch nhật…
Trăng đã xế bóng, nghĩa là chúng tôi phải rút ra căn cứ để lại chui xuống hầm bí mật, nhai lương khô, uống nước lã. Bước chân vẫn âm thầm, đội hình và cự ly vẫn giữ nguyên. Hoạt đi đầu đến Ban và tôi sau cùng là anh Hải. Trong lòng tôi thấy vui vui vì đã hoàn thành được nhiệm vụ, nhen nhóm được lửa cách mạng trong lòng dân, biết được phong trào vẫn sục sôi và hướng tới ngày thắng lợi, bụng dạ cũng êm êm sau bữa cơm vì đã mấy ngày đói lạnh. Chúng tôi chuẩn bị vượt qua trục đường lớn thì bỗng - Ầm…tắc tặc tặc – Địch phục kích! Trăng sáng quá nên Hoạt và Ban đã hy sinh ngay loạt đạn đầu của địch. Anh Hải và tôi chia hai mũi đánh trả và rút lui, anh Hải lại bị trúng một quả M79 bị thương nặng. Theo quy ước từ trước anh hướng AK bắn xiên và phía tôi hai phát rồi quay súng bắn xối xả về phía địch và tiếng súng của anh im bặt sau một tiếng nổ long trời. Tôi cũng bị một viên AR15 xuyên qua đùi, tự băng bó và rút về hậu cứ một mình.
Ngày hòa bình tôi trở về tìm đứa con gái của Ban thì cháu đã theo mẹ và dượng vào sinh sống ở Bình Tuy. Hai người em trai của Hoạt đã trưởng thành, có người đã là sĩ quan Hải Quân Nhân dân Việt
Có những đêm trường, trong tiếng mưa rơi xào xạc tôi nghe như có tiếng các anh vọng về thì thầm, động viên, nhắc nhở và như cả trách móc. Nhưng làm sao chúng tôi có thể quên đi những năm tháng hào hùng, những chuỗi ngày gian khổ, những đồng đội thân yêu đã không trở về, như hơn ba mươi năm rồi mà chị Đào vẫn giữ nguyên vẹn tấm ảnh quý hiếm này để cho tôi được mang đi phóng to thành ảnh chân dung, được tự tay mang đặt lên bàn thờ các anh cho lòng mình được phần vơi nhẹ. Đêm nay sau trận mưa rào, vầng trăng luồn qua đám mây lại tỏa sáng lung linh, trăng nghênh xuống nhìn thẳng vào tôi qua khung cửa sổ, lặng lẻ, dịu hiền như người làm chứng trung thực mà không để một ai có thể dối lòng…
Tôi ngồi dậy viết những dòng này như lời tâm sự đêm mưa và cũng là những lời tạ tội chân thật.
N.M.D




