Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Thăm Quảng Trị giải phóng

Tháng 6 năm 1973, mặc cho bom đạn Mỹ cày xới, con đường số Một vẫn là động mạch chủ của Tổ quốc. Con đường đó dẫn chúng tôi vào thăm miền Nam, thăm Quảng Trị giải phóng.

 

Tháng 6 năm 1973, mặc cho bom đạn Mỹ cày xới, con đường số Một vẫn là động mạch chủ của Tổ quốc. Con đường đó dẫn chúng tôi vào thăm miền Nam, thăm Quảng Trị giải phóng. Những cột cây số với những tên quen thuộc Đông Hà, Quảng Trị, Huế… xuất hiện rất đột ngột, gợi bao thương nhớ và khâm phục.

Xe chúng tôi dừng lại để vượt phà sông Gianh, dòng sông đã một thời là “biên giới” phân tranh của Trịnh - Nguyễn. Lịch sử đã xóa nhòa cái vạch đen này để cho sông Gianh mãi mãi xanh màu sông núi. Sáng hôm sau, chúng tôi đến Bến Hải. Dòng sông bé nhỏ ấy trong buổi bình minh lên, hay hoàng hôn xuống, trưa hè hay buổi đông sang đều dịu dàng thân thiết. Vậy mà sông Bến Hải bỗng trở nên nơi cắt chia Tổ quốc suốt mấy chục năm liền, cầu Hiền Lương phải chịu chia đôi ra để sơn hai màu khác biệt…

Mười năm về trước, chúng tôi đã có dịp đến đứng ở bờ Bắc sông Bến Hải này. Dòng sông không rộng quá hai trăm mét với chiếc cầu bảy nhịp dài một trăm bảy mươi tám mét. Trong đoàn chúng tôi có nhà văn lão thành Nguyễn Tuân. Một tay cầm sổ, một tay cầm bút, ông cùng chúng tôi đếm kỹ từng thanh ván nhỏ lát ngang trên mặt cầu, tất cả có tám trăm chín mươi tư tấm. Một bước chân vượt hai thanh ván đó, chỉ hai trăm bước nữa sẽ về đến miền Nam. Vậy mà, đau đớn thay, con sông này trở thành giới tuyến và chiếc cầu kia bỗng bị cắt đôi. Dạo đó, nửa cầu phía Bắc ta sơn màu xanh, phía Nam màu xám. Chúng tôi theo các chiến sĩ công an võ trang ra đứng ở miếng ván thứ bốn trăm năm mươi giữa cầu nhìn sang bờ Nam (nửa cầu phần Bắc dài hơn phần Nam sáu tấm ván).

Giờ đây, đôi bờ sông Bến Hải là của chúng ta. Bến Hải hôm nay đẹp hẳn lên và cầu Hiền Lương không còn vắng tẻ như ngày xưa nữa, xe vào ra tấp nập. Ngày trước Mỹ giúp cho Pháp xây cầu Hiền Lương để rồi biến nơi đó thành “biên giới Huê Kỳ”. Nhưng Mỹ không thực hiện được. Bị thua, bị mất Cồn Tiên, Dốc Miếu, bị mất hàng rào điện tử… Mỹ đã đem bom ném sập chiếc cầu ấy. Công binh ta đã bắc tạm chiếc cầu phao nối liền hai bờ. Rồi đây ta sẽ xây dựng cầu Hiền Lương to đẹp và đàng hoàng hơn.

Hai đầu cầu Hiền Lương, hai cột cờ cùng cao ba mươi tám mét, với hai lá cờ đỏ sao vàng và cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng nửa xanh nửa đỏ rộng trên dưới một trăm thước vuông cùng bay phần phật trước gió và cùng soi bóng xuống sông Hiền Lương. Nhìn cảnh ấy, tim mỗi chúng tôi đều đập gấp, đều vô cùng hồi hộp và xúc động… Đưa chiếc máy ảnh lên tầm mắt, muốn chụp hai lá cờ của hai miền chung trên một khoảng trời xanh mà tay cứ run run…

Cái ước mơ của chúng tôi mười năm về trước “bước thêm hai trăm bước nữa để vào thăm miền Nam” nay đã thành sự thật. Chiếc xe Com-măng-ca nhẹ nhàng lăn bánh trên cầu phao Hiền Lương, chúng tôi xin phép được đi bộ qua cầu. Dòng sông trong xanh êm ả đổ về Cửa Tùng. Năm ba chiếc thuyền con, vài chiếc xuồng máy rẽ nước chạy ngược xuôi, qua lại. Sông Bến Hải bắt nguồn từ trong dãy Trường Sơn lượn qua một vùng quê giàu cao su và hồ tiêu.

Vùng bắc sông Bến Hải xưa kia là một vùng rừng rú rậm rạp có truông nhà Hồ dài ba dặm, là nơi tụ họp bọn côn đồ cướp bóc, vậy nên mới có câu: Thương em anh cũng muốn vô / Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang. Vào khoảng năm 1893, chúa Hiển Tông sai nội tán Nguyễn Đăng Khoa đi kinh lý chốn này. Nguyễn Đăng Khoa sức cho dân đốn cây, phạt rừng và tiêu diệt bọn côn đồ.

*

Mấy phút sau, chúng tôi sang tới bờ Nam. Ôi! Nửa Tổ quốc thân yêu là đây, miền Nam đây! Những anh lính giải phóng thân thương, những chiếc mũ tai bèo, những bộ quân phục xanh màu lá và những khuôn mặt hiền lành. Chúng tôi muốn nói chuyện với tất cả mọi người, muốn ôm hôn tất cả… kể cả cỏ, cây, hoa, lá và mảnh đất bạc màu thắm đượm chiến công của quân dân ở địa đầu miền Nam này. Các chiến sĩ an ninh ở đây làm thủ tục nhập cảnh cho chúng tôi rất nhanh chóng, xe đã có thể lên đường xuôi Đông Hà được, nhưng chúng tôi vẫn quấn quýt ở đây. Muốn đứng ngắm cho no con mắt về sắc cờ, màu áo, mùi núi sông… và muốn được nói, được cười cho thỏa mười mấy năm trời xa cách. Cảm thông với những xúc cảm đang dâng trào trong mỗi chúng tôi, anh bạn nhà báo Cu-ba thân thiết trong bộ quân phục màu xanh ô-liu cùng vào thăm Quảng Trị đến bên tôi, anh bắt chặt tay tôi và nói:

- Mảnh đất này trữ tình quá, sao có thể là nơi chia cắt được?

- Kẻ thù thì luôn muốn như thế, muốn biến sự hiền lành, trữ tình thành đau đớn.

- Miền Nam là của chúng ta, kẻ thù sẽ phải trả lại tất cả cho chúng ta… anh cố ý nhấn mạnh hai chữ chúng ta và hai cánh tay giang rộng như muốn nói: cả đất trời miền Nam này phải tự do, là của nhân dân Việt Nam.

Mặt trời đã lên cao, với những xúc cảm đang trào dâng đó, chúng tôi lên xe vào với Đông Hà. Leo đèo Ba Dốc chúng tôi dừng lại trước Dốc Miếu, cao điểm tiền tiêu của giặc Mỹ ngày trước. Bây giờ cờ giải phóng tung bay và hàng rào điện tử, cái hàng rào tình báo hiện đại nhất mà Mắc Na-ma-ra đã cố tình dựng ở đây để kéo dài ý niệm vĩ tuyến 17 là biên giới của cái gọi là “Việt Nam Cộng hòa” đã tan hoang. Tất cả chỉ còn là cỏ xanh và núi đồi rất Việt Nam. Tình báo vệ tinh, tình báo điện tử Hoa Kỳ cũng không cứu được ngày tận số của đội quân xâm lược.

Dốc Miếu cách Hiền Lương chỉ non mười cây số và cao hơn mặt biển 40 mét. Đứng ở đây có thể nhìn rõ Cồn Tiên, nhìn rõ Cửa Tùng với làng Cát Sơn bốn mùa sóng vỗ. Cũng từ đây, qua tầm ống nhòm có thể nhìn rõ đảo Cồn Cỏ trong ráng nắng chiều nổi lên như một chiến hạm canh giữ cả hai miền đất nước.

Chúng tôi đứng giữa trung tâm hàng rào điện tử Mắc Na-ma-ra nhìn về Hiền Lương. Dòng sông như một cánh tay khổng lồ thân thiết ôm lấy các xóm thôn của hai miền đã từng chịu cảnh đau thương. Hai mươi năm qua, bờ Nam này vắng lặng, đất hoang dại, núi đồi bị phạt trụi làm vành đai trắng.

Tôi hết nhìn cánh đồng Trung Hải chi chít hố bom và xanh rì lau lách lại nhìn con đường số Một từ Hiền Lương thẳng tắp đến chân đèo Ba Dốc và bỗng nhớ đến Bác Hồ kính yêu. Đầu thế kỷ 20 này, Bác đã đi qua đây. Một lần vào đầu năm 1961, khi gặp đại biểu Quảng Trị, Bác nhắc lại quãng đường Bác đã đi ở phía trong Hiền Lương. Bác nhớ và nhắc lại đoạn đèo Ba Dốc này xe phải leo núi vòng qua vòng lại. Hôm đó, nhân nhắc đến truông nhà Hồ, Bác nói: “Chỗ truông nhà Hồ ấy ngày xưa lắm trộm cướp, nhưng ngày nay chỗ ấy đang xây dựng xã hội chủ nghĩa. Còn trong chỗ các chú, từ Bến Hải trở vào còn một thằng kẻ cướp to, đó là giặc Mỹ, các chú về cùng đồng bào đánh đuổi nó đi để nhân dân khỏi khổ sở, tang tóc” và Bác nói: “Bác muốn được vào thăm Quảng Trị, vào thăm miền Nam…”.

Bác ơi, Quảng Trị đã được giải phóng, đế quốc Mỹ đang phải cút khỏi đất nước ta, và bà con Quảng Trị, bà con miền Nam vẫn đang mong được đón Bác. Chúng cháu vẫn nghĩ rằng Bác đang vào với miền Nam, vào thăm Quảng Trị giải phóng.

*

Chúng tôi đến Đông Hà, tỉnh lỵ của chính quyền cách mạng Quảng Trị, vào giữa những ngày Quảng Trị mở hội “mồng sáu tháng sáu”(1). Đông Hà đông vui, náo nức, tưng bừng quá đỗi. Sau ngày ký hiệp định Pa-ri, Đông Hà mới bắt đầu được chính quyền cách mạng xây dựng lại. Cụm máy điện đã hoạt động, ánh điện sáng trưng khắp các phố Đông Hà, các làng ngoại ô bên sông Hiếu… Trên các phố cũ, các tấm biển được trân trọng treo lên dưới lá cờ của Cộng hòa miền Nam Việt Nam: “Hiệu sách nhân dân”, “Nhà máy kem”, “Nhà máy đèn”, “Bến xe nội địa”, “Đại lý bách hóa”, “Đại lý thực phẩm”, “Bưu chánh Quảng Trị”… Sáng nay, đọc báo “Quảng Trị giải phóng” có đăng tin Bưu chánh Quảng Trị có lưu hành tem thư gửi trong và ngoài nước, tôi đã mua mấy cánh tem ấy và xin cái nhật ấn của ngành bưu chánh cách mạng cộng hòa miền Nam. Trụ sở của Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh đóng trên một đồi cao, nhà quét vôi màu xanh, hai tầng, có cổng chào, lính gác rất trang nghiêm.

Phố xá, chợ búa, các bến đò ngang sang sông Hiếu, đò dọc ngược về Cam Lộ và xuôi xuống Triệu Phong Cửa Việt tấp nập người. Ngày thường Đông Hà đã đông vui, hôm nay càng đông vui hơn. Biết bao ý nghĩ, tâm tư khi đi trên đường phố Đông Hà rợp bóng cờ giải phóng, đó đây những xe tăng, xe bọc thép M.113, M.118 của Hoa Kỳ bị quân giải phóng đánh cháy nằm phơi xác trên lề đường. Những cây phượng Đông Hà tuy bị bom đạn phạt đi nhiều vẫn vươn lên tỏa lá xanh và hoa đỏ hòa với màu cờ chiến thắng.

Từ ngã ba đường 9 đi ngược lên non chục cây số là đến trụ sở của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Trong những ngày tháng 6 này, trụ sở Chính phủ ở Cam Lộ rất đông khách. Luật sư Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Thị Bình và nhiều vị quan chức Chính phủ cách mạng miền Nam có mặt để tiếp trên 40 đại sứ các nước, khách quốc tế và khách quý từ miền Bắc vào thăm. Tại đây Phi-đen Ca-xtơ-rô - Chủ tịch Đảng và Nhà nước, Chính phủ Cu-ba, vị nguyên thủ quốc tế đầu tiên cùng với Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã vào thăm miền Nam thăm thủ phủ Cam Lộ lịch sử này. Từ chỗ thủ đô của cách mạng miền Nam phải thường xuyên di chuyển lúc trên đất Tây Ninh, lúc ở giáp ranh Campuchia để đối phó với càn quét của kẻ thù. Nay chúng ta đã công khai với quốc tế trụ sở của Chính phủ cách mạng miền Nam, thật là bước ngoặt lịch sử. Tôi nhớ có lần ở Paris, một nhà báo hỏi Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Thị Bình trên bản đồ miền Nam Việt Nam đâu là ranh đất của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Bà Bình đã trả lời: “Nơi nào bom đạn Mỹ ném xuống thì đó là đất của Mặt trận Dân tộc Giải phóng”. Hôm nay, cả vùng đất trải dài rợp trời cờ giải phóng nửa xanh nửa đỏ và Thủ phủ Chính phủ rực rỡ cờ hoa khẩu hiệu, từng đoàn xe của khách nước ngoài nườm nượp vào ra. Chính phủ cách mạng miền Nam đã 4 tuổi, nhưng đây là lần đầu tiên có cuộc mít-tinh khai hội giải phóng to lớn như thế này. Bao lâu nữa, một năm, hai năm hay vài tháng nữa, một cuộc mít-tinh như vậy giữa Sài Gòn? Trong mỗi chúng tôi, mỗi chiến sĩ giải phóng đều hừng hực khí thế và niềm tin chiến thắng.

*

Trong những ngày ở thăm Quảng Trị, chúng tôi gặp nhiều chợ và mỗi lần đến những chợ ấy, chúng tôi lại la cà… vì chúng tôi nghĩ rằng xem chợ có thể hiểu được cuộc sống ở vùng đó. Gio Linh có chợ Cầu, Triệu Phong có chợ Thuận… Chúng tôi đến đâu cũng thấy các chợ và đại lý đều đông người mua bán và có khá nhiều mặt hàng. Tiêu biểu cho những chợ quen thuộc của nhân dân Quảng Trị có lẽ vẫn là chợ Đông Hà nằm ngay bến sông Hiếu, gần cảng Đông Hà, ở nơi ngã ba đầu đường số 9. Chợ Đông Hà có từ hơn 100 năm nay, là chợ họp hàng ngày, không có phiên. Chúng tôi gặp ông chủ tiệm giải khát Sanh Hà ngày trước cũng buôn bán ở đây, trong những ngày đánh phá ác liệt ông làm hầm ở lại. Ông Sanh Hà cho biết ngày trước chợ ô hợp lắm, nó còn là nơi chơi bời cờ bạc, đĩ điếm… Ông Sanh Hà kể lại rằng: Sau bốn tháng ở dưới hầm, khi “đội đất chui lên”, ông thấy xung quanh là một đống gạch vụn, bom đạn Mỹ đã san bằng tất cả, chợ Đông Hà tan nát…

Thế nhưng, sau ngày giải phóng, các “đội tình nguyện xây dựng Quảng Trị” đã đến đây san lấp hố bom, sửa sang nhà cửa giúp dân. Vào ngày 26 tháng 3 năm 1973, chợ Đông Hà mở lại. Hôm hội chợ Đông Hà, một bà mẹ ở đây kể lại: “Ôi chao, đông ơi là đông. Người nhiều, hàng nhiều, tới hơn năm trăm mặt hàng ấy. Bà con đi xem chợ, chơi chợ, mua mua, bán bán thiệt là vui. Một trăm năm mới có ngày hội chợ vui như vậy đó”. Và từ đó đến nay chợ luôn luôn đông vui, tấp nập. Hầu như 13 vạn dân ở Quảng Trị giải phóng đều lần lượt về đi chợ và thăm chợ Đông Hà. Mấy con thuyền đuôi én cập bến chợ, dưới thuyền đi lên có các mẹ và các cô gái người dân tộc Vân Kiều, Tà Ôi. Thấy chúng tôi, bà mẹ người Vân Kiều đến vỗ vai và nói:

- Làn lư cán bộ miềng hung (thương cán bộ mình hung).

Chợ Đông Hà mấy ngày qua như là chợ phiên vậy, rất nhiều bà mẹ, các chị và các cô mặc áo dài đi chợ. Có hai mặt hàng rất đáng lưu ý là rau xanh và cá, tôm. Hầu hết các khu ruộng ở ven thị trấn này đều bị bom Mỹ và pháo Mỹ cày xới như vỏ mặt trăng. Thế nhưng, giờ đây đã là những luống rau xanh. Cán bộ, bộ đội, nhân dân ở đây đã len lỏi vào giữa bãi bom nổ chậm, mìn sáng - sản phẩm dã man của Hoa Kỳ, để trồng rau. Cá tôm cũng nhiều như rau vậy. Cá tôm cua và rau xanh chiếm một phần ba chợ. Nguồn hải sản chính bán ở đây là thu hoạch trên sông Hiếu, sông Thạch Hãn và vùng Cửa Việt. Một cán bộ Mặt trận Dân tộc Giải phóng Cửa Việt cho chúng tôi biết: Ngay sau ngày giải phóng, nhân dân Cửa Việt đã tổ chức bám biển sản xuất. Ngư Hội giải phóng được thành lập với hơn 70 xuồng thuyền máy. Chính quyền cách mạng đã cung cấp cho bà con lưới ni-lông và các phương tiện cần thiết. Chúng tôi ghé vào các tiệm giải khát, tiệm ăn ở chợ này. Nhiều bà con chạy nạn bom Mỹ từ thị xã Quảng Trị ra làm ăn ở đây. Tôi gặp một chị chủ tiệm phở, chị ta có 5 con, gốc ở phố Thạch Hãn, thị xã Quảng Trị, chồng chị là cảnh sát của ngụy quyền. Khi quân giải phóng tấn công thị xã Quảng Trị, chồng chị chạy theo Mỹ bỏ sáu mẹ con chị lại. Để tránh bom B52, chị dắt năm con nhỏ chạy ra Đông Hà, chị được chính quyền cách mạng và bà con ở đây giúp đỡ, cấp vốn và cho mượn từ cái nồi, chục bát để bán hàng. Chị ta nói với chúng tôi:

- Tui chưa thấy ở đâu nhân dân được nhà nước đùm bọc như ở đây. Trong cơ nhỡ nếu không được chính quyền giúp đỡ chắc chắn sáu mẹ con tôi phải đi ăn mày.

Chúng tôi gặp ở chợ này nhiều nhà báo nước ngoài, họ say sưa quay phim, chụp ảnh, ghi chép. Chắc rằng các bạn ấy cùng chung niềm vui và ý nghĩ như chúng tôi.

*

Rời Đông Hà, xe chỉ chạy chưa đầy mười phút trên quốc lộ Một là đến sân bay Ái Tử thuộc đất Triệu Phong. Triệu Phong có sông Thạch Hãn chảy qua và có Cửa Việt - cửa ngõ phía đông của Quảng Trị.

Xe chúng tôi dừng lại giữa đường băng chính của sân bay Ái Tử. Từ đây vào thành Huế một giờ xe Hon-đa, sáu mươi cây số nữa thôi. Cả một khu Ái Tử trải dài mấy cây số theo đường số Một đầy rẫy vỏ đạn, những thép gai, xác xe tăng, cột anten, những đường ghi, đường băng, nhà chứa máy bay, nhà kho, nhà lính, lô cốt dã chiến, hầu hết đều bằng đuy-ra, nhưng không có thứ nào, chỗ nào còn nguyên vẹn. Xe tăng, nhà kho, kho xăng và đường băng thì bị đạn pháo phá hủy trong chiến đấu năm 1972, trước khi tháo chạy Mỹ còn cho ném bom phá sập các trại lính, bệnh viện, tổng kho hậu cần v.v. Chúng tôi đi xuyên qua những khu vực quân sự của Ái Tử đổ nát và đến với sông Thạch Hãn. Bên này cờ giải phóng rợp trời tung bay, bên kia cờ rằn ri của Thiệu run rẩy. Tới đây, nhìn sang Thành Cổ Quảng Trị mà lòng những khâm phục chiến công của các chiến sĩ quân giải phóng anh hùng. Bên bờ sông Thạch Hãn này, chúng tôi được gặp lại mấy cô gái xã Triệu Thượng, chúng tôi đã có dịp gặp ở ngày hội “6 tháng 6” trên Đông Hà hôm trước. O Lý, cô gái dong dỏng cao, có mái tóc tết nơ trắng buông trên tà áo dài màu hồng tươi, vui vẻ chuyệ trò với mọi người.

*

Buổi chiều, chúng tôi rời Ái Tử, vượt sông Thạch Hãn, về với vùng đất Triệu Phong. Vùng giải phóng trải rộng, những lũy tre làng, những khóm chuối xanh tươi che chở những xóm nhà mới dựng tạm. Ruộng đất đã được cày vỡ, mạ vụ từng mảnh xanh um, vài nơi đã bắt đầu cấy. Những khoảnh ruộng cao, máy cày đang vỡ tiếp. Chúng tôi dừng lại ở Phúc Lộc, đây cũng là quê của Hoàng Xuân Lãm, trung tướng trong quân đội Sài Gòn và của Hoàng Xuân Tửu, đệ nhất phó chủ tịch “thượng viện” Sài Gòn. Buổi tối, chúng tôi đến chơi nhà cụ Trần Văn Tu. Cụ Tu hiện là trưởng thôn Phúc Lộc. Cũng tại nhà cụ Tu, chúng tôi gặp anh Hoàng Văn Em, cháu họ gọi ông Lãm bằng bác. Cụ Tu và Hoàng Văn Em giới thiệu với chúng tôi về cuộc sống của đồng bào ở đây. Cụ Tu nói:

- Sau khi giải phóng, biết rằng không giữ được Quảng Trị, Mỹ đem bom dội như vốc đá mà rải. Cứ 15 phút là một đợt B52. Bà con chúng tôi phải mất mấy tháng mới lấp xong hố bom. Các anh coi đó thì biết, nhà thờ, chùa chiền cũng bị đánh, đến nhà ông Lãm, ông Tửu cũng tan tành vì bom B52 Mỹ.

Nhưng đến hôm nay - theo cụ Tu, thì cuộc sống đã đổi thay. Nhà nào cũng có rau, có bầu, bí, ruộng đã cày xong, mọi người đều được chính quyền cách mạng trợ cấp để có ăn, bắt tay vào sản xuất. Ai nấy đều vui vẻ, phấn khởi xây dựng quê hương. Chúng tôi hỏi Hoàng Văn Em (anh đã có thời gian đi lính quân dịch trong quân đội Sài Gòn):

- Anh thấy cuộc sống bây giờ có gì khác lúc còn chính quyền Nguyễn Văn Thiệu?

- Tất nhiên sau chiến tranh là phải khó khăn. Giờ đây chúng tôi được chính phủ cách mạng cấp cho đủ gạo, tiền để ăn, có áo quần để mặc, có ruộng vườn, trâu, bò… như vậy về vật chất tạm ổn. Nhưng có điều mà cả đời tôi bây giờ mới thấy: đó là mình làm mình hưởng, mình xây dựng cho làng xóm quê mình đẹp. Có độc lập tự do rồi thì nay mai mình sẽ thật sự xây dựng cuộc sống hạnh phúc cho mình.

- Đúng đó, chúng tôi chỉ nghĩ thương bà con mình bị Thiệu bắt phải theo vào trong đó cơ cực… - Ông cụ Tu tiếp lời.

Sáng hôm sau, Hoàng Văn Em tìm gặp chúng tôi, anh nhờ chúng tôi về Đông Hà gởi hộ anh một lá cho người bác họ của anh là trung tướng ngụy Sài Gòn Hoàng Xuân Lãm. Anh mở ra cho chúng tôi xem. Cầm bức thư đó của anh và xin phép anh được trích đưa vào đây một đoạn lá thư của anh gửi tướng Lãm. Lá thư anh viết:

… Làng ta sau đợt “tái chiếm” của Hoa Kỳ, thôn xóm nhà cửa, tài sản đồng bào bị thiêu hủy vì bom đạn. Riêng nhà của bác, B52 đánh sập. Lăng cụ tan nát. Tai hại hơn, mộ bà nội của bác, máy bay bổ nhào cho bom tấn quật mộ bay mất tiêu, không còn một mảnh quan tài hay chút xương hài cốt.

Đứng trước cảnh tượng ấy cháu suy nghĩ rất nhiều; nhìn cái giếng nước thì trong xanh, mà thành miệng đổ nát, cây trái trong vườn nhánh gãy, nhánh khô, nhưng bác ạ, nó đã và đang đâm chồi nẩy lộc vươn lên như hòa chung với sự sống của bạn bè quanh các vườn thôn xóm, tạo cảnh sắc khôi phục màu xanh cho quê hương”.

Hoàng Văn Em đưa chúng tôi ra xem cảnh bom tấn của Mỹ đào tung lên ngôi mộ của bà nội tướng Lãm. Em nói:

- Chắc bác Lãm và các tướng lĩnh bạn bè của bác ấy nghe được sẽ đau lòng… vì khi bà cụ chết, bác Lãm làm lễ phát tang bảy ngày, có các tướng tá, các bạn bè từ Sài Gòn, từ Huế ra chia buồn, có cả thiếu tướng Mỹ, cố vấn quân đoàn I đến viếng. Vậy mà “Bây chừ tan nát ra ri”.

*

Trong thời gian ở Triệu Phong, chúng tôi có về thăm Triệu Thành - một xã giáp ranh với vùng kiểm soát của ngụy quyền Thiệu. Xen kẽ với các xã giải phóng rộng lớn là một vài điểm đóng quân của quân đội Sài Gòn - đó là những điểm mà chúng đã lấn ra “tái chiếm” trước khi hiệp định ký kết. Đây cũng chính là xã quê hương của đồng chí Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn.

Trụ sở của Ủy ban nhân dân cách mạng xã chỉ cách bót gác của quân đội Sài Gòn có 500 mét. Dưới chân dung Bác Hồ đặt ở giữa chân dung chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ và chủ tịch Huỳnh Tấn Phát là một chiếc bàn rộng - các ủy viên ủy ban làm việc ở đây. Đồng chí chủ tịch ủy ban thân mật tiếp chúng tôi. Các đồng chí cho biết, ngay sau khi sơ tán trở về, bà con giúp nhau dựng lại nhà cửa, phá bom gỡ mìn, làm đường sá, xây cất trạm xá, trường học… Trường tiểu học dưới thời Thiệu đã bị bom Mỹ ném sập, nay có trường tiểu học mới, cao, rộng, có năm phòng ngay bên trụ sở ủy ban, trạm xá có đủ các loại thuốc cần thiết và có ba y tá phụ trách. Nhân dân xã đã làm xong hệ thống mương máng và huyện đã cho hai máy bơm về hỗ trợ cho lúa vụ tám. Đồng chí Lê Bá Trợ cho biết có hai máy cày của huyện đưa về nên đã cày gần xong toàn bộ diện tích gieo trồng.

Hỏi thăm về đời sống của bà con ở vùng bên kia, đồng chí nói:

- Bà con bị Mỹ - Thiệu dồn đi đâu chớ nào có ai được ở quê. Bên đó thuộc xã Triệu Thành này, khi hòa bình chỉ còn có bảy cụ già, chúng đưa về trong chợ Sãi. Mới đây các cụ buồn và mất dần, hiện chỉ còn hai cụ thì một cụ đã lòa. Tội nghiệp, các cụ chết không được gặp các cháu…

Đồng chí chủ tịch kể lại cho chúng tôi nghe từng vụ đấu tranh với sự ngoan cố muốn lấn chiếm và vi phạm hiệp định của ngụy quyền Sài Gòn. Đồng chí nêu rõ từng trường hợp và nhận định:

- Bọn nó thất thế lắm mới chịu như vầy chứ thực chất chúng ngoan cố lắm. Thằng nào cũng dăm ba vụ vi phạm hiệp định. Bên mình kiên trì giải thích, có lần chúng nó ra xin lỗi, cũng có lần nó lờ tịt, hoặc tật nào chứng ấy. Đồng chí dừng lại cười và nói tiếp: “Mà nhát gan lắm, ta bắn vài phát là “Em xin các anh” liền. Các anh coi, lính tráng gì như rứa. Họ ớn lắm rồi đó, nhiều người chạy sang ta bảo: Họ nhìn thấy bên ta lính với dân sống với nhau họ thèm lắm, và họ thích cả bộ đội mình nữa đó, ra xin thuốc Điện Biên hút luôn mà…

Chúng tôi đi trên những mảnh đất của vùng giáp ranh và thấy lòng vững tin ở thắng lợi cuối cùng...

T.Q.P

 

________________

  1. Ngày 6 tháng 6 năm 1969 là ngày thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

                                                               Lớp học trường cấp 1 xã Cam Lộc, Quảng Trị năm 1973 - Ảnh: Ishikawa Bunyo

Mới nhất

Dự thảo báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng nhiệm kỳ Đại hội XII

05/11/2020 lúc 21:56

Phần thứ nhấtTỔNG KẾT CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG NHIỆM KỲ ĐẠI HỘI XII VÀ PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP NHIỆM KỲ ĐẠI HỘI

Dự thảo báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 – 2025

05/11/2020 lúc 21:46

Phần thứ nhấtTÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2016 - 2020Bước vào thực hiện nhiệm

Dự thảo báo cáo tổng kết thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011 – 2020, xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 – 2030

05/11/2020 lúc 17:50

Phần thứ nhấtKẾT QUẢ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 2011 - 2020Bước vào thực hiện Chiến lược phát

Dự thảo báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng

31/10/2020 lúc 15:15

(QTO) - Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó lường; đất nước đang đứng trước nhiều thời cơ, thuận lợi và nhiều khó khăn, thách thức đan xen, nhiều vấn đề mới đặt ra phải giải quyết; cán bộ, đảng viên, nhân dân đặt kỳ vọng vào những quyết sách đúng đắn, mạnh mẽ của Đảng để phát triển đất nước ta nhanh và bền vững hơn. Đại hội được tổ chức vào thời điểm toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thực hiện thắng lợi nhiều chủ trương, mục tiêu và nhiệm vụ được xác định trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; đất nước trải qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020.

Dự thảo
Du Lịch Quảng Trị

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

25/11

25° - 27°

Mưa

26/11

24° - 26°

Mưa

27/11

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground
tư tưởng Hồ Chí Minh
Dấu xưa
Tiêu đề