Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 17/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Thiếu tướng Trần Đình Dũng - Một vị tướng luôn tâm niệm về sức mạnh lòng dân

Tại biên giới Tây Nam của Tổ quốc, những ngày tháng tư giao mùa năm 2013, nắng như chan lửa trên những con đường khô khốc, Thiếu tướng Trần Đình Dũng, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Bộ đội Biên phòng, cùng đoàn công tác tiến hành kiểm tra thực địa những đoạn tồn đọng của công tác phân giới cắm mốc Việt Nam – Campuchia.

Được cùng đi với ông trong chuyến công tác này, tôi không giấu giếm ý định ghi chép lại chân dung về ông, một vị Tướng của lực lượng Bộ đội Biên phòng. Giữa chúng tôi gần như không cần có câu hỏi và câu trả lời. Câu chuyện được đan xen trong những giờ giải quyết công vụ, và những giây phút vị Tướng phải có những quyết định để giải quyết những căng thẳng trong công tác phân giới cắm mốc vốn không dễ dàng gì. Nhìn ông nhanh nhẹn di chuyển trên thực địa, giọng nói sang sảng vang lên giữa núi rừng, sông suối của biên cương như thấy ở ông một con người phong trần mà khoáng đạt.

“Nói về công tác Biên phòng, tôi chỉ xin nói về hai chữ “lòng dân” – Câu nói giản dị để mở đầu câu chuyện, đã nói lên tất cả nhận thức trong ông về nhiệm vụ xây dựng, quản lý và bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia của lực lượng Bộ đội Biên phòng. Không gì bằng lòng dân biên giới, có được lòng dân đồng nghĩa với việc biên giới bền vững, chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia được đảm bảo. Mất lòng dân thì đồng nghĩa với mất kiểm soát cả dải biên cương dài rộng của đất nước. Cả đời binh nghiệp của một vị Tướng Biên phòng được đúc kết lên bằng chân lý ấy, hẳn là nó đã trải nghiệm bằng nhiều năm ròng ông lăn lộn với nhiệm vụ xây dựng quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.

Nói về tuổi thơ dữ dội và nhắc đến người mẹ liệt sỹ rất mực yêu kính, ông tâm sự. “Tôi sinh ra trong một gia đình liệt sỹ, nhưng chưa bao giờ tôi nghĩ mình là đối tượng được ưu tiên trong xã hội”. Ông sinh ra và lớn lên ở vùng chiến khu Ba Lòng – một mảnh đất anh hùng nắng gió kiên cường của tỉnh Quảng Trị, địa danh đã trở thành mốc son trong lịch sử của Quảng Trị và đất nước. Hồi còn nhỏ, dấu ấn hằn lên tuổi thơ của ông là mảnh đất ruột thịt bị chia cắt thành hai miền Nam – Bắc ở vĩ tuyến 17 trên dòng sông Bến Hải; là những ngày rừng rực lửa cách mạng trong từng bữa ăn, giấc ngủ. Bảy tuổi, ông đã thấy mẹ và các cậu ruột lúc đó là những chiến sỹ cách mạng được phân công ở lại miền Nam, hoạt động bí mật, bị địch bắt, bỏ tù rồi ra tù bị tra tấn, rồi hy sinh; hàng xóm láng giềng bị áp bức, cùng khổ trăm bề. Cậu ruột của ông là Bí thư chi bộ ở vùng chiến khu Ba Lòng, bị địch phục kích, hy sinh. Chúng trói cậu bằng dây mây, buộc vào thuyền rồi kéo lê suốt cả chặng đường dài gần chục cây số trên dòng sông Thạch Hãn. Lúc nhận lại thi thể, tất cả bà con đồng đội và gia đình lặng đi vì căm thù khi nhìn thấy thi thể người chiến sỹ cách mạng tơi tả, bị cát, nước sông nhồi vào miệng, vào mắt, mũi, tai. Năm mười ba tuổi, ông lại chứng kiến cái chết của mẹ mình trong một trận bị địch tập kích. Suốt những năm sau đó, cậu bé Trần Đình Dũng bị địch gắn cái tên “con cộng sản”, bị o bế và để ý từng bước chân, song trong lòng cậu vẫn ngầm nuôi dưỡng một ý chí căm thù như lòng sông Thạch Hãn cuộn chảy. Với cậu, máu nhuộm đỏ dòng sông Thạch Hãn không thể phai. Năm 1968, 15 tuổi, ông gia nhập quân ngũ giải phóng với lòng cháy bỏng căm thù giặc và quyết chí theo cách mạng, chiến đấu giải phóng đất nước, trả thù nhà.

Năm 18 tuổi, ông đã được kết nạp vào Đảng. Ông cho hay, cho đến bây giờ, ông là sỹ quan duy nhất của lực lượng Biên phòng có 45 năm tuổi quân và 43 năm tuổi Đảng mà vẫn còn đương chức. Tuổi quân, tuổi Đảng của ông được thử thách qua những chặng đường chiến đấu, công tác từ Nam ra Bắc. Nhãn quan chính trị hình thành từ khi ông còn là một thiếu niên, chứng kiến kẻ thù đàn áp đồng bào, dân tộc mình, chứng kiến những chiến sỹ cách mạng chiến đấu và hy sinh anh dũng trên chiến trường Quảng Trị.

Năm 1972, Trần Đình Dũng trở thành cán bộ trung đội, năm 1975 là cán bộ đại đội và sớm bộc lộ năng khiếu chỉ huy, dù mới qua tuổi 20. Đó là một cán bộ trẻ tuổi nhưng nhanh nhẹn mưu trí, sẵn sàng đấu trí, đấu súng với quân thù trong mỗi lần chạm trán.

Sau năm 1975, thống nhất nước nhà, ông được điều động vào chiến trường Tây Nguyên, làm Trợ lý trinh sát của Công an nhân dân vũ trang Gia Lai – Kon Tum. Ông phụ trách khu tị nạn người Cam-pu-chia, đồng thời tham gia giúp bạn xây dựng các đơn vị vũ trang vùng Đông Bắc Cam-pu-chia; sau đó ông trực tiếp tham gia chiến đấu trong đội ngũ Quân tình nguyện Việt Nam, giúp giải phóng nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi ách diệt chủng Pôn Pốt và hoàn thành nhiệm vụ chuyên gia cho bạn.

Những năm tháng ở Cam-pu-chia, ông đã phối hợp với các đơn vị quân tình nguyện Biên phòng xây dựng cơ sở chính trị và đấu tranh với các nhóm Pôn Pốt trá hình trong dân vùng ven biên giới Cam-pu-chia – Thái Lan ở khu vực Chom Khasam, Prết Vi-hia. Trần Đình Dũng lúc đó là một sỹ quan trinh sát kinh qua trần mạc, ông có vốn sống sâu rộng và nhiều kinh nghiệm tích lũy được trong thời gian công tác ở địa bàn Tây Nguyên và Cam-pu-chia. Từ việc quan sát tìm hiểu văn hóa tập tục của các tộc người hiện sinh sống ở Tây Nguyên và Đông Bắc Cam-pu-chia, về sau đã giúp ông tiếp cận thuận lợi với các đối tượng trong thực hiện nhiệm vụ, đặc biệt là đấu tranh với các nhóm phản động lợi dụng các dân tộc thiểu số vùng cao nguyên.

Sau này, khi đã là một vị Tướng Phó tư lệnh – Tham mưu trưởng của lực lượng Bộ đội Biên phòng, ông vẫn thường xuyên trở về Tây Nguyên, thăm lại những nơi ông đã cùng đồng đội đấu tranh bảo vệ, giữ gìn màu xanh, sự ngọt mát của tình đoàn kết hữu nghị giữa các tộc người anh em trên vùng đất quanh năm nắng cháy này. Tình nghĩa giữa ông và bà con giao hòa, gần gũi và trở thành thâm tình. Nhiều lần ghé thăm Ama Kông và nhóm săn voi rừng nổi tiếng của Buôn Đôn, Trần Đình Dũng thuộc lòng cách thức để thuần dưỡng một con voi rừng theo cách mà Ama Kông kể lại. Những câu chuyện đó là không thừa mà ngấm vào máu vị Tướng Biên phòng. Mãi về sau này, ông vẫn nghĩ, dù việc gì khó tưởng như không thể làm được, nhưng vẫn có thể thành công, mà thành công rất rực rỡ nếu thực sự kiên nhẫn và khôn khéo. Tôi nhớ lại lời ông đã nói với cấp dưới trong chuyến kiểm tra đôn đốc phân giới cắm mốc tuyến biên giới Việt Nam – Cam-pu-chia – công việc khó khăn nhất của tham mưu trong tình hình hiện tại: “Muốn có được sự đồng thuận trong việc hoạch định đường biên giới, phải dung hòa tất cả các yếu tố, các mối quan hệ, những gì đúng phải giữ đến cùng, quyết không thất thoát tấc đất nào của Tổ quốc. Nhưng nếu khăng khăng bảo lưu những ý kiến vô lý và không thuận tai thì chỉ làm hại cho tình hữu nghị vốn tốt đẹp giữa hai quốc gia, kéo dài tồn đọng không có lợi cho cả hai bên mà thôi”.

Năm 1981, khi đó 28 tuổi. Ông được về học tại Học viện Chính trị Quân sự và trường chuyên gia Quân sự Bộ Quốc phòng. Sau khi tốt nghiệp, năm 1986 ông được điều về làm trợ lý Chính trị, phòng Tổ chức Cục Chính trị rồi trợ lý trinh sát tuyến Việt Nam – Cam-pu-chia, Cục Trinh sát Bộ Tư lệnh Biên phòng, thường trực tại thành phố Hồ Chí Minh. Cuối năm 1987, ông được điều về công tác tại Bộ đội Biên phòng Bình Trị Thiên, nơi dòng sông quê hương cuộn chảy, nơi trải qua biết bao năm mà máu đào chưa phai, luôn in trong trí não và trái tim của ông, nơi có hương hồn người mẹ yêu kính, mãi mãi yên nằm bên con sông vạt cỏ của quê hương.

Hơn 10 năm công tác xa nhà, xa vợ và hai con, đất nước lúc đó đang khó khăn gấp bội. Ông nhận nhiệm vụ là Phó Chủ nhiệm Chính trị, Phó Đoàn công tác đấu tranh phòng chống vượt biển của Bộ đội Biên phòng Bình Trị Thiên. Lại những ngày ông phải đối diện với nắng cháy, mưa tuôn, bão biển, đói nghèo của người dân quê hương. Những lớp sỹ quan trận mạc của Bộ đội Biên phòng thường là giỏi cả lý luận và thực tiễn, quân sự và chính trị. Ông là một cá nhân tiêu biểu trong lớp cán bộ xuất sắc đó. Cái khí chất mạnh mẽ của người con vùng chiến khu Quảng Trị luôn đập mạnh trong huyết quản khiến ông không thể ngồi yên, không thể rảnh rang và thanh nhàn, dù chiến tranh giờ không còn nữa.

Tháng 10 - 1988, ông được bổ nhiệm làm Đồn trưởng Đồn Biên phòng 220 đóng tại Thuận An, Bình Trị Thiên (nay là Đồn Biên phòng Thuận An, Thừa Thiên – Huế). Lúc đó, tình hình người vượt biển và ra nước ngoài ở địa bàn đồn phụ trách diễn ra phức tạp. Ông chia sẻ: Hồi đó, tôi đã nghĩ về hai chữ “lòng dân”, dù chưa phải là những cụm từ chiến lược lớn rộng như là “Thế trận lòng dân”, “Biên giới lòng dân” như bây giờ. Tại sao người dân mình lại bỏ quê hương ra đi một cách cương quyết như vậy, bất chấp tất cả, bất chấp khả năng có thể phải bỏ mạng trên biển; sẵn sàng chống trả điên cuồng các lực lượng chức năng khi bị phát hiện, rồi thì có thể phải sống cuộc sống lưu vong ở nước ngoài nếu như vượt thoát, trót lọt. Chính quyền huyện, xã, lực lượng Biên phòng, Công an ở Thuận An vừa tuần tra, ngăn chặn, vừa bắt giữ, đấu tranh với các nhóm tổ chức vượt biển, nhưng tình hình vẫn không giảm. Một thuyền đi thoát được là cả làng lại sôi sục, bán đồ đạc, bán nhà mua thuyền, mua lương thực để ôm giấc mộng vượt biển. Làng xóm tiêu điều xơ xác không ai muốn làm ăn gì. Có người ra đi bỏ lại cả của cải, nhà cửa ruộng vườn, không tơ vương gì, miễn là thoát đi được.

Chỉ huy trực tiếp phòng chống vượt biển, ông đau đáu suy nghĩ về nguyên nhân và giải pháp để hạn chế, đi đến chấm dứt dòng người ra đi này. Ông dành thời gian ở địa bàn, trao đổi bàn bạc với cán bộ địa phương, các lực lượng phòng chống vượt biển trong tổ chức phối hợp, đi tới từng ngõ ngách của khu dân cư, vào từng nhà dân, rồi mới hay rằng việc phòng chống chưa thực sự đi từ gốc của vấn đề. Hơn nữa, người dân lúc đó bị các nhóm phản động xúi giục, lừa đảo vượt biển dẫn đến mất mạng, thiệt hại tài sản. Có những thuyền vượt biển gặp bão lớn phải quay lại vào bờ, lúc đó họ đã tan gia bại sản, rơi vào lụn bại và cơ hàn. Ông nhận định, muốn phòng chống vượt biển có hiệu quả, vấn đề gốc rễ là phải giành lại niềm tin cho nhân dân; làm thế nào để giảm thiệt hại, giữ tính mạng cho dân mới là nhiệm vụ hàng đầu. Một thời gian sau, bằng nhiều biện pháp phối hợp, rồi những vụ vượt biển cũng thưa dần đến chấm dứt. Ông kể cho tôi nghe một câu chuyện và câu chuyện đó cứ ám ảnh tôi mãi. Nó không chỉ vì luôn được giữ kín, không báo cáo cấp trên, không tiết lộ với báo chí, đây là lần đầu tiên ông thổ lộ, mà đó còn là câu chuyện đầy ắp tình người: “Những dòng khói nhang từ biệt trên mộ”. Ông nhỏ nhẹ.

Người Việt Nam ta dù đi đâu, ở đâu cũng luôn vướng víu một điều, đó là tổ tiên dòng họ. Một hôm ông bất chợt đi qua nghĩa trang vào buổi chiều muộn đó, ông thấy bà con tổ chức lễ cúng linh đình bên một ngôi mộ. Ông chợt nghĩ, tại sao người ta lại tổ chức lễ cúng vào lúc chập choạng tối như vậy, vào lúc đói kém mà lại cúng to thế? Ngay trong đêm, nhiều gia đình cũng ra cúng ở các ngôi mộ mà không nhằm đúng ngày giỗ. Rất nhiều khói nhang nghi ngút như một lời chia tay tiễn biệt. Ông đã nhận ra đây chính là lời chào tổ tiên của những người đang chuẩn bị vượt biển. Ông cử trinh sát bám nắm thông tin từ những gia đình tổ chức lễ cúng. Kết quả, sáng sớm hôm sau toàn bộ đoàn người đã bị giữ lại trước khi lên thuyền. Sau này mọi người đã hiểu; chính những dòng khói nhang trên những ngôi mộ đã vô tình để lộ. Vùng biển thuộc đồn phụ trách thưa dần rồi không còn chuyện vượt biển. Làng xóm trở lại thanh bình có trật tự, ngư dân lại chăm chỉ ra khơi. Thuận An trở thành cửa biển sung túc, ổn định, ngư dân đông đúc giàu có với những chuyến đi biển làm ăn xuôi chèo mát mái. Và câu chuyện: “Những dòng khói nhang từ biệt trên mộ” đã được giữ kín cho tới ngày nay.

Năm 1991, ông được cử đi học tại Học viện Chỉ huy Tham mưu cao cấp Biên phòng ở Liên Xô, trong khi đang học ở Liên Xô thì tại đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Trị ông được bầu làm Tỉnh ủy viên khi đang là Tham mưu trưởng của Bộ đội Biên phòng Quảng Trị. Sau khi tốt nghiệp trở về nước ông được bổ nhiệm là Chỉ huy phó, Tham mưu trưởng Bộ đội Biên phòng Quảng Trị, khi ấy ông mới tròn 38 tuổi. Năm 1993, ông trở thành Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh trẻ nhất toàn lực lượng Bộ đội Biên phòng. Khi được giao nhiệm vụ này, Thiếu tướng Trần Đình Dũng mới tròn 40 tuổi. Ông tâm sự rằng khi là Chỉ huy trưởng, mang trọng trách của một người đứng đầu thì cũng là lúc cần phải có nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về nhiệm vụ xây dựng quản lý bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới và vai trò của quần chúng, nhân dân trong sự nghiệp lớn lao này. Ông suy nghĩ nhiều về những vụ vượt biển ồ ạt của người dân vùng biển Trị - Thiên. Ngoài những nguyên nhân lôi kéo, kích động lừa đảo của kẻ xấu, sâu xa trong cuộc dứt áo ra đi vượt biển này là sự đói kém của người dân, sống với biển, biển rất giàu mà không thể nuôi nổi mình. Ngư dân không thể đóng nổi con thuyền ra khơi. Những chuyến đi biển lỗ dầu, không có cả tiền tái đầu tư ngư lưới cụ. Nền kinh tế của đất nước suy thoái, người dân thì bế tắc với kế sinh nhai. Họ lìa bỏ Tổ quốc tuyệt nhiên không phải thành phần chống đối, phản động mà chỉ là muốn đổi đời, ra đi để tìm cuộc sống tốt hơn chứ đâu nghĩ tới cái lớn lao hơn là dân tộc, quốc gia, quốc thể. Nếu như người dân có đủ điều kiện để làm ăn sinh sống, làm giàu được trên quê hương mình, tất yếu họ sẽ gắn bó và yêu thương mảnh đất nơi mình chôn nhau cắt rốn. Họ sẽ trở thành những phên giậu, bảo vệ chính mảnh đất sinh cơ lập nghiệp của mình, tài sản của mình.

Quảng Trị hồi ông trở lại làm Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng là mảnh đất dày đặc tàn dư chiến tranh. Trong chiến tranh, miền Tây Quảng Trị mặc dù mang danh là vùng giải phóng, căn cứ cách mạng, nhưng lại phải gánh chịu liên tục những trận càn quét. Những cái tên Cù Bai, Lìa, A Vao, Tà Rụt... là những căn cứ cách mạng chống Mỹ ngày đêm oằn mình trong bom đạn. Mãi về sau này, bom đạn mà Mỹ rải xuống vùng đất này vẫn còn nằm trong đất, gây ra thương vong tàn khốc cho người dân. Hạ tầng cơ sở hầu như không có gì. Đất trắng tang thương nên để duy trì dân cư ở đây đã khó, nói gì đến ổn định làm giàu. Ở các vùng biên giới, đồng bào dân tộc Pa Cô, Vân Kiều vẫn còn nhiều tập tục lạc hậu, đói nghèo dai dẳng, bọn phản động người Việt lưu vong móc nối, xâm nhập qua Thái Lan rồi về Việt Nam hoành hành. Trước thực trạng ấy, lực lượng Bộ đội Biên phòng không còn cách nào khác là phải giành lại niềm tin của nhân dân với cách mạng, giáo dục tuyên truyền về an ninh biên giới, tình hữu nghị đặc biệt Việt – Lào, để người dân coi lực lượng Biên phòng là đại diện của Đảng, của Nhà nước mà nhân dân hoàn toàn có thể tin tưởng.

Không chỉ với nhân dân trong nước, mà mục tiêu đặt ra còn là làm thế nào để nhân dân nước bạn Lào ở biên giới coi Bộ đội Biên phòng Việt Nam là lực lượng không chỉ bảo vệ biên giới của Việt Nam, mà còn là bảo vệ biên giới của Lào, bảo vệ an ninh trật tự, giúp đỡ nhân dân biên giới phát triển kinh tế, xã hội. Lúc đó, nhiều nơi thiếu đảng viên, không đủ thành lập chi bộ, phải ghép vào sinh hoạt với đồn Biên phòng. Hoạt động của các tổ chức quần chúng như thanh niên, phụ nữ, nông dân, cựu binh rất yếu. Với tư cách là Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh, Tỉnh ủy viên, ông đã bàn với lãnh đạo địa phương từng bước giúp người dân xóa đói giảm nghèo, vận động bỏ du canh du cư, khai hoang phục hóa, tìm cây, con giống thích hợp trồng trọt, chăn nuôi. Quân y của các đồn Biên phòng như con thoi khi ở bản, khi ở đơn vị, lo cả vệ sinh, phòng dịch, tiêm chủng, đỡ đẻ... cho dân.

Sống với dân, lo cho dân nên uy tín của Bộ đội Biên phòng đã trở lại trong lòng đồng bào dân tộc cũng như chính quyền địa phương. Ở đâu khó, bộ đội đi trước, bộ đội làm trước, cái gì khó quá đến chính quyền địa phương còn lúng túng thì lại đến tay Bộ đội Biên phòng. Chính Chỉ huy trưởng Trần Đình Dũng đã có sáng kiến đề xuất với Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh có chủ trương đưa các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp các xã đồng bằng nhận kết nghĩa với các xã biên giới, các cơ quan ban ngành nhận đỡ đầu các đồn Biên phòng. Để giúp nhau trao đổi kinh nghiệm quản lý xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội, tạo nên luồng giao lưu, giao thương nhộn nhịp. Miền núi cũng đỡ hiu hắt, buồn tẻ, phá vỡ cái tư thế tự cung tự cấp thâm căn cố đế ở đây. Trong nông nghiệp thì xen cây, xen con, trong thôn bản thì xen cư. Người Kinh sống chung với người Pa Cô, Vân Kiều cũng là mô hình phát triển bền vững của nông thôn mới trên biên giới Quảng Trị.

Do lịch sử để lại, ở các vùng biên giới Việt Nam – Lào, mặc dù có biên giới, nhưng lòng dân hai bên biên giới sinh sống với nhau lâu đời như không có đường biên. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, Đảng bộ và nhân dân hai bên biên giới sát cánh cùng nhau chiến đấu, cùng một kẻ thù chung. Có những thời kỳ, hai bên cùng đứng chân xen kẽ qua nhau, tạo nên tập quán sinh hoạt chung của cư dân hai bên biên giới. Có nhiều việc không thể giải quyết bằng pháp lý. Các cụm dân cư biên giới ở nơi này thường xuyên vướng phải những mâu thuẫn. Xảy ra nhiều vụ xâm canh xâm cư, chăn thả trâu bò phá hoại hoa màu của nhau. Nhiều gia đình, dòng họ cưới gả con cháu cho nhau qua biên giới mà không biết mình vi phạm, thanh, thiếu niên nghịch phá gây mất đoàn kết giữa làng bản hai bên.

Sau khi nghiên cứu nắm bắt tình hình cũng như nguyện vọng của bà con, Thiếu tướng Trần Đình Dũng đã nảy sinh ra ý tưởng kết nghĩa các bản giáp biên giới hai bên biên giới, để tình hữu nghị được gắn kết, sao cho hai bản của hai quốc gia coi nhau như người một nhà. Ông từng nói trong buổi nói chuyện với tân binh tại Trung tâm huấn luyện rằng: “Người lính Biên phòng chúng ta dẫu có tận tụy đến đâu, tinh nhuệ đến đâu thì cũng không thể nắm chặt tay nhau dàn hàng ngang để bảo vệ từng tấc đất biên cương một cách trọn vẹn tuyệt đối được. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ này, trước hết biết dựa vào dân, tuyên truyền vận động người dân khu vực biên giới nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững chủ quyền an ninh biên giới”. Thấm nhuần tư tưởng chiến lược được đúc kết qua lịch sử nghìn đời của dân tộc: “Mỗi người dân biên giới là một người lính biên thùy”, kết hợp với ý tưởng sáng tạo, suốt hai năm ròng (1994 - 1995), Thiếu tướng Trần Đình Dũng đã cùng các cơ quan chuyên trách của Bộ đội Biên phòng Quảng Trị nghiên cứu, lập đề án khoa học có tính phản biện và thuyết phục cao để tham mưu với Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị, thống nhất với chính quyền các tỉnh của Lào về chủ trương kết nghĩa bản – bản hai bên biên giới.

Mười lăm năm đã qua, nhưng nhân dân hai bản Ka Tăng, Hướng Hóa, Quảng Trị và Đen-sa-vẳn, Sê Pôn của Lào, thuộc địa bàn của Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo quản lý vẫn chưa quên giây phút ấm áp tình anh em trong ngày lễ kết nghĩa bản – bản. Niềm vui từ ngày hôm đó đã được nhân đôi, nỗi buồn, sự khó khăn sẽ được chia sẻ cho nhau để đôi vai vơi đi gánh nặng. Với sự vào cuộc quyết liệt của Bộ đội Biên phòng Việt Nam, 24 cặp bản trên biên giới Quảng Trị đã lần lượt kết đôi, góp thêm một bài ca đẹp về tình đoàn kết giữa hai quốc gia, hai dân tộc. Thiếu tướng Trần Đình Dũng cho biết thêm: “Nội dung bản cam kết thời đó đều căn cứ vào Hiệp định biên giới được hai Nhà nước ký kết là cơ sở định hướng của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, phù hợp phong tục tập quán sinh hoạt của nhân dân hai bên biên giới. Thông qua kết nghĩa, nhân dân hai bên biên giới tạo điều kiện tự giải quyết những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn cuộc sống như giúp nhau về giống, kỹ thuật sản xuất, giao lưu văn hóa, thể thao; tuyên truyền xóa bỏ hủ tục lạc hậu... để từ đó cùng nhau xây dựng, quản lý bảo vệ biên giới hòa bình hữu nghị, hợp tác cùng phát triển”.

Đã kết nghĩa bản – bản rồi, việc đối ngoại giữa hai quốc gia ở vùng biên giới này bỗng chốc trở thành những việc rất cụ thể của làng, của xã, của các cụm dân cư, dòng họ hai bên biên giới. Danh hiệu “Lưỡng quốc già làng” cũng ra đời từ đây. Ở đó các già làng đứng ra dàn xếp chuyện lớn, chuyện nhỏ, việc làng, việc họ của cả hai bên. Mâu thuẫn nào gay gắt mấy rồi cũng được giải tỏa êm xuôi chỉ bằng những cuộc gặp mặt, những bữa cơm, tiệc rượu, những buổi vui văn nghệ, giao lưu giữa hai bản hai bên biên giới. Thời gian chưa nhiều, nhưng miền đất này đã thực sự chuyển biến, giao hòa, tránh xa khỏi cái tiếng hoang vu, heo hút, nghèo khó ngày nào. Hàng năm, tỉnh Quảng Trị chi từ 3 – 4 tỷ đồng từ ngân sách địa phương để hỗ trợ phía Bạn xây dựng trường học, trạm xá, tiến hành một số dự án điều tra nông nghiệp vùng biên giới, khảo sát các dự án trồng rừng, cây công nghiệp như cà phê, chè, sắn, cao su, hồ tiêu... Bên cạnh đó, các ngành như Hải quan, Quân sự, Công an và các cấp chính quyền huyện, xã, thôn, bản, dọc biên giới và các trạm, đồn Biên phòng đã tăng cường làm tốt công tác đối ngoại theo chức năng của ngành, địa phương.

Nói về mô hình “Kết nghĩa bản – bản hai bên biên giới”, ông Nguyễn Quân Chính, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị khẳng định: “Mô hình đã đem lại hiệu quả cao trong quản lý, bảo vệ biên giới, đối ngoại biên phòng, kịp thời giải quyết các vấn đề nảy sinh liên quan đến biên giới, lãnh thổ, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp và nhân dân hai bên phát triển kinh tế; góp phần thúc đẩy giao lưu thương mại, văn hóa, y tế, giáo dục và tăng cường trao đổi, học tập kinh nghiệm quản lý, lãnh đạo của tổ chức Đảng, chính quyền, các tổ chức quần chúng thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị”.

Bây giờ thì mô hình này đã được mang nhân rộng ra toàn bộ tuyến biên giới Việt Nam – Lào – Cam-pu-chia và Việt – Trung. Mô hình này giờ đây đã có một tên gọi mới là “Phong trào kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới” song người ta vẫn hay quen gọi tắt là “kết nghĩa bản – bản” như cái tên khởi thủy của nó trên tuyến biên giới Quảng Trị. Người dân vùng biên cả nước đã cùng nhau ký kết biên bản kết nghĩa, thể hiện nguyện vọng là được thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết dân tộc, thân tộc giữa nhân dân hai bên biên giới. Đồng thời cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương chung giữa hai Đảng, hai Nhà nước về công tác đối ngoại nhân dân cùng xây dựng biên giới hòa bình và ổn định.

Thiếu tướng Trần Đình Dũng kể cho tôi nghe một câu chuyện khi ông thực hiện một chuyến công tác ở Trung Quốc, ông tâm đắc với tâm sự của một sỹ quan đồng cấp Trung Quốc rằng: “Quân anh và quân tôi phải ngồi với nhau uống rượu, đánh cờ thì mới hiểu nhau được. Khi đã hiểu nhau rồi có mâu thuẫn xảy ra thì đại sự cũng phải nhỏ đi thành trung sự, trung sự nhỏ đi thành tiểu sự và tiểu sự thành ra vô sự”. Ông thực sự là người luôn tìm tòi, sáng tạo biết vận dụng lý luận vào thực tiễn và từ thực tiễn để rút ra những bài học chỉ đạo như: Dựa vào lòng dân để giữ yên biên giới. Muốn giữ nước, trước hết phải giữ được lòng dân – Thiếu tướng Trần Đình Dũng luôn nhắc lại điều này.

Trong chiến tranh, nhiều khu vực ta phải mượn đất bạn để xây dựng những tuyến đường vận chuyển quân, vận chuyển vũ khí, lương thực… từ Bắc vào Nam và giải quyết hậu quả chiến trường trên hệ thống đường Trường Sơn. Sau khi đất nước được giải phóng, việc mượn đường trở nên không còn hợp lý. Nhưng để mở một con đường mới là muôn vàn khó vì địa hình ở đây rừng rậm, đèo dốc cao, với những chi phí rất lớn, vậy nên trong từng điều kiện cụ thể quân và dân ở đây vẫn phải chịu cảnh mượn đường trên đất bạn gần 18km để hoạt động dân sinh cho xã Hướng Lập và để các đơn vị Công binh tổ chức phòng tuyến, mở đường, trước khi con đường Sen Bụt – Cù Bai được mở ra dài trên 30 km ở nhánh Tây đường Hồ Chí Minh bây giờ, tuyến đường Pa Tầng – Tà Mên khi đó vẫn phải mượn qua Lào 5km đường sau đó được đầu tư xây dựng lại. Rồi đường A Vao – Tà Mên (tránh được hơn trăm ki-lô-mét đường vòng), đường Lao Bảo, Hướng Phùng cũng được làm bằng kinh phí quản lý biên giới, Biên phòng Quảng Trị làm chủ đầu tư. Bà con ở đây bảo, đường mở ra mới thấy nước nhà đã độc lập thật rồi. Đường phóng đến đâu là vùng biên giới đổi thay đến đó, hàng loạt các phương án phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xóa mù chữ, y tế cũng được triển khai đến từng thôn bản, đến những nơi chưa từng được biết đến việc học chữ và khám chữa bệnh. Thiếu tướng Trần Đình Dũng bảo, mãi về sau này, ông vẫn nhớ như in những lần vào thăm đồn Biên phòng ở các xã biên giới miền Tây Quảng Trị, rớt nước mắt khi thấy bộ đội phải làm cả cái việc của các nữ y tá, nữ hộ sinh, khám phụ khoa cho phụ nữ, hướng dẫn cả cách ăn ở, vệ sinh thân thể cho đúng cách để phòng chống bệnh tật. Việc gì cũng đến tay bộ đội mà hồi đó anh em ở rừng, sốt rét héo hon cả người, lực lượng thì mỏng không đủ để bao quát, không dùng sức dân thì không thể bảo vệ biên giới được. Ông nghĩ, cái sức mạnh to lớn của bộ đội là huy động được tất cả các lực lượng có thể cùng chung sức bảo vệ biên giới, chứ không phải là nhiệm vụ riêng của Bộ đội Biên phòng. Nhân dân mới là chủ thể xây dựng, quản lý và bảo vệ biên giới Quốc gia.

Chính những năm khó khăn cực khổ trăm bề đó, cũng là lúc chí khí người lính được mài dũa, sáng lên từ những việc làm cụ thể quyết liệt vì lực lượng, vì sự bình yên của nhân dân. Trần Đình Dũng là người đầu tiên tổ chức phối hợp giữa Bộ đội Biên phòng Quảng Trị với lực lượng Công an Lào tại 2 tỉnh Quảng Trị và Sa-vẳn-na-khẹt trong đấu tranh phòng chống ma túy. Ngày 4 - 8 - 2006, cách Biên phòng hơn 20km về phía Lào thuộc tỉnh Sa-vẳn-na-khẹt, lực lượng Biên phòng Quảng Trị phối hợp với công an Sa-vẳn-na-khẹt phá chuyên án bắt 3 đối tượng, thu gần 3.000 viên ma túy tổng hợp và gần 10 ngàn USD, một ô tô và nhiều tang vật khác. Trận đánh ma túy đầu tiên này gây ấn tượng mạnh và được nhiều thiện cảm đặc biệt đối với lực lượng Công an Lào. Mặc dù lúc đó trong nội bộ Biên phòng, Công an chưa đồng thuận cao về việc đưa lực lượng trinh sát sang Lào đánh ma túy. Trần Đình Dũng cho rằng, tội phạm ma túy là tội phạm quốc tế, bất cứ quốc gia nào cũng phải có trách nhiệm phòng chống, nên ông quyết tâm phối hợp với Công an Lào đánh ma túy từ xa, bất ngờ hơn, hiệu quả hơn, vừa đánh vừa giúp bạn biết đánh, mặc dù có thể nhận trách nhiệm cao nhất nếu chuyên án thất bại. Tin ở chính mình và đồng đội, bằng trải nghiệm, ông đã cùng lực lượng trinh sát Biên phòng phá đường dây ma túy qua biên giới được Nhà nước Việt Nam và Lào khen thưởng, hiện nay đã được nhân rộng trong công tác đấu tranh với tội phạm ma túy trên các tuyến biên giới của Tổ quốc.

Chủ trương giao đất giao rừng cho các hộ dân biên giới hiện nay cũng là kết quả của việc thấm nhuần chân lý: “Lòng dân là lũy thép vững bền nhất”. Biên giới Việt Nam với các quốc gia láng giềng đều là biên giới mở, đường biên giới không khép kín bằng hệ thống rào cản như một số nước khác. Chuyện xâm canh, xâm cư vượt biên trái phép vì thế mà chỉ trông đợi vào sự nghiêm minh của luật pháp và ý thức của nhân dân hai bên biên giới. Nếu giao đất, giao rừng cho dân thì mảnh đất ấy không chỉ là đất giáp biên, còn là đất cho kế sinh nhai của họ, lúc đó làm gì có chuyện xâm canh, xâm cư mất đất nữa. Họ sinh sống trên đất biên giới, bảo vệ đến cùng mảnh đất đó, cha sinh mẹ đẻ của họ cũng ở đó, mà khi chết đi được chôn cất ở đó, sống nhờ đất và chết vì đất. Vòng luân hồi ở trên đất quê hương cũng sinh ra truyền thống kế tục từ thế hệ này qua thế hệ khác, biên cương đời đời bền vững từ đây mà ra, chẳng phải lo gì nữa. Truyền thống giữ nước của ông cha ta xưa cho thấy, chỉ khi đất nước bị xâm lược, còn khi hòa bình thì sử dụng rất ít quân triều đình ra biên ải để giữ đất, mà việc giữ gìn biên giới xa xôi là việc giao cho các tù trưởng, thái thú, cư dân biên giới, các dòng họ, thôn bản giáp biên. Nói đến đây, câu chuyện giữa tôi và Thiếu tướng Trần Đình Dũng quay về đề tài lịch sử. Ông nói nhiều về mảnh đất khẩn hoang Nam Bộ, đất anh dũng kiên cường Tây Nguyên và nơi còn nhiều khó khăn gian khổ mà những người lính quân hàm xanh ngày đêm đối mặt với những diễn biến khó lường của thời cuộc là biên giới phía Bắc, ven biển. Ông, người lính luôn được đặt vào vị trí chỉ huy từ khi nhập ngũ lại rất chịu khó khăn lăn lộn với cơ sở. Ông có thể đi thâu đêm suốt sáng trên thuyền câu mực với ngư dân miền Trung, hiểu từng cách ăn nếp nghĩ của người dân cả đời bám biển mà ông biết trong mỗi trái tim của họ đều có khao khát bảo vệ biển, đảo quê hương. Đối với ngư dân, trời yên biển lặng không quan trọng bằng ra khơi vào đúng vụ cá, luồng cá và những chuyến đi biển đầy khoang. Người dân bám biển làm giàu thì nhiệm vụ của Biên phòng là phải làm cho những chuyến đi biển của người dân được an toàn từ khi xuất bến đến lúc trở về. Thiếu tướng Trần Đình Dũng nói: Đã đến lúc chúng ta phải nhận thức đúng về vị trí chủ vận mệnh quốc gia của nhân dân. Không có con người nào sinh ra mà không có nơi chôn rau cắt rốn. Hình thù của đất nước, sự phát triển của quốc gia của dân tộc được hình thành từ làng bản, cụm dân cư, quyền của con người ở đó, trách nhiệm cũng ở đó. Bộ đội Biên phòng phải đứng cạnh ngư dân, bảo vệ họ, trở thành niềm tin yêu của ngư dân lúc ở đất liền cũng như lúc ra khơi mới được coi là hoàn thành nhiệm vụ.

Phong trào quần chúng tham gia tự quản đường biên mốc giới của Bộ đội Biên phòng cũng chính là tạo điều kiện để người dân vừa chăn nuôi, trồng trọt trên đất của biên giới, vừa bảo vệ đường biên, cột mốc, Thiếu tướng Trần Đình Dũng trầm ngâm kết luận. Đó mới là xây dựng nền Biên phòng toàn dân, bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, nếu không gắn với những điều thiết thực thì phong trào chỉ là hô hào khẩu hiệu mà thôi. Việc phân giới cắm mốc cũng vậy. Những năm qua, công tác phân giới cắm mốc cực kỳ căng thẳng cuối cùng cũng đã có được những thành quả nhất định. Phương châm là ta không lấy của bạn một tấc đất, cũng không thể mất một tấc đất nào của Tổ quốc. Chuyến kiểm tra thị sát những điểm tồn đọng của công tác phân giới cắm mốc Việt Nam – Cam-pu-chia tháng 4 – 2013, Thiếu tướng Trần Đình Dũng trực tiếp đến từng điểm vướng mắc, cân nhắc xem xét địa hình để cùng các ngành, các cấp liên quan tìm phương án đàm phán hợp lý, công bằng. Ông lắng nghe từng ý kiến của cán bộ cấp dưới, anh em chỉ huy đồn Biên phòng, những người bám địa bàn rồi sau đó mới có kết luận. Ông đặc biệt lưu tâm những mảnh đất thực địa hiện có mồ mả tổ tiên của người dân, nhắc nhở việc chuyển dời hợp lý để công tác phân giới diễn ra tốt đẹp. Và dù có quyết sách nào liên quan đến vận mệnh quốc gia thì cũng phải đi lên từ việc làm yên lòng dân trước đã. Ông nói.

Năm 2007, Thiếu tướng Trần Đình Dũng được cấp trên bổ nhiệm chức vụ Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Bộ đội Biên phòng. Đây cũng là thời điểm lực lượng Bộ đội Biên phòng tổ chức triển khai nhiều hoạt động có hiệu quả, ghi dấu ấn đậm nét trong công tác xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Bắt đầu từ công tác tổ chức kết nghĩa các cụm dân cư hai bên biên giới; đến phong trào nhân dân biên giới tham gia tự quản đường biên mốc giới, gắn với việc giao đất, giao rừng ở biên giới cho dân biên giới quản lý, sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt; tăng cường sỹ quan Biên phòng về xã tham gia cấp ủy, chính quyền địa phương; đổi mới công tác quản lý cửa khẩu, triển khai công tác phân giới cắm mốc tại các tuyến biên giới và tuần tra song phương với lực lượng bảo vệ biên giới các nước láng giềng. Biên giới Việt – Trung đã được phân giới cắm mốc, biên giới Việt – Lào được tăng dày mốc giới, biên giới Việt Nam – Cam-pu-chia đang triển khai phân giới cắm mốc. Hiệp định Phân định vịnh Bắc Bộ được thực thi. Chính phủ ban hành Nghị định đối ngoại Biên phòng, Nghị định 34/NĐ-CP về quy chế khu vực biên giới đất liền, Nghị định 161/NĐ-CP về quy chế khu vực biên giới biển. Pháp lệnh về Bộ đội Biên phòng cũng đã được tổng kết. Các văn bản pháp lý về biên giới và bảo vệ biên giới đang được bổ sung, sửa đổi phù hợp với tình hình xây dựng, quản lý biên giới hiện nay. Đề án chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, nâng cao năng lực xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới của Bộ đội Biên phòng đến năm 2020 đang được xây dựng. Đề án trang bị cho Bộ đội Biên phòng đã được Chính phủ phê duyệt phần đóng mới tàu thuyền, đặc biệt là tàu cứu hộ cứu nạn kết hợp tuần tra. Đề án thông tin cứu hộ cứu nạn thực sự đã tăng đáng kể khả năng và chất lượng công tác xây dựng và quản lý bảo vệ biên giới, cũng như công tác phòng chống bão lụt, cứu hộ cứu nạn của Bộ đội Biên phòng. Quan hệ phối hợp giữa Bộ đội Biên phòng và các lực lượng bảo vệ biên giới các nước Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia được tăng cường.

Việc phân công rõ trách nhiệm quản lý vùng biển, vùng biên giới và biên chế tổ chức của Bộ đội Biên phòng các cấp được quan tâm điều chỉnh hợp lý đặc biệt là mô hình biên chế tổ chức của đồn Biên phòng theo tuyến, địa bàn, chính diện, chiều sâu, rất cụ thể. Tiêu chí xây dựng đồn Biên phòng vững mạnh toàn diện được quy định thống nhất. Quan hệ của Bộ đội Biên phòng với các quân khu, quân chủng được xác lập và hoạt động có nề nếp. Chế độ chính sách, chức danh, trần quân hàm, tuyển sinh, tuyển quân được quan tâm chặt chẽ, hợp lý hơn. “Tôi rất mừng vì mình được tham gia đóng góp một phần quan trọng cho sự phát triển của lực lượng Bộ đội Biên phòng Việt Nam” - Thiếu tướng Trần Đình Dũng tâm sự. Ông cho rằng, cần phải nhận thức biên giới là biên giới chung của các quốc gia láng giềng chứ không riêng của quốc gia nào. Vì vậy, việc xây dựng quản lý và bảo vệ biên giới cũng là nhiệm vụ chung của các quốc gia láng giềng. Ông đặc biệt lưu tâm tới việc triển khai tuần tra song phương. Theo ông, đây là dịp để lực lượng bảo vệ biên giới của hai quốc gia có điều kiện gần gũi, gặp nhau thường xuyên hơn ngoài những buổi họp giao ban, hội đàm trong nhiệm sở. Không gì bằng cùng đi trên đường biên giới, cùng xử lý vụ việc, không mất công phải trao đổi, báo cáo, tổ chức thị sát nhiều lần, dễ hiểu nhau, thông cảm hơn, không tạo ra những hiểu lầm rồi có thể trở thành chuyện lớn về sau. Tuần tra song phương đã thực hiện tốt ở các tuyến biên giới. Lực lượng bảo vệ biên giới các nước láng giềng rất đồng thuận với chủ trương này của Bộ đội Biên phòng Việt Nam. Trong thực hiện chủ trương này, ông là một trong những người có đóng góp quan trọng vào việc nâng cao chất lượng các hoạt động đối ngoại Biên phòng, đưa hoạt động tuần tra song phương các tuyến biên giới đi vào nề nếp, chính quy hơn.

Trong buổi làm việc giữa Thiếu tướng Trần Đình Dũng, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Bộ đội Biên Phòng với Đại tá Chân Trung Hưng, Trưởng Cơ quan Tùy viên Quốc phòng Trung Quốc cuối năm 2012, ông đã trao đổi nhiều vấn đề hoạt động đối ngoại Biên phòng và hoạt động phối hợp giữa lực lượng chuyên trách bảo vệ biên giới hai nước. Năm 2013, với vai trò là Phó Tư lệnh – Tham mưu trưởng, Thiếu tướng Trần Đình Dũng đã cùng Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng tham mưu cho Bộ Quốc phòng Việt Nam tổ chức ký kết với Bộ Quốc phòng Trung Quốc về “Thỏa thuận hợp tác Biên phòng bổ sung, sửa đổi” và “Quy chế phối hợp Biên phòng 3 cấp” với Bộ Công an Trung Quốc, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết các vấn đề trong quan hệ Biên phòng giữa hai nước. Riêng trong năm 2013, với mục tiêu xây dựng cửa khẩu biên giới hài hòa, ổn định, đã có 9 cặp Đồn – Trạm của Bộ đội Biên phòng Việt Nam và Công an Biên phòng Trung Quốc tổ chức kết nghĩa “Đồn – Trạm hữu nghị, biên giới bình yên”. Thiếu tướng Vũ Đông Lập – Cục trưởng Cục Quản lý Biên phòng, Bộ Công an Trung Quốc rất phấn khởi, nhận xét rằng: “Để có được một biên giới hòa bình, hữu nghị, cùng phát triển thì lực lượng Bộ đội Biên Phòng hai nước là lực lượng nòng cốt trong việc đảm bảo thực hiện tốt các Hiệp định về quy chế biên giới và các thỏa thuận cấp cao đã ký giữa hai nước. Riêng trong vấn đề thúc đẩy sự hợp tác của lực lượng Bộ đội Biên Phòng hai bên, tôi cho rằng tới đây chúng ta cần đổi mới phương thức hợp tác, tổ chức nhiều hoạt động giao lưu, thăm hỏi giữa các đơn vị cơ sở cũng như hai lực lượng, hai Bộ để chúng ta thêm hiểu biết và tin cậy lẫn nhau. Hoạt động kết nghĩa “Đồn - Trạm hữu nghị, biên giới bình yên” tại các khu vực biên giới, cửa khẩu trọng điểm sẽ là minh chứng cho sự tin cậy, đoàn kết gắn bó giữa cán bộ, chiến sỹ lực lượng Biên phòng hai nước chúng ta”.

Là người lính, người chỉ huy dần trưởng thành qua những chiến trường nóng bỏng của đất nước, từ việc trực tiếp cầm súng chiến đấu giải phóng dân tộc, bảo vệ biên giới Tây Nam, tham gia “Quân tình nguyện” giúp giải phóng đất nước Cam-pu-chia, đến những cuộc chiến trong thời bình như chống phỉ, FULRO, dẹp các tổ chức phản động người Việt lưu vong, hay đấu tranh chống các loại tội phạm hình sự, tội phạm ma túy, chống buôn lậu, gian lận thương mại, ông đều nhận thức rằng: Không có gì nguy hiểm bằng mất “lòng dân”, “lòng dân” chính là điểm tựa để làm nên chiến thắng. Ngày nay trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cuộc chiến để giành lại niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước là cuộc chiến thầm lặng, gian khổ, mềm mại, khéo léo nhưng không kém phần quyết liệt, vất vả, gian lao. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ biên giới, thì yếu tố “lòng dân” chính là điểm tựa cho lực lượng Bộ đội Biên phòng thực hiện tốt nhiệm vụ “nòng cốt, chuyên trách” của mình.

Một quốc gia không thể bình yên nếu đường biên giới bị đe dọa. Xây dựng và bảo vệ an ninh quốc gia phải là sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc. Trong chiến lược xây dựng và quản lý, bảo vệ biên giới. Nếu mà lòng dân không yên, không đủ no, đủ ấm thì chẳng bao giờ quốc gia vững bền được. Nhiệm vụ của lực lượng Bộ đội Biên phòng là duy trì và bồi đắp củng cố “trận địa lòng dân” ấy.

Một người con của chiến khu Ba Lòng xưa, người chưa bao giờ coi mình là đối tượng được ưu tiên của xã hội, mặc dù sinh ra trong một gia đình cách mạng có nhiều cống hiến hy sinh cho đất nước, cho dân tộc giờ đây vẫn luôn sống và làm việc với một tâm niệm: “Lòng dân là mục đích hành động của người lãnh đạo, người tướng lĩnh của Quân đội cách mạng”. Đó là chân lý sống, là mạch nguồn trong suy nghĩ của ông.

Tôi không thể quên hình ảnh của ông đứng cúi đầu bên tượng đài liệt sỹ tại Đồn Biên phòng Cửa khẩu Bu Prăng, Quảng Trực, Đắk Nông. Trong buổi chiều khói nhang ngút tỏa biên cương, ông mặc niệm những đồng đội đã ngã xuống ở đây, trong đó có những người cùng lớp quân ngũ với ông trước đây; họ đã cùng chiến đấu và đã hy sinh khi còn rất trẻ. Nhìn một lượt lên những liệt sỹ khắc trên bia đá, ông lặng đi rồi nói: “Những người con của đất nước quê hương đã ngã xuống ở đây, máu xương để lại nơi này, không có lý nào lại tồn tại những luận điệu rằng đây không phải là đất của Việt Nam”.

Trong những chuyến lên Tây Nguyên công tác, ông đến thăm các buôn sóc, động viên đồng bào yên tâm ổn định cuộc sống, giúp họ tháo gỡ những vướng mắc còn đọng lại với chính quyền địa phương về việc sắp xếp ổn định các khu dân cư sát biên giới, lo đất để dân trồng rừng, trồng cây công nghiệp, dựng nhà, tu sửa nghĩa trang, mồ mả cha ông. Ông quan tâm đến từng thiết chế hành chính, đời sống tinh thần của bà con, sao cho người dân no đủ, bám trụ ở những mảnh đất biên cương xa xôi này. Ông mang trong lòng sự trăn trở đằng sau những buôn sóc, bản làng ấy, nghĩ cách làm sao để lực lượng Bộ đội Biên phòng đứng sau, giúp người dân tiếp tục ổn định đời sống, làm giàu và gắn bó với biên giới.

Nhìn ông im lặng cúi đầu trước anh linh những hương hồn liệt sỹ, tôi chợt thấy mái tóc ông đã có nhiều sợi bạc. Tôi hiểu lòng ông, một con người cả cuộc đời và sự nghiệp luôn phấn đấu cho hai chữ “Lòng dân”.

T.T.H

 

TRƯƠNG THÚY HẰNG
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 258

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

18/04

25° - 27°

Mưa

19/04

24° - 26°

Mưa

20/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground