Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 17/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Tổ chức và hoạt động quân sự của tỉnh Quảng Trị dưới triều Nguyễn

TCCV Online - Khi Huế được chọn làm kinh đô dưới thời Nguyễn thì Quảng Trị có một vị trí chiến lược rất quan trọng, được xem là chốn phên dậu bảo vệ kinh đô Huế. Dưới thời Nguyễn, nhà nước huy động lực lượng quân đội đóng giữ chủ yếu ở các vùng biên giới, nơi tiếp giáp với các nước. Ở Quảng Trị vùng phía Tây Cam Lộ nước Xiêm, Vạn Tượng thường tổ chức lực lượng sang lấn đất, bắt người cướp của, cướp bóc của cải của nhân dân. Do đó việc tổ chức lực lượng quân đội đóng giữ, chống lại các lực lượng nổi dậy, đảm bảo an ninh biên giới là những việc làm được nhà Nguyễn chú trọng đến.

I. Tổ chức lực lượng quân đội

Năm Minh Mạng thứ 4 (1823) nhà vua bắt đầu cho đặt các cơ ở Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Ở Quảng Trị lấy Đội Nội cần cùng đội Cường nhất và hiệu Công xa nhất làm cơ Quảng Trị1. Đến năm Minh Mạng thứ 8 (1827) lại hạ lệnh cho 11 trấn Quảng Bình, Quảng Trị, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận…mộ thêm dân ngoại tịch quê từ Quảng Bình trở vào Nam để bổ sung làm cơ binh, lấy đủ mỗi cơ 10 đội, mỗi đội 50 người làm hạn2.

Hai năm sau (1829), Vua lại có dụ: “Định lại danh hiệu và số ngạch tượng binh ở trong và ngoài Kinh (Quảng Trị thì gọi là cơ trị tượng)”3. Năm Minh Mạng thứ 14 (1833) số cơ ở Quảng Trị tăng lên 3 đội, cơ trị Tráng (giãn điểm), một đội cơ Trị tượng, 5 đội cơ Quảng Trị, đội pháo thủ (triệu mộ), 10 đội cơ Định Man (do tù phạm và toàn trừ được dồn bổ)4. Chỉ huy binh lính tại Quảng Trị trong thời gian này là lãnh binh Nguyễn Văn Nghị vì già yếu nên triều đình cho về hưu. Cho cải bổ lãnh binh Quảng Nam là Nguyễn Cửu Đức làm lãnh binh Quảng Trị5. Lãnh binh Quảng Trị có nhiệm vụ: Cai quản quân bản tiêu, vệ Quảng Trị, cơ Định Man và hai đội trị Tráng Nhất, Nhị, đội trị tượng, vệ thủy Quảng Trị cộng 3 vệ, cơ, 3 đội.

Ở Quảng Trị binh lính tập trung chủ yếu ở cơ Định Man thuộc đạo Cam Lộ. Triều Nguyễn đã sử dụng lực lượng địa phương, phiên chế thành cơ Định Man. Năm thứ 3 (1822) Minh Mạng nghị chuẩn: “Trích lấy số lính các hạng ở các xã, thôn, phường gần đạo Cam Lộ, đồn Ai Lao, cộng 370 người, dồn làm 10 đội ở cơ Định Man6.

Thiệu Trị lên ngôi đã quy định cho binh dân 6 xã, thôn, phường Bích Giang, Cam Đường thuộc phủ thành Cam Lộ, hết thảy dồn làm cơ Định Man. Đến năm 1852 Tự Đức quy định lại ngạch tuyển lính ở cơ Định Man “đổi ngạch lính ở cơ Định Man thuộc phủ Cam Lộ, cứ hai đinh chọn lấy một7.

Ngoài việc sử dụng lực lượng địa phương, triều đình còn huy động bộ phận lính tỉnh. Năm Minh Mạng thứ 6 (1825) dồn 10 đội của cơ Định Man đạo Cam Lộ làm 8 đội, lấy binh đội Hóa Thiện bổ làm hai đội 9 và 108. Lực lượng đóng giữ ở vùng núi Cam Lộ còn có một bộ phận khác là những phạm tội bị giam giữ ở Ai Lao và được phát đi sung quân ở cơ Định Man. Để tăng cường thêm lực lượng canh giữ biên giới năm 1826 Minh Mạng sai quản đạo Cam Lộ Tống Văn Uyển dồn những tù phạm sung quân và tội lưu bổ làm lính cơ Định Man. Vua bảo bộ binh rằng: “Nay ở thú sở Ai Lao có đến 115 người bị tội sung quân và tội lưu, nên sai cởi mở xiềng khóa dồn làm 3 đội 6, 7, 8 của cơ Định Man cho tự tâm. Còn 8 đội cũ thì dồn làm 5 đội từ đội 1 đến đội 59. Với chính sách đó, nó đã thể hiện được sự khoan hồng, quan tâm của nhà nước, mặt khác giảm được gánh nặng cho triều đình, đồng thời tăng cường thêm được lực lượng góp phần canh giữ cho biên ải.

Hàng tháng binh lính được cấp lương bổng, lương thảo và các vật dụng cần thiết phục vụ sinh hoạt. Triều đình lại thường xuyên ban thưởng cho binh lính được sai phái đi làm nhiệm vụ quan trọng để giúp khích lệ tinh thần của binh lính, bảo vệ tốt vùng biên ải xa xôi. Năm 1827, người Xiêm đem dân đến cư trú ở Cam Lộ, lính cơ Định Man được triều đình phái đi giúp quân Xiêm khai hoang sinh sống, nhân đó Minh Mạng đã cấp thêm lương bổng cho binh lính “vua thấy dọc biên giới Cam Lộ có việc, hạ lệnh hợp cả binh cơ Định Man ở thú sở để sẵn sàng sai phái, cấp thêm tiền lương tháng (lệ chi 5 tiền, cấp cho đủ 1 quan). Đợi việc xong, lại chia ban chi lương như thường lệ”10. Để đảm bảo đầy đủ lực lượng đóng giữ bảo vệ biên giới, năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) nhà vua cho bổ sung số binh lính ở cơ Định Man. Tỉnh Quảng Trị tâu rằng: “Số lính ở cơ Định Man ít quá, không đủ người sai nha. Nghĩ xin trích lấy 190 người trong các hộ đi lấy gỗ, bổ vào cơ ấy11 Vua y cho. Số lượng quân đội ở Quảng Trị trong năm này gồm có: Vệ Quảng Trị, thủy vệ Quảng Trị, đội Trị tượng, đội Tuần thành, đội pháo thủ, cơ Định Man.

Dưới thời Nguyễn, Quảng Trị vốn là vùng có vị trí chiến lược rất quan trọng, Cam Lộ lại là vùng nằm sát biên giới nên thường xuyên phải tập trung lực lượng để trấn áp các lực lượng bên ngoài, bọn Xiêm – Lào lại thường xuyên đến gây rối. Nhận thấy được điều đó, nhà Nguyễn đã thường xuyên huy động binh lính đến đồn trú ở đây, sự quan tâm của nhà nước đã giúp cho vùng đất này luôn hoàn thành được các nhiệm vụ, đánh dẹp được các thế lực, góp phần quan trọng trong việc bảo vệ sự vững bền của vương triều Nguyễn và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia nữa đầu XIX.

II. Thiết lập hệ thống bảo vệ

1. Sơn phòng

Khi mà chế độ phong kiến Việt Nam đang lao sâu vào khủng hoảng suy sụp thì các nước Tư Bản tăng cường âm mưu đánh chiếm nước ta. Khi chủ quyền bị đe dọa các vị vua Triều Nguyễn đã nghĩ ngay đến việc xây dựng các sơn phòng ở vùng miền núi xa xôi, hiểm trở phòng khi có sự biến xảy ra.

Tháng 8 năm 1875, quần thần tâu lên vua Tự Đức về việc xin lập sơn phòng ở “các tỉnh Tả kỳ thì Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa; Hữu kỳ thì Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tỉnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình12”.

Ở các tỉnh miền Trung là nơi đầu tiên triều đình Nguyễn tiến hành thành lập Nha sơn phòng. So với các sơn phòng ở miền Trung thì sơn phòng Quảng Trị được xây dựng với quy mô lớn nhất. Sơn phòng Quảng Trị được xây dựng năm 1875. Nhận thấy được lợi thế của vùng đất Quảng Trị nhất là vùng phía Tây Quảng Trị có đồi núi hiểm trở, lại gần với kinh sư, dễ dàng di chuyển mỗi khi có biến nên triều Nguyễn đã chọn Cam Lộ làm nơi đặt sơn phòng của tỉnh Quảng Trị.

Người có đóng góp rất lớn đối với sơn phòng Quảng Trị là Nguyễn Văn Tường, ông nhận thấy: “Các châu ở Thành Hóa đất liền với kinh đô, đời đời phên che giúp đỡ, sản vật có thể dùng được, dân phong có thể sai khiến được…13. Nhận thấy tầm quan trọng của sơn phòng Quảng Trị, năm 1886 Nguyễn Văn Tường đã tâu xin nhà vua 6 điều liên quan đến việc tổ chức sơn phòng đạo Cam Lộ:

-         Xin đem binh đội Thiên Thiện và binh đồ tù các tỉnh đạo, đều phái đến cơ Định Man, chọn người cai quản cấp cho lương ăn để khai khẩn ruộng đất.

-         Xin ở Tây Sơn tỉnh Bình Định và Trấn Ninh tỉnh Nghệ An, mở con đường ở thượng du thông đến Cam Lộ, để chống giữ lẫn nhau.

-         Mộ thêm cơ Định Man, nhị, tam, các Quản suất, thưởng cho phẩm hàm và gạo lương cho lính mộ, xin theo lệ làm việc sau thành nề nếp, mỗi đội đặt làm một làng, ruộng vỡ hoang cho lấy một nửa làm thế nghiệp, nửa sung làm ruộng công, có người tình nguyện mộ dân làm nhà ở khai khẩn, thì cấp thực cho tiền 10 quan, cho vay 35 quan, 3 năm phải nộp trả lại, mộ được dân nội tịch cho được trừ, biên là chính mộ, đều chiếu lệ thưởng hàm và mua trâu giao người phu mộ chăn nuôi, để giúp việc cày cấy.

-         Quan kinh thu thuế hàng hóa của người Kinh, người Man ở trường mậu dịch, xin đình chỉ nhưng phái hai người thanh niên công bằng lĩnh tiền công mua hàng hóa, cùng với người Kinh, người Man trao đổi, lấy lãi giúp vào chi phí và cho người Kinh lãnh trưng, thị trường chọn chỗ làm ra chỗ khác.

-         Xin đem hai tổng An Lạc, Bái Ân thuộc huyện Gio Linh, nửa tổng An Đôn thuộc huyện Đăng Xương và các phường ở thượng nguyên từ nơi khác đến ở, xin đổi lệ thuộc vào huyện Thành Hóa, lần lượt dời làm huyện nha.

-         Xin rút số lính cơ hai phường Bảng Sơn, Mai Lộc lại về ngạch hộ lấy gỗ, chịu nộp thuế gỗ, nhưng đem giảm binh hai làng Cam Lộ, Châu Lạng cùng với dân có tên trong sổ đồn điền vào số lính cơ Định Man còn thiếu14.

Kiến nghị của Nguyễn Văn Tường đã được vua Tự Đức và đình thần bàn bạc đồng ý. Đến năm Tự Đức thứ 28 (1875) nha kinh lý sơn phòng tỉnh Quảng Trị đã được đặt tại vùng Cam Lộ. Năm 1883 khi triều đình Huế ký hiệp ước Hacman, Việt Nam rơi vào thảm trạng mất nước. Trước sự gia tăng các hành động xâm lược của thực dân Pháp, việc cấp bách trước mắt là chuẩn bị hậu cứ cho kinh đô. Năm 1883, Tự Đức ra lệnh: “Di chuyển nha sơn phòng Quảng Trị cùng với nha ở phủ Cam Lộ. Nguyên nha sơn phòng và phủ Cam Lộ được đặt tại địa phận xứ Động Ngang, huyện Thành Hóa. Quan cơ mật viện tâu rằng: Sơn phòng của Quảng Trị có thể làm hậu kinh lý, quan nối theo coi sơn phòng này cho rằng: Địa thế ở đây chật hẹp, đã khảo xét được nơi liền với chỗ đất cũ này là ở trên địa phận xã Bảng Sơn. Tương truyền, nơi đây trước kia con cầu (một loại rồng có ngà) hoạt động, nên tục gọi là Long Cầu, địa thế rộng rãi, có thể chứa được một kiến trúc lớn di về đây, xin cho di đến, phủ, nha cũng xin chuyển đến phòng nội. Vua y cho15.

Thành Tân Sở được xem là “nơi dừng chân” của nhà vua và triều đình trong trường hợp phải di tản khỏi kinh đô Huế. Do đó, việc xây dựng sơn phòng Tân Sở được triều đình quan tâm nhất. Hàng vạn dân phu và binh lính đã được điều động tới đây ngày đêm xây dựng. Trong vòng chưa đầy ba năm (1883 đến đầu 1885) kinh đô kháng chiến Cần Vương Tân Sở đã được hoàn thành.

Theo tư liệu địa chí của Nguyễn Cửu Sà ghi chép lại : “Thành Tân Sở cách Cam Lộ 15km về phía Bắc. Thành hình vuông mỗi cạnh 780m, gồm hai vòng thành, vòng ngoài có hào rộng và chông tre, vòng trong bằng đá mỗi cạnh rộng 420m có chỗ che cung vua, dinh các quan, trại lính, kho thuốc súng và các công sự phòng thủ với hơn 1000 đại bác cùng nhiều đạn dược16. Theo Linh mục A.Delvaux lại cho rằng: “Cả hai vòng thành đều hình chử nhật. Thành ngoài chiều dài 548m, rộng 418m. Bốn cửa chính giữ bốn mặt tường chiều rộng và cửa tả, cửa hữu ở mặt tường chiều dài17. Dù có nhiều ý kiến không đồng nhất nhưng qua đó chúng ta thấy được quy mô của thành rất lớn, đảm bảo được sức chiến đấu.

Sơn phòng Tân Sở là công trình lao động của hàng vạn dân binh từ mọi miền đất nước. Họ được huy động, tập trung về đây xây dựng một cách khẩn trương, bí mật. Điều đó đã thể hiện được lòng yêu nước thiết tha, cùng nhau bảo vệ đất nước trước nạn ngoại xâm. Tân Sở là một công trình kiến trúc mang nặng tính chất quân sự do nhà Nguyễn xây dựng. Bao quanh Tân Sở là các đỉnh núi, tạo thành hàng rào tự nhiên che chắn và án ngự. Tuy nhiên với địa thế đó, vùng Tân Sở dễ bị cô lập khi bị bao vây, phong tỏa từ bên ngoài khi có sự biến.

Năm 1885, quân Pháp chiếm được Tân Sở. Họ cho nổ kho thuốc súng, triệt hạ nhà cửa, phá hủy thành lũy. Một căn cứ địa chống Pháp đã bị thất bại hoàn toàn. Mặc dù với hy vọng biến sơn phòng thành một vùng bất khả xâm phạm của triều đình Nguyễn nhưng cuối cùng sơn phòng Tân Sở đã không gánh vác được sứ mệnh lịch sử trong công cuộc chống giặc ngoại xâm của vị vua trẻ Hàm Nghi và một bộ phận quan lại trong phe chủ chiến cùng với nhân dân cả nước. Sau cuộc tấn công của quân Pháp năm 1885 nơi đây chỉ còn sót lại một vài ụ đất và những đống gạch vụn. Hiện nay, Quảng Trị đang có kế hoạch tôn tạo, phục hồi di tích làm nơi bảo lưu những giá trị của sơn phòng Tân Sở vốn to lớn một thời.

2. Đồn, bảo

Ở những nơi xung yếu gần biên giới, trên đất liền cũng như ở những cửa sông, cửa biển, hải đảo đều là đối tượng phòng thủ được triều đình rất coi trọng. Bảo là đồn binh nhưng được xây dựng như một thành nhỏ, có lũy đất và hào bao bọc xung quanh. Một số bảo còn được đắp các ụ đất để đặt đại bác. Lực lượng đóng trong các bảo này là quân chính quy của tỉnh hoặc do triều đình phái đến. Một số trường hợp bảo do thổ binh đóng giữ. Quân đồn thú ở các bảo, đồn, sở ven biên giới thường được gọi chung là lính thú18.

Ở Quảng Trị, triều đình cho đặt hai bảo Trấn Lao và Yên Man ở vùng tiếp giáp giữa huyện Thành Hóa và 9 châu Kimi ở phủ Cam Lộ. Dưới triều Nguyễn ở Quảng trị có ba bảo: Bảo Cam Lộ, bảo Trấn Lao và bảo Yên Man đã được triều đình quan tâm, xây dựng. Do Cam Lộ nằm ở vị trí trọng yếu nên hệ thống đồn, bảo ở đây đã được chú trọng xây dựng nhiều so với các khu vực khác.

* Bảo Cam Lộ: Theo Đại Nam nhất thống chí ở lỵ sở huyện Thành Hóa, bảo đắp bằng đất, trước có thuế nguồn, sau bỏ bổ về huyện. Lại cửa quan sông Hiếu ở phía Tây huyện Thành Hóa, đặt tại phường An Thái, cửa Mậu Hòa ở phía Bắc huyện, đặt tại phường Mậu Hòa, Cửu Ngưu Cước (chăn trâu) ở phía Tây huyện, phía Nam giáp nguồn Tho Lay, đặt ở phường Mai Lộc19.

Cam Lộ nằm sát vùng biên giới với các nước láng giềng, nhà Nguyễn cho xây dựng hệ thống đồn, bảo nhằm tăng cường sự kiểm soát của nhà nước. Vua Minh Mạng nhận thấy tầm quan trọng của vùng đất Cam Lộ “từ Ai Lao đến Quảng Trị, đường đi không đầy 10 ngày, thật là một nơi quan yếu. Sau này nên mở mang ra, nhân chỗ hiểm, đặt đồn để làm hàng rào bên ngoài thì không ngoài 10 năm, người 9 châu sẽ đều là quân dân của triều đình cả20.

Sau khi triều Nguyễn được thiết lập, Gia Long cho lấy “cai đội mật sai là Nguyễn Văn Đàm quản dinh Ai Lao đạo Cam Lộ, lại lấy người thổ dân là Đào Văn Ký và Nguyễn Văn Lỗ làm cai đội, coi hạt đội Trung và Định theo Đàm đóng giữ21.

* Bảo Trấn Lao: “Nằm ở phía Tây huyện Thành Hóa, chu vi 90 trượng, cao 6 thước, mở hai cửa22. Năm Minh Mạng thứ 14 (1833), đã cho đắp một bảo ở địa phận tổng Làng Hạ gọi là bảo Ai Lao, lấy 50 lính cơ Định Man đến đóng thú. Tháng 10 năm 1854 bảo Ai Lao đổi làm bảo Trấn Lao. Năm Thiệu Trị thứ 2 triều đình lại đắp 1 bảo ở địa phận tổng Làng Liên về phía Bắc bảo Trấn Lao gọi là bảo Yên Man, chu vi 80 trượng, cao 5 thước, mở 2 cửa23, bảo này do lính ở cơ Định Man cùng thổ binh đóng giữ. Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) nghị chuẩn: “Địa phương các tỉnh từ Quảng Trị trở ra Bắc hạt nào là nơi đích thực quan trọng phải đặt thêm phái binh đóng giữ, đều do Tổng Đốc, Tuần phủ, Bố chính, Án sát tỉnh ấy trù tính làm tập tâu lên24.

Ở 2 bảo Ai Lao, Yên Man triều đình quy định cơ Định Man đóng giữ suất đội đều một viên, quân lính mỗi bảo 30 tên. Minh Mạng năm thứ 14 (1833) lại nghị chuẩn: “Thủ sở đồn Ai Lao, đường đi thông với Mán Lào, trước đây mỗi tháng trích lấy biền binh cơ Định Man đến đây hợp cùng biền binh đồn ấy phòng thủ. Nay phái một viên suất đội và 50 biền binh ở cơ ấy đến đóng giữ đồn ấy và chia đi tuần thám, mỗi tháng một lần thay phiên25.

Ngoài hai bảo Trấn Lao và Yên Man, triều Nguyễn cho thiết lập trên địa bàn Cam Lộ các đồn nhằm hỗ trợ cho các bảo trong việc bảo vệ biên giới. Đó là đồn Tĩnh Man và đồn Ngự Man.

Đồn Tĩnh Man được đặt dưới thời vua Minh Mạng, năm 1835 “đặt đồn Tĩnh Man thuộc Quảng Trị, 3 châu Ba Lan, Tầm Bồn, Mường Bổng thuộc phủ Cam Lộ…Phái 50 lính cơ Định Man đóng giữ, mỗi tháng một lần thay phiên nhau26.

Đồn Ngự Man được đặt dưới thời vua Thiệu Trị năm 1843 “ở cuối địa giới Làng Sen (thuộc huyện Hướng Hóa), phái quân đóng để canh giữ, gọi tên là đồn Ngự Man”. Vua sai đặt đồn Ngự Man ở tỉnh Quảng Trị vì 9 châu thuộc phủ Cam Lộ thường bị bọn Lạp Man sang lấn cướp. Tự Đức năm thứ 3 (1850) chuẩn y: Hai bảo Ai Lao, Yên Man, mỗi bảo nguyên phái biền binh cơ Định Man đóng giữ nay mỗi bảo vẫn lưu lại một viên suất đội và 30 biền binh, để đủ giúp việc phòng thủ. Lực lượng cơ Định Man được biên chế, chia thành các đội, thay phiên nhau canh giữ các đồn, bảo. Số quân đội bố trí ở các đồn không cố định mà thường xếp đặt theo vị trí của từng đồn. Mỗi đội quân gồm 40 – 50 người đóng giữ, nhưng khi có sự cố xảy ra thì lực lượng tăng lên do quân tỉnh và quân triều đình phái đến. Lực lượng đóng giữ ở đồn Tĩnh Man được triều đình quy định: Trích lấy những dân ở những làng phụ cận, quy bổ vào cơ Định Man, phân phái phòng giữ, cứ một tháng một lần thay đổi (trích ra những binh đinh ở các thôn phường thuộc 6 xã: Bích Giang, Cam Đường, Phú Ngạn, An Khê, Thanh Khê, Mai Đàn Thượng, cùng các dân khỏe mạnh ở trong các làng, quy thu vào làm 5 đội: 6, 7, 8, 9, 10 trong cơ Định Man, hiệp với các đội trong cơ ấy từ đội thứ nhất đến đội thứ 5 cho đủ 10 đội, phân phái đóng đồn canh giữ27.

Ngoài hai đồn Tĩnh Man và Ngự Man ở đạo Cam Lộ, ở Quảng Trị triều Nguyễn còn cho thiết lập đồn Ba Thung. Vào năm 1866, Nguyễn Quýnh xin đặt một đồn Ba Thung tỉnh Quảng Trị (cách Thành Hóa một ngày đường), phái quan quân đóng ở đấy, chiêu tập dân đến ở. Quan viện cơ mật cho là chỗ ấy gần với nước Cao Miên, làm đồn đóng quân, không khỏi làm cho nước ấy nghi ngờ, xin xét tình thế khuyên mộ dân, mở mang dần dần, đợi khi quả thực dân tình vui theo, người Man không ngờ mới nên đi kinh lý. Vua bảo rằng: Trước Nguyễn Văn Tường cũng xin làm việc ấy, tất phải làm theo lời nói, chuẩn cho làm bang biện huyện Thành Hóa để làm việc, cấp cho ấn “khâm phái quan phòng” cho được tự ý tư tâu28.

Như vậy, việc thiết lập hệ thống đồn, bảo ở Quảng Trị mà đặc biệt là vùng Cam Lộ đã cho thấy sự quan tâm của các vị vua triều Nguyễn đến vấn đề kiểm soát vùng đất biên giới. Nhà Nguyễn thường xuyên cắt cử quân đội tuần tra, giám sát, bố phòng, xây dựng hệ thống thành, đồn, bảo làm nhiệm vụ canh phòng và bảo vệ biên giới. Việc thiết lập các đồn, bảo một cách có hệ thống, tổ chức chặt chẽ, tạo nên thế vững chắc trong công cuộc phòng thủ đất nước ngăn chặn được nạn ngoại xâm, góp phần quản lý vùng đất “xa xôi” với triều đình.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

 

 

1.     Đào Duy Anh (1994), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Thuận Hóa, Huế.

2.     Ban chấp hành Đảng bộ huyện Cam Lộ (2003), Lịch sử Đảng bộ huyện Cam Lộ (1830 – 2000), Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội.

3.     Đỗ Nguyễn Bình (2003), “Khảo sát một số thành, lũy cổ ở Quảng Trị”, Tc NCLS (6), tr. 15-23.

4.     Nguyễn Đức Châu, Nguyễn Tuấn Chung (1994), Ông cha ta bảo vệ vùng biên giới, Nxb Công An Nhân Dân, Hà Nội.

5.     Trần Bá Đệ (2008), Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

6.     Địa chí Quảng Trị (1996), Sở Khoa học – công nghệ và môi trường tỉnh Quảng Trị xuất bản, Đông Hà.

7.     Lê Quang Định (2005), Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Phan Đăng dịch Nxb Thuận Hóa, Huế.

8.     Hoàng Văn Lân, Ngô Thị Chính (1976), Lịch sử Việt Nam (1858 – cuối XIX), Quyển 3, Tập 1, Nxb Giáo dục.

9.     Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Trị (1996), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

10.                        Ngô Sĩ Liên (2004), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1 và tập 2, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.

11.                        Đỗ An Ninh (1993), Thành cổ Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội.

12.                        Nội các triều Nguyễn (2005), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (T2), Nxb Thuận Hóa, Huế.

13.                        Nội các triều Nguyễn (2005), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (T5), Nxb Thuận Hóa, Huế.

14.                        Nội các triều Nguyễn (2005), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (T8), Nxb Thuận Hóa, Huế.

15.                        Nội các triều Nguyễn (2005), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (T9), Nxb Thuận Hóa, Huế.

16.                        Nội các triều Nguyễn (2005), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (T10), Nxb Thuận Hóa, Huế.

17.                        Nội các triều Nguyễn (2005), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (T11), Nxb Thuận Hóa, Huế.

18.                        Nội các triều Nguyễn (2005), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (T13), Nxb  Thuận Hóa, Huế.

19.                        Nội các triều Nguyễn (2005), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (T15), Nxb Thuận Hóa, Huế.

20.                        Nguyễn Phan Quang (2002), Việt Nam thế kỷ XIX (1802 - 1884), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.

21.                        Quốc sử quán triều Nguyễn (1964), Đại Nam nhất thống chí tỉnh Quảng Bình-Quảng Trị, Tu Trai - Nguyễn Tạo dịch, Nhà văn hóa Bộ Quốc gia giáo dục, Sài Gòn.

22.                        Quốc sử quán triều Nguyễn (1992), Đại Nam nhất thống chí, bản dịch, tập 1, Nxb Thuận Hóa, Huế.

23.                        Quốc sử quán triều Nguyễn (1992), Đại Nam nhất thống chí, bản dịch, tập 9, Nxb Thuận Hóa, Huế.

24.                        Quốc sử quán Triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục (T1), Nxb GD, Hà Nội.

25.                        Quốc sử quán Triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục (T2), Nxb GD, Hà Nội.

26.                        Quốc sử quán Triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục (T3), Nxb GD, Hà Nội.

27.                        Quốc sử quán Triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục (T4), Nxb GD, Hà Nội.

28.                        Quốc sử quán Triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục (T5), Nxb GD, Hà Nội.

29.                        Quốc sử quán Triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục (T6), Nxb GD, Hà Nội.

30.                        Quốc sử quán Triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục (T7), Nxb GD, Hà Nội.

31.                        Quốc sử quán Triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục (T8), Nxb GD, Hà Nội.

32.                        Quốc sử quán Triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục (T9), Nxb GD, Hà Nội.

33.                        Nguyễn Trãi (1960), Dư địa chí, Phan Huy Tiếp dịch, Nxb Sử học, Hà Nội.

34.                        Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Trị (2010), “Kỷ yếu hội thảo khoa học Thành Tân Sở với phong trào Cần Vương, Cam Lộ”, tại Quảng Trị.

35.                        Nguyễn Cửu Sà (1995), “Tư liệu địa chí”, Tc Cửa Việt (10).

T.T.N

 


1 Quốc sử quán Triều Nguyễn (2007) Đại Nam thực lục,  (Tập 2), Nxb GD, Hà Nội,  tr.263.

2 Đại Nam thực lục, sđd, (Tập 4), tr.670.

3 Đại Nam thực lục, sđd, (Tập 4), tr.908.

4 Đại Nam thực lục, sđd, (Tập 5), tr.907.

5 Đại Nam thực lục, sđd, (Tập 5), tr.959.

      6 Nội các triều Nguyễn (2005), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (Tập 9), Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.262.

7 Đại Nam thực lục, sđd, (Tập 7), tr.249.

8 Đại Nam thực lục, sđd, (Tập2), tr.462.

9 Đại Nam thực lục, sđd, (Tập2), tr.535.

     10 Đại Nam thực lục, sđd, (Tập2), tr.609.

11 Đại Nam thực lục, sđd, (Tập 8), tr.182.

      12 Đại Nam thực lục, sđd, (Tập 8), tr.136

13 Đại Nam thực lục, sđd, (Tập 7), tr.902.

14 Đại Nam thực lục, sđd, (Tập 7), tr.1040.

      15 Đại Nam thực lục, sđd, (Tập 9), tr.44.

16 Nguyễn Cửu Sà (1995), “Tư liệu địa chí”, Tc Cửa Việt (10), tr. 62.

17 Đỗ An Ninh (1993), Thành cổ Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội, tr.135-136.

     18Nguyễn Đức Châu, Nguyễn Tuấn Chung (1994), Ông cha ta bảo vệ vùng biên giới, Nxb Công An Nhân Dân, Hà Nội, tr.225.

19 Quốc sử quán triều Nguyễn (1992), Đại Nam nhất thống chí, bản dịch, tập 1, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.173.

20 Quốc sử quán Triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục (Tập 1), Nxb GD, Hà Nội, tr.801.

21 Đại Nam thực lục, sđd (Tập 1), tr.465.

22 Đại Nam nhất thống chí, sđd (Tập 1), tr.173.

      23Đại Nam nhất thống chí, sđd (Tập 1), tr.174.

24 Hội điển, sđd, (Tập 10), tr.430.

      25 Hội điển, sđd, (Tập 10), tr.383.

     26 Đại Nam thực lục, sđd, (Tập 4), tr.809.

     27 Đại Nam thực lục, sđd, (Tập 6), tr.480-481.

     28 Đại Nam thực lục, sđd, (Tập 7), tr.1030.

 

Trần Thị Nga
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 246

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

18/04

25° - 27°

Mưa

19/04

24° - 26°

Mưa

20/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground