Xa quê
30 - 8 - 1967: Sáng, trời im ắng, không có tiếng máy bay. Tôi khoác gùi trên vai (Túi vải Bố tự may tay có rút một đầu miệng, 2 đáy có 2 dải quai thắt lên miệng túi để khoác lúc đi đường) trong đựng một bộ áo quần xanh dài, một bộ áo quần lót đen đều do bố mẹ tự cắt may bằng tay, 1 khăn dù nguỵ trang may chéo nhuộm xanh bằng lá mướp, lá bàng; một tấm ni lon xanh học sinh và 4 túi lương khô làm từ 2kg đậu nành, ống tre đựng nước và 1kg đường cát vàng được phát theo chế độ K8, 1 gói muối mè.
Bố mẹ đứng trước cửa hầm tiễn tôi lên đường; mẹ nước mắt ngắn dài tức tưởi dặn dò vì tôi con út lần đầu xa quê. Bố im lặng không nói gì, nhưng bằng trí tuệ non nớt của mình, tôi biết ông muốn nói rất nhiều.
Tôi vẫn ngây thơ tự nhiên, cứ nghĩ rằng: Mình và các bạn sẽ được ra Hà Nội bằng ô tô, gặp Bác Hồ, sang Trung Quốc ăn học tập trung để về quê xây dựng, kiến thiết; ở những chỗ đó không hề có: Bom tọa độ, B52, nhà cháy, người chết vì bom đạn Mỹ, pháo sáng Mỹ suốt cả ngày đêm, không có chuyện ăn dưới hầm địa đạo... Nói tóm lại tuổi thơ ăn học của chúng tôi sẽ hoàn toàn sung sướng; để bố mẹ, anh chị ở nhà đánh thắng giặc Mỹ. (Đó là những điều mà chúng tôi được nghe phổ biến 1 lần trước khi lên đường)
Theo chân anh Phước (anh hai của tôi) anh cả hy sinh ngày 29 - 5 - 1965 khi tiếp tế Cồn Cỏ; anh ba phải đi học sớm, nhưng cũng không được phép tiễn tôi vì hai năm nay đã có quy định: Anh em ruột không được đi chơi với nhau; đêm ngày không được ở chung một hầm trú ẩn cùng nhau, ăn uống phải được cha mẹ tiếp tận ở hầm sơ tán để tránh rủi ro... Tôi đi ngang qua nền nhà đắp đất sét còn mấy viên đá táng, cây bàng kỷ niệm gãy cành, vẫn còn lá xanh. Nhà tôi bị cháy hai lần do bom Napan, bom cháy, nền còn đen kịt tro khói, đến nơi tập trung
Chúng tôi tập trung tại hầm hội trường HTX; cả thôn lần này khoảng 20 đứa, toàn học sinh cấp 2. Cấp 1 và lớp nhỏ đã đi từ trước.
Anh Trái phụ trách phổ biến quy tắc đi đường: mỗi tốp 6 - 7 đứa đi cách nhau 50m. Đoạn từ nhà lên Vĩnh Tú khoảng 6 - 7 cây số, đi bộ băng qua đồi cát, men theo các mô cát và giao thông hào để phòng máy bay. Đi hộ tống lớp tôi trên suốt chặng đường ra Bắc sẽ có chị Thiềm, cán bộ Thanh niên.
Xốc gùi lên vai, chúng tôi lên đường, tạm biệt từng gốc cây, ngọn cỏ, đi qua các dãy hầm sơ tán, đi qua nhà hầm lớp học, nơi gắn bó tuổi thơ suốt gần 3 năm bom đạn ác liệt, đi qua những hố bom địch thả xuống quê hương còn mới nguyên mùi thuốc súng, những cây dương bị mảnh bom phạt gãy la liệt, những đám rừng bị cháy còn nóng hổi tro than: còn rất nhiều những quả bom bi chưa nổ, những quả đạn pháo 20ly còn nằm rải rác trên mặt đất, những mảnh bom, pháo. Mấy đứa con gái bắt đầu thút thít. Lúc này cái cảm giác xa nhà mới ập đến trong tôi, tuy nhiên đi bên cạnh còn có anh trai nên tôi vẫn thấy vững tâm, những bước chân đã bắt đầu cảm thấy nặng nề.
Đúng vậy, khoảng hơn nửa tiếng đi bộ, hết phần đất cát địa giới quê hương, qua xã bạn Vĩnh Trung; anh Phước dừng lại, cúi xuống ôm lấy vai tôi nói nhỏ:
- Út đi mạnh khoẻ, gắng ngoan, học giỏi nghe. Eng về!
Rồi đưa cho tôi cái gói ni lông mà anh xách suốt chặng đường, tôi không biết gói gì? Anh tiếp: Eng cho út đôi giày để đi đường!
Té ra anh âm thầm đi mua cho tôi đôi giày, đợi khi tôi lên đường mới đưa cho. Tôi chỉ biết cúi đầu im lặng, và nhìn theo cái dáng cao cao của anh quay đi, không nói được gì. Tôi có ngờ đâu từ đó, tôi mãi mãi không gặp lại người anh thân yêu của mình. Anh hy sinh ngày 7 - 5 - 1968 trong khi đi vào miền Nam bắn tỉa địch tại đồi 31.
Trận bom đầu tiên
Khá trưa, sau khi lội qua khe cạn trên bàu Thủy Ứ, chúng tôi đến Vĩnh Tú. Nhóm của tôi được bố trí ở trong một phòng học. (Cũng là một loại hầm trú ẩn rộng, đào sâu xuống đất, khá kiên cố, bố trí cho một lớp học khoảng 20 học sinh. Bốn góc là 4 hầm chữ A nối thông 4 phía hào giao thông vừa là cửa ra vào). Anh Trái đi đâu đó một chốc rồi lại chia tay chúng tôi ra về. Tôi đòi về cùng anh, anh không cho. Anh nói:
- Út ra Bắc học hành cùng bạn bè, nhớ luôn viết thư cho gia đình nghe!
Lát sau, một chị dân quân gánh cơm đến cho chúng tôi ăn trưa chị dặn:
- Nếu có chuyện chi, các út xuống hầm, gần đây có địa đạo nối với giao thông hào, không được đi mô hết. Đến chiều phải trực ở đây để giao liên dẫn đi!
Đối với chúng tôi, tiếng máy gầm rú, bom pháo ở xa đã trở thành quen thuộc suốt 3 năm nay, từ sáng đến giờ, chúng tôi có để ý gì đâu. Chờ khi nào chúng có hiện tượng quần đảo để đánh phá ngay nơi mình ở thì mới tính chuyện trú ẩn. Ở Vĩnh Linh, suốt từ 8 - 2 - 1965 đến nay, không có ngày đêm nào ngớt tiếng máy bay, bom pháo giặc Mỹ. Tuy là học trò, chúng tôi cũng đã quen với việc xác định rằng: mặc xác chúng, việc ta, ta cứ làm!
Bất ngờ, tiếng máy bay gầm rú rất lớn và một loạt bom nổ rất gần. Chúng tôi hoảng hốt chui vào một cái hầm. Căn hầm chao đảo, đất rơi lả tả. Tiếng súng 12,7 ly, trung liên của dân quân bắn trả máy bay nghe choang choác, tưởng chừng như ngay bên cạnh. Trận đánh phá vẫn tiếp tục diễn ra dữ dội, ngồi trong hầm không yên tâm, chúng tôi bàn nhau: Có lẽ bọn mình bị lộ nên hắn đánh gần lắm! Phải sơ tán ra xa vùng ác liệt thôi!
Thế là, tuy sợ hãi, cả bọn lục tục kéo ra khỏi hầm trong tiếng máy bay gầm rú, bom đạn nổ ầm ầm; men theo dãy giao thông hào cao gấp đôi con người, chúng tôi nhằm hướng máy bay không đánh mà sơ tán ra xa. Một lúc, chừng đã xa nơi địch oanh tạc và gặp một chiếc hầm, chúng tôi vội cùng nhau chui vào, đứa nào cũng run, áo quần lấm lem bụi đất đỏ. Thoát hiểm! Trận oanh tạc của bọn Mỹ kéo dài cả tiếng đồng hồ.
Chuyến xe đầu đời
Khoảng 3 - 4 giờ chiều, lúc này trên bầu trời Vĩnh Tú yên tĩnh hẳn. Chúng tôi cũng hoàn toàn yên tâm bảo nhau men theo giao thông hào về nơi tập kết lúc sáng: Ngôi nhà hầm lớp học. Mới định tâm một lát, chị Thiềm và thầy Hải hớt hơ chạy tới:
- Các em đi mô, để thầy và chị Thiềm tìm cả buổi!
Thì ra trong lúc bom đạn tơi bời, học sinh tứ tán thầy và chị quên cả bản thân, chạy đi tìm cả bọn chúng tôi để đón về nơi an toàn. Chúng tôi sơ bộ kể về việc cả bọn đã làm trong lúc địch oanh tạc. Thầy Hải khen:
- Các em sáng kiến sơ tán ra chỗ an toàn là tốt. Nhưng địch đánh xong phải quay lại đây ngay để mọi người tìm cho mau. Cả đoàn ta đã đông đủ, thiếu tốp các em nên ai cũng lo.
Thầy trò, rời căn hầm lớp học, tiếp tục đi dưới hào đến chỗ tập trung.
Khẩn trương ăn vội cơm chiều, được phát thêm mỗi đứa một nắm dự phòng, đổ đầy nước uống vào ống tre đã chuẩn bị sẵn từ nhà. Lại vội vã từng tốp một, hành quân ra phía rìa làng, nơi có rặng trâm bầu khá tốt (cây trâm bầu) để lên xe. Trời cũng vừa chạng vạng. Đoàn chúng tôi leo lên một chiếc xe phủ đầy lá nguỵ trang. Tiễn chúng tôi có một số cô, chú cán bộ, trong đó có ông Sơn (tôi gọi bằng cậu thúc bá) cùng làng, làm y tá ở Huyện.
Lúc này, cảm giác sợ hãi trong chúng tôi tan biến, đặc biệt là con trai. Lần đầu tiên được đi xe ô tô, đứa mô cũng phấn chấn, tuy không nói ra lời, nhưng trên gương mặt, tôi biết các bạn rất vui. Học trò mới học về ô tô qua bài vở, thấy ô tô các chú công an vũ trang, các chú bộ đội thi thoảng kéo pháo qua bãi cát quê hương chứ có được ngồi trên xe đâu. Chúng tôi cũng không ngờ, thử thách ác liệt đang chờ cả đoàn ngay trong chuyến xe này. Thầy Hải, chị Thiềm nét mặt đầy lo lắng.
Chuyến xa quê hương đầu tiên, dài nhất trong đời tôi bắt đầu. Ngày hôm nay tôi 11 tuổi 4 tháng 7 ngày, ra Bắc sẽ học lớp 5 hệ 10 năm. Mãi 6 năm sau chúng tôi mới trở về quê hương.
Qua “cửa tử”
Đúng như sự lo lắng của thầy Hải, chị Thiềm, trước lúc xuất phát, hai chú lái xe nói với thầy trò chúng tôi:
- Đoàn của chúng ta đêm nay phải vượt qua Dốc Sỏi và một cung đường rất nguy hiểm, ác liệt do máy bay địch thường xuyên oanh tạc. Cho nên, yêu cầu thầy cô và các cháu hết sức bình tĩnh, tuyệt đối phải làm theo lệnh của anh em tôi. Không ai được rời khỏi xe khi chưa được lệnh của lái xe.
Xe bật đèn gầm, chậm chạp tiến ra đường chính để lên đường. Lúc này, bầu trời Vĩnh Linh thân yêu của chúng tôi đây đó vẳng lại tiếng bom, pháo sáng địch thả khắp nơi, nhưng nơi chúng tôi xuất phát thì vẫn yên tĩnh. Chúng tôi hiểu rõ tính nghiêm trọng của chuyến đi, nên tất cả đều trầm lắng; tâm trạng ai cũng chờ đợi một sự hiểm nguy có thật đang đến gần, gần lắm. Tuy là con nít, nhưng chúng tôi có đủ kinh nghiệm ba năm ở Vĩnh Linh để hiểu rất rõ lời căn dặn của các chú lái xe.
Ngồi trầm lắng sau thùng xe, tôi suy nghĩ miên man. Lúc này ở nhà chắc bố, mẹ nhớ tôi lắm, anh Hai thì đi trực chiến dân quân, anh Ba đi ngủ sơ tán hầm khác như mọi khi. Bố xuống biển cùng đội sản xuất đi đánh cá ban đêm một mình mẹ ở nhà càng buồn vì vắng tôi. Không biết bà bác có cùng sang ngủ với mẹ như mọi khi không?
...Bất ngờ, cả bầu trời rực sáng như ban ngày, cùng với tiếng ầm ào máy bay địch gầm rú, pháo sáng giăng đầy trời. Cả đoàn xe chúng tôi như phơi giữa mặt đường. Rồi bom: đằng trước, đằng sau hai bên xe đều loang loáng chớp bom và tiếng bom rung chuyển cả mặt đất. Chiếc xe chao đảo, tiếp tục bò đi trong ầm ào của trận bắn pháo. Chẳng biết đất đá hay mảnh bom va vào thành xe bôm bốp, choang choác. Đạn cao xạ bắn trả máy bay từng vồng, từng luồng bay lên đỏ trời.
Bọn con gái nhiều đứa sợ hãi khóc thét, bọn con trai đứa nào cũng run. Thầy Hải, chị Thiềm luôn miệng động viên: Các em bình tĩnh, các chú lái xe sẽ đưa chúng ta qua chỗ ni an toàn!
Có khi đang chạy xe đột ngột phanh gấp, thế là chúng tôi bị dồn tấp vào nhau, nhưng không đứa nào dám kêu. Có lúc, xe tăng tốc, vọt mạnh tới trước, chúng tôi lại nhào ngửa ra sau. Có lúc chú phụ lái nhoi lên phía trước kêu to:
- Thầy, cô và các cháu bình tĩnh, các chú có chết thì các cháu mới chết! Phải yên tâm!
Chúng tôi chỉ trông vào số phận và sự tài giỏi của các chú lái xe. Cứ như thế, đoàn xe vật vã chạy qua “cửa tử” (sau này, chúng tôi mới biết cung đường ác liệt đó chính là “cửa tử”, đã có một chuyến xe chở học sinh K8 bị hy sinh tại cung lửa này). Địch thả hết bom to, rồi đến bom bi. May thay xe chúng tôi cùng cả đoàn không bị gì hết. Chỉ liên tục hứng chịu trận mưa đất, đá và mảnh bom rơi vào thành xe nghe rợn cả người.
Bỗng, có một vệt đèn pha chiếu thẳng lên trời, một chiếc xe con ở đâu đó lao tới với vệt sáng chói ấy, vun vút phóng qua trận đánh, vượt qua bom đạn tách khỏi mặt đường cứ thế vọt đi. Chúng tôi chưa kịp định thần thì chú lái phụ lại nhô lên trước thùng xe, hét to:
- Xe hộ tống đó! Không can chi mô! (sau này chúng tôi mới biết chiến công của những chiến sĩ lái những chiếc xe hộ tống trong chiến dịch K8 vĩ đại ấy, các chú ấy đáng được phong anh hùng).
Quả nhiên, máy bay địch mắc lừa đuổi theo đánh xe hộ tống. Cả đoàn xe chúng tôi tranh thủ tăng tốc, băng qua “cửa tử” chạy theo hướng Bắc, thoát ra đến vùng an toàn. Lại một lần thoát hiểm, cả thầy trò không ai bảo ai đều thở phào! Hú hồn, hú vía!.
- Các chú lái xe tài thật. Thầy Hải, chị Thiềm hỏi: - Có em mô can chi không?
- Không có ai bị xây xát do đất đá và mảnh bom địch. Cành nguỵ trang và vải bạt có tác dụng che chắn khá tốt, nên chúng tôi được an toàn.
Đi bộ qua đêm
Vượt “cửa tử” khá lâu, xe dừng lại ở một xóm nhỏ ven đường, chúng tôi không biết là đâu. Thầy trò lục tục xuống xe, xốc lại hành lý, tranh thủ dốc nước trong ống tre uống lấy hơi. Tôi quên mất nắm cơm bỏ trong gói lá rơi lại trên xe. Mặc kệ! An toàn là tốt rồi! Tập hợp cả đoàn trong bóng tối nhờ nhờ, thầy Hải phổ biến lệnh giao liên:
- Bám sát vào nhau, khẩn trương đi nhanh suốt đêm, không được ngủ, cẩn thận đừng đi xa nhau quá một mét kẻo lạc!
Lại một nỗi sợ hãi mới lạc trong đêm tối, thế là chúng tôi gần như níu áo nhau, lôi nhau đi trong đêm tối, tiến lên phía trước, trong tiếng chó sủa râm ran, inh ỏi. Một lúc, có tiếng ồn ào phía trên, chúng tôi theo nhau ào tới. Thì ra, một bạn gái trong đoàn một chân bị sa xuống hố cá nhân; sái khớp không thể đi tiếp. Giao liên và thầy giáo tìm lãnh đạo địa phương gửi nhờ, điều trị tại bệnh xá để đuổi theo đoàn sau trên chặng đường nghỉ tiếp theo. Cứ đi như thế suốt đêm, đôi mắt trẻ thơ của chúng tôi buồn ngủ, có lúc díp lại, ngủ vật vờ trên chặng đường đi, nhưng vì sợ, chẳng đứa nào còn tâm trí để ngủ liền cho thoả thích nên cứ bám theo đoàn. Thi thoảng chúng tôi dốc nước trong ống ra uống và rửa mặt cho đỡ buồn ngủ. Xa xa, tiếng bom pháo ì ùng suốt đêm, pháo sáng trông xa cứ vật vờ như ma trơi. Chốc chốc, những phía ấy, từng luồng đạn pháo cao xạ bắn máy bay vun vút rạch trời đêm.
Cứ đi như thế suốt đêm, rạng sáng chúng tôi đến một bến đò. Lại phải tản ra các bụi cây, hầm hố và giao thông hào xung quanh để chờ đò và phòng máy bay địch đánh. Chúng tôi ngồi vạ vật trên mặt đất, có đứa tranh thủ nhai cơm nắm, có đứa mệt quá kê đầu lên gùi ngủ ngay trên mặt đất. Tôi rất mệt, rất buồn ngủ nhưng không dám ngủ, cũng chẳng còn cơm nắm, nên lấy gói lương khô ăn mấy muổng, uống nước, rửa mặt, rồi men lại chỗ chị Thiềm gần đó, tôi hỏi:
- Bến đò mô đây chị!
Chị trả lời:
- Nghe nói, bến đò Mẹ Suốt!
Thì ra, cái bến đò nổi tiếng với Mẹ Suốt anh hùng mà chúng tôi đã được kể, đọc nhiều chính là nơi đây!
Nhìn mặt nước sông ban mai phẳng lặng, quan sát vẻ mệt mỏi tội nghiệp của các bạn sau một đêm hiểm nguy vất vả, tôi lại càng thêm nhớ biển quê hương và nhớ nhà da diết... Cũng là lần đầu tiên trong đời tôi trải qua một nỗi gian truân nhớ đời như vậy. Dẫu suốt ba năm, không đêm ngày nào quê hương vắng tiếng đạn bom và nhà tôi bị cháy tới hai lần.
Đến Nghĩa Ninh
Đò đến, chúng tôi lục tục gọi nhau dậy xuống bến, sang sông. Cả đoàn đi trên 3 chiếc đò cách khoảng nhau. Đây cũng là lần đầu tôi được thấy sông và đi đò. Không có cái cảm giác chếnh choáng, say như lúc 6-7 tuổi được bố cho đi biển đánh cá: Tôi bị say sóng, ngủ li bì, chẳng ăn uống được gì cả.
Đò cập bến, lại hối hả lên bờ, khẩn trương chạy gắng theo giao liên để thoát khỏi vùng trọng điểm, đề phòng máy bay địch đến đánh. Lại một phen cùng nhau chạy bộ, nhưng đi giữa ban ngày.
Sau khi đi qua một số làng xóm của vùng Lệ Ninh, có lúc phải qua một con sông hẹp trên chiếc cầu làm bằng một thân cây, một bên có tay vịn bằng tre, rất khó đi. Tôi chưa biết bơi nên rất sợ, nhỡ bị tỏm xuống sông thì khốn; có lúc phải gần như bò trên cầu mà đi. Khá trưa, đoàn chúng tôi đến xã Nghĩa Ninh, trạm dừng chân đầu tiên trên chặng đường thiên lý ra Bắc.
Nhóm chúng tôi lại được bố trí nghỉ tại một phòng học. Cũng hào đất bao xung quanh lút đầu người; cũng hai bên có hầm trú ẩn kiểu chữ A như ở quê nhưng mái lợp tranh tre chứ không đắp đất dày và hầm thì cột kèo chủ yếu cũng bằng tre nên không chắc chắn như ở nhà. Vùng này, máy bay địch chưa đánh nên khá an toàn. Chúng tôi ăn vội vàng cơm trưa nhà tạm ở gần đó rồi tản về phòng học, mỗi đứa một ghế (được ghép bằng các thân tre với nhau) kê gùi ngủ ngay sau một chặng đường gần hai ngày đêm đầy hiểm nguy và khó nhọc, chẳng đứa nào nghĩ đến chuyện nhớ nhà hay tắm rửa cho mình.
Ngủ mãi đến chiều, chúng tôi cùng nhau thức dậy, ra bến con sông hẹp gần chỗ tắm rửa, xong tiếp tục về nhà ăn cơm tại nhà bếp của trạm. Tối, cùng nhau nằm ngủ tại lớp học. Lúc này, thầy Châu hiệu trưởng phụ trách chung hai đoàn đến ngủ với chúng tôi (đến đây chúng tôi mới biết lứa học cấp II của xã đi đợt này có hai đoàn, do thầy Hiệu trưởng lãnh đạo). Trong ánh trăng nhờ nhờ lọt vào mái tranh, tôi nằm im lặng và nhớ nhà da diết. Chắc là bọn bạn xung quanh đứa nào cũng thế, vì tất thảy đều im lặng, thi thoảng có đứa lại trở mình và thở dài hắt ra. Đêm còn khá sớm, nên đứa nào cũng thức, thầy Châu chắc cũng mệt nên không kể chuyện động viên chúng tôi nữa. Nước mắt tôi lã chã rơi, nhưng tôi không dám khóc thành tiếng; nỗi nhớ gia đình làm tôi không nín được (tôi là con út, gia đình chiều lắm). Lúc này, chỉ cần tôi hoặc đứa bạn nào đó khóc lên thì thầy Châu không thể nào dỗ được cả bọn. Chúng tôi đang miên man như thế, thì từ phía cửa vào có tiếng nói chuyện và một tốp bốn anh chị thanh niên bước vào mang theo cả một luồng ánh trăng cùng ùa vào lớp. Một chị giới thiệu:
- Chúng tôi ở trong đội văn nghệ xung kích xã Nghĩa Ninh, xin phục vụ thầy giáo và các em một số tiết mục.
Chẳng cần đàn sáo gì, các anh, chị hát hò ngay; cả những bài hát mà chúng tôi đã được nghe lẫn dân ca Bình Trị Thiên. Thầy trò chúng tôi đều vỗ tay tán thưởng. Thầy Châu nói: - Các em không ai tham gia tiết mục mô với anh, chị à!
Thế là, trong tư thế nằm trong cùng (tôi nằm gần một nửa hầm) tôi hát, bài: “Người nữ du kích Củ Chi” tôi học được ở đài (Anh tôi phụ trách văn hoá xã, được trang bị một đài ô-ri-ông-tông để tuyên truyền).
Hát xong các anh, chị cũng vỗ tay cảm ơn chào ra để đi phục vụ nơi khác trong đêm. Thầy trò chúng tôi còn lại với nhau, thầy Châu nói:
- An hát được, nhưng trong giọng có nước mắt! Tôi biết thầy đã rõ chúng tôi vừa khóc bởi nhớ nhà. Gần sáng, chúng tôi bị dựng dậy bởi có tiếng máy bay. Địch đến thả một loạt pháo sáng, nhưng không ném bom. Chúng tôi vội vã xuống hầm. Hết tiếng máy bay và pháo sáng, lại lên nhưng không tài nào ngủ được nữa. Đứa nào cũng trằn trọc cho đến sáng ngày 2 - 9, ngày lễ Quốc khánh.
Một chuyến xe ngắn
Thế là chắc chắn, chỗ trú của đoàn chúng tôi đã bị lộ, nhưng cả ngày 2 - 9 vẫn im ắng do ngừng bắn nhân lễ Quốc khánh. Ăn cơm chiều xong, mới về chỗ trú, bỗng chúng tôi được lệnh khẩn cấp lên đường ngay. Cả bọn lại lốc thốc gói ghém hành lý, theo thầy Châu chạy vội lên chỗ tập trung cả đoàn. Chúng tôi đi rất nhanh một quãng khá xa, cũng chẳng rõ có phải lại đi bộ suốt đêm hay không nữa. Nhờ có trăng, chúng tôi bám theo nhau khá thuận lợi. Đi bộ như thế một lúc lâu, bỗng thấy trước mặt có con đường khá rộng và hai chiếc xe tải phủ đầy lá nguỵ trang nằm lù lù chờ sẵn. Chúng tôi đứa nào cũng mừng rơn vì thoát được đi bộ cả đêm, hơn nữa lại được đi ô tô.
Chia nhau hai đoàn lên xe, hai chiếc xe ô tô lặng lẽ lên đường. Tôi hiểu, lần xuất quân khẩn cấp này là để bảo vệ an toàn cho chúng tôi, nên việc rút khỏi Nghĩa Ninh một cách bất ngờ là điều vô cùng cần thiết. Đã quen với chiến tranh ba năm nay, chúng tôi rất rõ hậu quả của việc mục tiêu bị lộ như thế nào. Tôi còn nhớ, chuyến xe này khá yên ả, có trăng nên tôi có điều kiện quan sát (tôi vẫn chọn chỗ ngồi phía sau thùng xe) có lúc xe đi qua một đoạn đèo dốc khá cao và khá rậm, đường xe đi qua quãng này trăng tỏa thật là đẹp. Có một lúc, bỗng nhìn rõ mặt trăng phía sau, ban đầu tôi cứ tưởng là pháo sáng, sau định thần mới rõ.
Xe chạy rất lâu, nhưng không phải là suốt đêm. Bởi vì, khá khuya thì xe dừng bánh. Chúng tôi lại theo giao liên đi bộ một quãng thì được nghỉ lại ở một làng, tôi không rõ là đâu. Lại được chia theo tốp vào ngủ ở các nhà dân có hầm hẳn hoi. Chúng tôi được phát mỗi đứa một gói to bánh quy (loại lương khô nửa mặn nửa hơi ngòn ngọt, đối với chúng tôi rất khó ăn, loại một gói 5 lạng). Đến chỗ nghỉ, cả bọn chúng tôi cho lại bác chủ nhà, không đứa nào muốn ăn, mang đi thì nặng. Sau này, mới biết loại đó nếu nghiền mịn ra, trộn thêm đường thì được một thứ lương khô khá ngon. Nhưng chúng tôi có kinh nghiệm đâu; đến khi hết nhẵn lương khô mới rõ.
Lại đi bộ
Chỗ trú này cũng chỉ là trạm phụ qua đêm. Không khí bom đạn có phảng phất trên nét mặt người dân. Nhưng vùng này vẫn chưa bị đánh phá, bởi vì mọi ngôi nhà vẫn còn nguyên trên mặt đất. Tuy nhiên, chúng tôi cũng không được ở lại lâu, vì Quảng Bình lúc này đang là vùng khá ác liệt. Sáng ra, được ăn cơm thật sớm, mỗi đứa có thêm một vắt cơm nắm, chúng tôi lên đường. Đi bộ qua các làng mạc, có một lúc lại qua một vùng đồi cằn cỗi, lác đác nhiều bụi sim, me, đây đó lỗ chỗ hố bom, lại có dấu vết của các trận địa pháo phòng không. Những đoạn này, chúng tôi đều phải chạy cho mau, đôi chân học trò bé bỏng đạp lên sỏi đất rất đau, nhưng không ai kêu ca gì, chỉ biết cắm đầu mà bươn tới, vượt qua chỗ hiểm nguy. Đoàn học sinh rồng rắn đi trong trời đất nắng nhẹ, những chỗ phải chạy thì mấy đứa con gái đôi khi vấp ngã, chúng tôi dìu nhau dậy, lên đường. Từng quãng dài, giao liên cho nghỉ lại dưỡng sức một lúc lại đi tiếp! Cứ thế, đến quá chiều, sau khi vượt qua một đồng lúa xanh tươi, chúng tôi lại vào đến một làng. Làng này 100% lợp ngói, đỏ au, nhà cửa san sát, cứ như chẳng có liên quan gì đến chiến tranh cả. Chúng tôi được vào nghỉ tạm tại một ngôi trường lợp ngói ở rìa làng, sát cánh đồng lúa. Ngôi trường chỉ khác các nhà dân là xung quanh có đắp hào đất và có hai chiếc hầm trú ẩn chữ A bằng tre. Tôi cứ liên tưởng với câu hát “Quê hương chúng ta nhiều ngói mới..” ở bài “Quảng Bình quê ta ơi”.
Đứa nào đứa nấy trong bọn chúng tôi cũng bồn chồn, mong được nghỉ ngơi sau một ngày đi bộ mệt nhọc. Gần tối, bất ngờ có giao liên đến đưa chúng tôi vào làng. Không hiểu vì sao, chúng tôi bị chia nhỏ ra, cứ hai hoặc ba đứa vào một nhà dân nghỉ tạm. Tôi với Quy (bạn cùng học và cùng làng) được bố trí vào ở một nhà. Gia đình đang chuẩn bị ăn cơm tối, chúng tôi chào cả nhà rồi được dẫn đến một chiếc giường tre trong nhà, đủ chỗ cho hai đứa nghỉ. Chúng tôi quan sát thấy trước khi ăn cơm, cả gia đình đều có những động tác rất lạ, họ cứ lấy tay làm dấu từ trên đầu xuống. Tuy rất sợ, nhưng hai đứa tôi không dám hé răng nói gì với nhau. Về sau, chúng tôi mới được biết, bà con vùng này theo đạo Thiên Chúa, động tác họ làm trước khi ăn là cầu kinh. Việc chia nhỏ chúng tôi về nghỉ đêm ở các nhà dân có lẽ là biện pháp an toàn tốt nhất, nhưng vì là học trò con nít, chúng tôi đâu có biết các chuyện đó. Hai chúng tôi ôm nhau ngủ vùi trong nỗi sợ hãi vì những điều mới thấy.
Gần sáng, chúng tôi bị thức giấc vì tiếng gọi rất gấp. Thì ra, chú giao liên đến tìm và giục lên đường. Lúc này, về phía buồng bà chủ nhà cũng vang lên tiếng cầu kinh. Trong bóng tối mờ mờ và nỗi sợ hãi, cả hai đứa tôi quơ vội cái gùi dùng làm gối kê trên đầu, vọt ra sân theo chú giao liên. Đến chỗ tập trung mới biết, đoàn lại được lệnh khẩn cấp lên đường ngay khi trời còn đang tối. Tập hợp cả đoàn, điểm danh mới biết thiếu hai chúng tôi, giao liên vội vã đi tìm. Tôi lại một phen hú vía, lỡ mà họ quên thì không biết hai đứa chúng tôi sẽ ra sao; tôi cũng hiểu thêm tính khẩn trương của chuyến đi này qua những ngày vừa qua. Chỉ rất tiếc một điều, trong lúc vội vã, nỗi sợ của một đứa con nít, tôi bỏ quên đôi giày, vật kỷ niệm của anh Hai tôi; đồng thời là phương tiện giúp tôi rất lớn trong những ngày đi bộ đã qua, nhờ nó mà đôi chân của tôi chưa hề hấn gì. Đoạn đường sắp tới, chắc chắn tôi sẽ gặp khó khăn lớn đây (quả vậy, trong các đoạn đường đi bộ tiếp, vì không có giày dép nên tôi bị đau chân rất dữ, và mau thấm mệt).
Trận bom trước mặt
Chúng tôi lại bám theo nhau trong ánh sáng lờ mờ, băng qua cánh đồng, làng xóm. Qua các thôn xóm, tiếng động làm chó sủa inh ỏi. Chúng tôi cứ lặng lẽ đi, đi mải miết, chân dẫm lên đất đá, mắt mở căng bám theo người đi trước mà tiến lên. Tôi không còn xác định được thời gian là ngày nào nữa. Sau chuyến qua Nghĩa Ninh việc định ngày tháng với chúng tôi lúc này là đêm nghỉ, ngày đi bộ. Cái đích phải tới là chặng nghỉ, trạm nghỉ chân và được ngủ lấy sức.
Trời gần sáng rõ, đang hành quân, chúng tôi bỗng nghe tiếng máy bay gầm rít rất dữ dội. Ngay sau đó là ánh chớp loe loé và bom nổ đinh tai nhức óc ngay phía ngôi làng trước mặt, cách chỗ chúng tôi không xa. Tiếp sau đó, là những cột lửa bùng lên và các đám cháy cuồn cuộn lửa, tre nứa nổ choang choác. Cả đoàn tản vội ra xung quanh, gặp chỗ nào có thể trú ẩn tạm thì hối hả nép vào.
Một chốc sau, ngớt tiếng bom và máy bay địch. Các chú giao liên và thầy giáo tập hợp đội hình, phổ biến:
- Địch đánh vào làng trước mặt gần đây, trên đường chúng ta sẽ qua. Vậy, tất cả khẩn trương không được chậm trễ. Lập tức bám sát nhau, chạy thật nhanh vượt qua khu vực đó. Các em kiểm tra lại toàn bộ hành lý cho chắc chắn! Xuất phát!
Đã quen cảm nhận được sự nguy hiểm của vùng đang bị đánh phá, máy bay địch có thể quay lại bất cứ lúc nào. Cả đoàn chúng tôi cắm đầu cắm cổ chạy, có thể nói theo kiểu trẻ con là chạy thục mạng; đứa nào có sức nào chạy sức đó. Bọn con gái có nhiều đứa rớt lại, nhưng không hề kêu ca, cứ bám vào nhau mà vượt qua. Buổi ban mai mát mẻ là thế, nhưng làng này lại nồng nặc mùi thuốc bom, nhiều đám khói chưa bị dập tắt hẳn vẫn còn bốc lên, thi thoảng vẫn nghe tiếng tre nứa cháy nổ lốp bốp! Đâu đó, văng vẳng có tiếng người kêu khóc. Chúng tôi chẳng nghĩ ngợi gì nhiều, cứ thế chạy thật nhanh. Mục tiêu càng xa ngôi làng bị đánh càng tốt, bởi chính chúng tôi cũng đang là mục tiêu để bọn địch săn tìm và bắn phá. Dù cho đôi chân trần đau nhức và người mệt rã rời, tôi vẫn cố sức bám theo các bạn. Chúng tôi cùng nhau chạy như thế một lúc lâu mới được dừng lại, nghỉ tạm hồi sức rồi lại lên đường. Lúc này, vùng chúng tôi đang đi qua là vùng trung du, đất đai kiểu như vùng Vĩnh Chấp, Vĩnh Thuỷ của Vĩnh Linh bây giờ. Các dãy núi giăng giăng trùng điệp phía Tây đã thấy rất gần. Bàn chân bé nhỏ của chúng tôi nhiều đứa chẳng còn giày dép, giẫm lên đất sỏi, dưới ánh nắng miền Trung gay gắt, lổn nhổn đá cuội như nắm tay hoặc to hơn nữa, đã thấy nhức nhối lắm rồi. Một vài trường hợp đã có dấu hiệu khập khiểng bước đi, tốc độ hành quân đã chậm lại khá nhiều. Có lúc lại phải chạy gằn qua một bãi hố bom lỗ chỗ như mặt sàng. Địa hình đất đồi với tình hình như thế, làm cho chúng tôi mệt lã người. Nhưng cứ nghĩ tới mối nguy hiểm đang đeo bám trên mỗi bước đi, nên dù còn quá bé nhỏ (đứa nhỏ nhất 11 tuổi, đứa lớn 15 - 16 tuổi) so với yêu cầu của một chuyến đi như thế, chúng tôi vẫn kiên trì cùng nhau tiến tới. Cũng may là cho đến lúc này, không có thêm đứa nào bị rớt lại. Tôi cũng không hiểu có đoàn nào của Vĩnh Linh hoặc có cuộc hành quân nào tương tự như của chúng tôi hay không. Chỉ chắc chắn một điều là: Đây là một chuyến đi nhớ đời của bạn bè chúng tôi, là một kỷ niệm không bao giờ phai của cả cuộc đời tôi.
Trạm dừng chân qua đêm
Tôi không còn nhớ là chúng tôi đã nghỉ trưa thế nào, ăn cơm hay là lương khô trong ngày đi bộ hiểm nguy và mệt mỏi này. Chỉ nhớ rằng, buổi chiều sớm của hôm đó, cả đoàn được nghỉ lại ở một trạm dừng chân, cũng là một làng quê. Nhưng ở đây, nhà cửa có vẻ ra hàng lối khá đẹp, nhà lợp ngói chen lẫn nhà tranh. Đến nơi mới bố trí nghỉ thì trời đổ mưa. Sau đó, thầy giáo đến từng nhà, nơi các tổ tạm trú, ghi danh sách đề nghị bổ sung nón mũ đứa nào không còn cái đội đầu che mưa nắng thì được cấp. Nữ thì nón, nam thì mũ, tất cả đều làm bằng một loại lá chằm nón, khung tre. Tôi và một số bạn khác đề nghị cấp cho mỗi đứa một đôi dép hoặc giày, nhưng không có. Lúc này, ở Quảng Bình giày dép cung cấp kiểu ấy cũng rất hiếm. Chú giao liên và thầy giáo hứa sẽ xin đâu đó cho tôi một đôi giày hoặc dép cũ đi tạm, sau khi nghe tôi báo cáo lý do mất giày, (chẳng ai dại gì mà quẳng giày dép đi cả) trong đêm. (Đến nay tôi mới cảm nhận đầy đủ ý tứ của câu ngạn ngữ “Chạy mất dép” mà ông bà xưa đã đúc kết).
Chúng tôi được ăn cơm tối và lại được ngủ lấy sức một đêm thật yên tĩnh, bù lại quãng đường gian khổ vừa qua, sau khi đã được tắm rửa. Đây cũng là trạm tạm, tôi không nhớ tên, nhưng tôi biết thêm một điều hệ trọng: “Đoàn chúng tôi phải nhanh chóng vượt qua địa bàn Quảng Bình thật an toàn”...
N.H.A




