Ở Tam Đa
Thời gian chờ đợi ở Tam Đa khá lâu. Đợt này, mưa nhiều hơn, chúng tôi cũng được thông báo: Chưa có xe vì đường Đèo Ngang bị mưa lụt, không qua được!
Thế lại phải chờ đợi. Bọn chúng tôi rủ nhau đi hái tắt (một loại quả giống như quả quýt, nhỏ hơn quả chanh), chín vàng rất đẹp, nhưng ăn rất chua. Nhưng đứa nào cũng thích vì đó là trò tiêu khiển thời gian tốt nhất. Vùng này loại đó rất nhiều, chúng tôi hái, tối lại đưa đến trường cùng ăn với nhau. Không ngờ, đứa nào cũng đau bụng đi ngoài. Đến trạm xá xin thuốc Tô mộc uống mới đỡ. Nhưng vì nhiều đứa cùng đau bụng nên các thầy phụ trách đoàn có ý nghi ngờ. Một buổi tối, cả bọn chúng tôi đang ăn quả tắt với nhau trong hầm tại lớp học, bất ngờ thầy Hải, thầy Ba vào kiểm tra. Chúng tôi phải thú thật chuyện cả bọn. Từ đó, bị cấm không được ăn nữa và chúng tôi cũng hết đau bụng. Một hôm, chú trạm trưởng đưa cho tôi 2 chiếc giày cũ, cũng 2 chân nhưng mỗi chiếc một đôi khác nhau, chú nói:
Nghe thầy giáo nói cháu bị mất giầy, đi bộ đau chân dữ. Chú kiếm được 2 chiếc giầy cũ, cháu mang đi tạm cho đỡ!
Tôi cảm động, cảm ơn chú, rồi ướm thử, 2 chiếc giầy có hơi rộng một chút nhưng có quai cột lại cũng đi tốt. Thế là tôi lại có một đôi giày để đi tiếp những chặng đường khó khăn. Chính nhờ đôi giày khập khiễng ấy mà tôi có thể an toàn để đi bộ lên Tuyên Hóa, vượt đèo Mồng Gà hiểm trở sau này. Tôi vô cùng biết ơn sự chăm lo của các thầy giáo và chú trạm trưởng. Có điều, cả bọn chúng tôi lại vô tâm đến nỗi, chẳng đứa nào nhớ tên chú ấy. Ngày ngày trôi qua, chúng tôi đã bắt đầu sốt ruột vì vẫn cứ được thông báo:
Đường chưa thông, xe chưa đi được! Nỗi lo ngại lại đè trong ý nghĩ của thầy, trò.
Rời Tam Đa
Cái gì cũng có sự kết cục của nó. Sự chờ đợi của đoàn chúng tôi ở trạm Tam Đa lại có kết quả ngược. Đường qua Đèo Ngang vẫn tắc do lụt và địch đánh phá dữ. Một buổi gần trưa, bất ngờ Tam Đa bị máy bay Mỹ oanh tạc một loại bom 2 - 3 quả gì đó, hình như nghe nói có bị thương 2 người; nhưng chúng tôi không ai hề hấn gì cả thầy và trò. Song, mối lo ngại của chúng tôi đã biến thành sự thật.
Sáng hôm sau, chúng tôi lại được lệnh rời Tam Đa, đi bộ ngược theo hướng đã đến Tam Đa, vẫn vượt qua 2 nhánh con sông Gianh, sau đó, bật ngược theo hướng các dãy núi hướng Tây Bắc mà tiến. Giấc mơ được đi xe ô tô của chúng tôi tan biến. Tạm biệt Tam Đa, chú trạm trưởng tiễn chúng tôi một đoạn, chúc đoàn mạnh khỏe bình an.
Chúng tôi bịn rịn chia tay chú. Tôi nhìn theo chú, ngó lại đôi giày dưới chân mà suy nghĩ: Có lẽ bằng kinh nghiệm của mình, chú đã cố tìm cho tôi đôi giày ấy nhằm giúp tôi đi bộ qua những chặng đường đầy vất vả được bắt đầu từ hôm nay. Tôi thật sự biết ơn chú rất nhiều.
Sau khi vượt 2 lần đò như đã nói, chúng tôi tiến sâu vào lòng dãy núi trước mặt và khó khăn lại ập đến: trời mưa rất to, nhiều quãng suối nước chảy xiết, sâu đến bụng. Thầy Châu, thầy Hải, thầy Ba và chú giao liên đã phải cõng các bạn gái nhỏ, các bạn trai thấp vượt suối. Còn bọn con trai chúng tôi được lệnh nắm thật chặt tay nhau thành một hàng, bám nhau lội qua con suối đầy nguy hiểm ấy. Tôi cứ nghĩ: lỡ đứa nào bị cuốn thì khốn. Loay hoay khá lâu, cả đoàn cũng qua được suối an toàn nhưng ai nấy đều ướt sũng. Song, vẫn phải tiếp tục lên đường bởi mưa nguồn có thể gây nguy hại bất cứ lúc nào. Có lúc, chúng tôi đi giữa 2 vách núi cao mà đường đi lại khá rộng, có vết xe ô tô. Hồi ấy, những đoạn đường đó cũng được gọi là “Đường giao liên” về sau chúng tôi mới biết đó chính là một đoạn của con đường Trường Sơn huyền thoại.
Đến Tuyên Hoá
Gần một ngày đội mưa đi bộ, lội suối qua núi, đến chiều, đoàn chúng tôi đến trạm nghỉ và được thông tin: đây là trạm Tuyên Hoá - điểm cuối cùng đoàn chúng tôi dừng chân ở Quảng Bình. Hầu như chúng tôi chẳng còn gì khô ráo. Do vậy, tất cả đều tắm rửa, vắt thật khô quần áo, mặc tạm áo lót, quần dùi rồi mang quần áo ra hơ lửa, nhờ bà con trong các gia đình mà chúng tôi được phân công nghỉ lại đốt lửa lên giúp đỡ. Lúc này, chỉ còn quần áo, giày dép, gùi, ni lông, nón mũ thật sự là thứ cần thiết, đứa nào còn ít lương khô thì đều ướt hết cả không còn dùng được nữa. Nhóm chúng tôi được bố trí tại một gia đình có một thầy giáo cũng ở trọ trong nhà để dạy học cho con em địa phương như các thầy cô quê tôi hồi ấy. Vùng này, nhà dân ở sát ngay rừng núi, bà con trồng rất nhiều ngô nương. Còn chất đốt thì rừng rậm sát nhà nên chúng tôi được đốt lửa thoải mái để hong khô quần áo. Bốn bề, nhìn phía nào cũng rừng núi, thực sự là miền sơn cước. Ở trạm này, chúng tôi được phát 3 lạng đường cát. Chúng tôi rủ nhau mua ngô của đồng bào (một hào một lon) rang lên, trộn đường làm lương khô. Không ngờ rang ngô chín còn nóng, vội trộn với đường, nó đông cứng lại, rắn quá, ăn thật khó cắn, đứa nào cũng tiếc khi hàm răng học trò không kham nổi thứ đá đặc biệt ấy.
Thế là chúng tôi đã ở điểm cực Tây Bắc của Quảng Bình, tiếp tục chờ đợi lại vượt đèo Ngang đến Hà Tĩnh theo một tuyến đi khác, rất đặc biệt: đi bộ leo đèo Mồng Gà trong dãy Hoành Sơn và đi đò vòng quanh núi để đến trạm đầu tiên của Hà Tĩnh.
Vượt đèo Mồng Gà
Cuộc sống của chúng tôi ở trạm Tuyên Hoá cứ trôi qua bình lặng trong đợi chờ tuyến hành quân tiếp theo cùng với nỗi nhớ nhà.
Mưa mãi rồi cũng tạnh, đã xuất hiện những ngày tạnh ráo và chúng tôi lại được lệnh lên đường. Tuyến đi này sẽ là: Một bộ phận lớn gồm các bạn nam và nữ khoẻ mạnh hơn sẽ đi bộ leo đèo Mồng Gà, số còn lại là những bạn nữ, những bạn yếu sẽ được đi một đoạn đò để ra trạm T1 Hà Tĩnh.
Một buổi sáng, ăn cơm thật sớm, thêm một nắm cơm muối vừng, chúng tôi tạm biệt trạm và gia đình; tiếp tục chặng đường thiên lý trẻ em: Cũng là lần đầu tiên leo lên một đỉnh đèo cao. Theo một con đường độc đạo khá rộng đã hình thành có lẽ từ lâu, chúng tôi nối đuôi nhau leo dần lên đỉnh ngọn đèo có cái tên và giống như mồng gà vậy. Càng lên cao càng dốc; khó đi hơn nhưng rất thú vị. Bởi nhiều lúc chúng tôi quan sát được vẻ đẹp của những áng mây trắng bảng lảng trong các thung lũng ngay dưới chân mình. Tôi cứ liên tưởng đây là bài tập thực tế của bài tập đọc “Canh phòng biên giới” mà chúng tôi đã học từ lớp 3. Vẻ đẹp núi rừng ở đây trong sương sớm buổi sáng khi mặt trời lên cũng chẳng khác gì vẻ đẹp đã tả trong bài tập đọc ấy. Chỉ có điều là chúng tôi không phải là những anh lính biên phòng hùng dũng cưỡi trên lưng những con ngựa chiến và cây súng hiên ngang, mà chúng tôi là những chú học trò nhỏ bé đi bộ trèo đèo với cái gùi xinh xinh khoác trên lưng. Hai bên vách núi chúng tôi đi có nhiều bụi sim chín rộ. Thi thoảng, chúng tôi có lén hái trộm ăn cho vui, bởi vì các chú giao liên đã cấm không được ăn bất cứ quả trái gì dọc đường sẽ hay bị đau bụng. Lần đầu tiên trong đời đi bộ trèo núi cao với đôi chân học trò bé bỏng, tuy rất mệt, nhiều lúc đầu gối mỏi rã rời do leo dốc đứng, nhưng chúng tôi vẫn hào hứng như được đi ô tô lần đầu vậy. Giữa trưa, đến đỉnh đèo, bất ngờ gặp một con suối lớn, nước đổ từ đỉnh núi xuống, dòng suối trong veo len lỏi qua từng gộp đá giữa tán cây rừng, rậm tạp, mát mẻ. Cả đoàn chúng tôi được dịp nghỉ ngơi. Mỗi một chúng tôi chọn cho mình một tảng đá, đặt gùi, thả đôi chân ngâm xuống nước mát lạnh, giở cơm nắm ra ăn và uống ngay nước suối, trò chuyện râm ran vang rừng. Nhiều bạn đã tranh thủ rửa ráy, nằm ngả lưng hồi sức, chẳng ai nghĩ gì đến bản thân mình đang ở một cuộc hành trình sơ tán trong chiến tranh ác liệt.
Nghỉ ngơi thoả thích, chúng tôi lại vượt đèo, lúc này là bắt đầu của chặng xuống đèo. Cây cối rậm rạp hơn, lối đi độc đáo, len lỏi giữa rừng cây lá khó đi hơn nhiều. Đường xuống đèo, dốc nguy hiểm hơn đường lên, có đoạn hầu như chúng tôi phải ngồi mà trượt xuống. Phía Hà Tĩnh vẫn có lác đác mưa nên nhiều chỗ cũng trơn. Khá nguy hiểm. Chặng nghỉ chân giữa đỉnh đèo đã giúp chúng tôi đủ sức vượt khỏi con đèo khá hiểm trở nhưng cũng khá thú vị này. Quá chiều, cả đoàn an toàn xuống chân đèo, thuộc địa phận Hà Tĩnh. Tôi vừa đi vừa nhìn lại phía đèo, vừa sợ bởi nỗi hiểm nguy của nó, vừa nuối tiếc bởi nó vẫn có sức lôi cuốn với một đứa trẻ như tôi.
Tiếp tục đi bộ một khoảng dài phải qua một con suối rộng, nước chảy xiết do mưa trên một chiếc đò đặc biệt vì nó được đục đẽo từ một thân cây lớn, mỗi chuyến đi chở 5 đến 7 người, cũng khá nguy hiểm. Nhưng nhờ tài năng của người lái đò dạn dày kinh nghiệm, đoàn chúng tôi yên ổn vượt qua. Đi bộ thêm một đoạn đường dài khoảng 4 giờ chiều chúng tôi đến trạm nghỉ. Từ trạm này trở đi, tên của trạm nghỉ được gọi bằng bí số. Đây là trạm T1, không rõ thuộc xã Kỳ Lạc, Kỳ Lâm gì đó thuộc huyện Kỳ Anh - Hà Tĩnh.
Tại trạm T1
Trạm là một xóm dân cư gần núi, cây cối tốt tươi có nhiều cây cọ trồng trong vườn nhà dân. Vì là vùng đồi núi trung du nên nhà ở cũng khá thưa. Đoàn chúng tôi ở tập trung tại một chòm có 3 đến 4 nhà. Ở đây chưa thấy bóng dáng tàn phá của bom đạn nên cuộc sống cũng khá bình lặng, tuy ngày nào cũng có nghe tiếng máy bay và thỉnh thoảng có tiếng bom đạn xa ì ùng vọng lại, gợi cho chúng tôi cảm giác ác liệt của chiến tranh.
Ở đây chúng tôi ăn ở sinh hoạt bình thường. Tuy nhiên, lại biết thêm một số việc khác. Ví như: Trước khi rời T1, chúng tôi sẽ phải chia tay chị Thiềm; chị sẽ trở lại quê nhà để tiếp tục sản xuất, chiến đấu sau khi hộ tống chúng tôi đến Hà Tĩnh an toàn. Chị vừa là người chị thân thiết, vừa như là người mẹ và là hình bóng quê hương, là chỗ dựa vững chãi cho chúng tôi qua suốt chặng đường gian khó từ quê nhà cho đến hôm nay; không nhớ rõ là đã bao nhiều ngày. Đây chính là nỗi buồn thực sự lớn đối với chúng tôi. Cả bọn chúng tôi (trong đó có anh Bỉ em trai chị học lớp 6) luôn luôn ở bên chị vừa để nghe chị nói, chị dặn trước khi chị lên đường về quê vừa để tình chị em, quê hương sưởi ấm thêm cho tấm lòng thơ trẻ.
Đúng như vậy, mấy hôm sau chúng tôi được lệnh tiếp tục cuộc hành trình. Lần này là chuyến đi bộ 4 ngày: Mỗi đứa mang theo gạo đủ ăn 4 ngày, còn thực phẩm qua các trạm phụ sẽ xin hoặc mua của dân. Đích đến là trạm T2, ngày đi đêm nghỉ.
Sáng sớm hôm ấy, chúng tôi tập trung sớm, mỗi đứa lại cơm nắm, lần này là muối lạc; hành trang có thêm 4 ngày gạo nên cũng hơi nặng. Cộng thêm lại phải đi bộ và chia tay chị Thiềm nên đứa nào cũng buồn lặng lẽ không nói gì. Sau khi chào tạm biệt thầy Châu, thầy Hải, thầy Ba… chị đến chia tay với từng đứa chúng tôi. Ôm hôn em trai, chị quay sang tôi đưa cho tôi 5 đồng và nói:
- Trước khi đi mạ út gửi chị 15 đồng, chị giữ giùm cho út, chừ đưa cho út 5 đồng để út góp mua thức ăn trong chặng đi bộ này. Còn 10 đồng chị gửi cho thầy Châu cất cho út! Khi mô đến nơi út hỏi thầy mà lấy! Nhớ ngoan, học giỏi! Về nhà chị sẽ kể chuyện đi đường với mọi người. Tôi im lặng chia tay chị và theo đoàn lên đường. Chúng tôi tạm biệt trạm T1 trong hoàn cảnh như vậy.
Trạm T2 Hà Tĩnh
Tôi cũng không nhớ rõ, T2 thuộc xã nào của huyện Cẩm Xuyên. Ở đây, làng xóm đông đúc, vườn nhà nào cũng trồng nhiều rau và cây cọ nên rất mát mẻ. Chúng tôi được bố trí ở 4 gia đình liền kề nhau của một gia đình lớn. Ngôi nhà to rộng nhất còn bà cụ chủ nhà và chị con gái út vừa học xong cấp 3, đang chờ đến ngày đi học trung cấp tại Hà Nội theo giấy gọi. Tên chị là: Bùi Thị Mỹ Thành. Chị hiền và vui tính, rất hoà đồng với chúng tôi, nhất là các bạn gái; chị thương hoàn cảnh chúng tôi nên hay giúp đỡ nhiều việc. Tôi có cảm giác chị gần giống với chị Thiềm. Chị Thành tập cho chúng tôi 2 bài hát về Hà Tĩnh rất hay, bây giờ tôi vẫn còn nhớ! Được khoảng 1 tuần thì chị chia tay chúng tôi để đi học. Khi chào bà mẹ, 3 chú công an đang trọ trong nhà và thầy trò chúng tôi chị đã khóc, bọn con gái cũng khóc.
Cuộc sống ở đây cũng khá yên tĩnh, hình như chiến tranh chỉ ảnh hưởng đến vùng quê này qua tiếng máy bay và tiếng vọng về của bom đạn, nhưng không khí thời chiến vẫn đè nặng trong tâm tưởng mọi người. Thầy trò chúng tôi thi thoảng tổ chức sinh hoạt tập thể với 3 chú công an hiện sơ tán về nhà bà cụ vào các buổi tối có trăng. Đề tài mà 3 chú đưa ra là bí mật, cảnh giác. Với chúng tôi thì là một vấn đề hoàn toàn quen thuộc. Bởi từ những năm 1961 - 1962, phong trào “ba không” đã trở thành một môn học trong nhà trường và một vấn đề trong sinh hoạt hàng ngày. Cho nên, chúng tôi rất tự giác, cảnh giác trong giao tiếp, hầu như chỉ có bạn bè trong đoàn với nhau và các bạn trẻ trong gia đình là chính. Thi thoảng, lại rủ nhau ra cánh rừng cây lúp xúp, rậm rạp ven làng chơi và bắn chim cho vui; lúc rỗi có khi giúp cô bác hái cau để bán, bởi lũ học trò con trai chúng tôi len trèo nghịch ngợm khá giỏi. Ở đây, cũng như một số nơi chúng tôi đã qua, các thanh niên đa số đi bộ đội hoặc phục vụ chiến đấu tại chỗ nên ở nhà chỉ còn bà cụ cùng các cô con dâu và bầy cháu, nên ba chú công an có lẽ là những thanh niên, đàn ông mà chúng tôi thường quan hệ. Các buổi tối sinh hoạt tập thể (tôi nhớ cả thảy có ba buổi như thế) chúng tôi nghe các chú công an nói chuyện, thầy giáo đánh giá tình hình, rồi tham gia văn nghệ rất sôi nổi, lôi cuốn bà con cô bác và các bạn học trò đến xem. Tôi xin tham gia và kể lại câu chuyện phim “Đêm trăng rằm” mà tôi đã được xem ở trạm Tam Đa và hát một số làn điệu dân ca Trị Thiên (anh tôi phụ trách văn hoá xã và hay cho tôi đi xem tập văn nghệ nên tôi nhớ), được hoan nghênh nhiệt liệt.
Tuy nhiên, ở trạm này ăn uống cũng hơi kham khổ: Cơm với rau luộc là chính, canh thì một loại duy nhất: Đậu xanh cà nhỏ rồi nấu với nước thành một thứ canh đại dương có nêm gia vị, chan với cơm húp xì xụp. Cũng khá đói bụng nên chúng tôi thường lục xuống bếp (Tất nhiên là lén) ăn cơm cháy. Ngoài ra, còn cạy các thùng gỗ có loại bánh quy lương khô mà chúng tôi đã chê trước đây, bỏ ở các hàng hiên vì bánh đã bị mốc, chọn lấy hú hoạ một vài gói may mắn không mốc mà chia nhau. Các cô chú ở trạm thi thoảng có thấy, nhắc nhẹ chúng tôi vị sợ các cháu đau bụng, nhưng không mắng mỏ gì, chắc là các cô chú cũng thương chúng tôi lắm. Nhưng vì điều kiện chiến tranh nên không thể cải thiện gì thêm cho chúng tôi.
Bởi vậy, có 2 lần, cô chủ nhà nấu nồi khoai khô trộn lạc mời thầy trò, chúng tôi mừng rối rít và chia nhau thưởng thức. Dân ở đây đời sống cũng nghèo nhưng tình cảm thì vô cùng lớn. Chúng tôi biết đây là phần ăn bớt ra từ lương thực dự trữ của mấy mẹ con.
Chúng tôi dừng sinh hoạt và chờ đợi chuyến hành trình tiếp theo (sẽ được đi ô tô) trong hoàn cảnh như vậy ở trạm T2.
Thời gian lưu lại ở T2 có lẽ là dài nhất trong tất cả các trạm mà chúng tôi dừng chân. Những ngày chờ đợi cứ trôi qua, mấy bạn lớn kiếm đâu được bộ bài tú lơ khơ tiêu khiển, chúng tôi chầu rìa ngồi coi, có lúc lại rủ nhau ra sân xem bầy sóc chuyền cành ăn trái cọ chín, đuổi nhau trên tán cọ hàng giờ ngó rất ngộ. Bọn con gái thì tranh thủ kiếm kim chỉ, vá áo quần cho họ và giúp chúng tôi, áo quần được mỗi đứa vài bộ, đi cả tháng xem ra đã rách nhiều, có bữa chờ cơm, lại rủ nhau ra nhà bếp. Một hôm, cô cấp dưỡng đánh rơi cái gàu múc nước xuống giếng lớn ven đồng lúa, anh San lớn nhất trong bọn chúng tôi lặn xuống mò giúp, cô mừng và từ đó các cô chú cũng thương chúng tôi hơn (San ở nhà đã là một cậu bé làm được nhiều việc giúp gia đình kể cả theo cha đi biển: 15 tuổi rồi còn gì, ra Bắc San sẽ học lớp 6).
Đã hai lần, chúng tôi được sắp xếp lên đường, hành quân ra trạm T3 bằng ô tô. Tất nhiên là cứ theo quy luật đi ban đêm. Nhưng cả hai lần bắt đầu hành quân từ sớm hơn, đi bộ mấy cây số, chờ đến chập tối thì sẽ có xe đón, cả hai lần đều không có xe. Thầy trò chán nản quay về trạm, lại tiếp tục chờ đợi. Sau lần thứ hai, có tin sẽ tiếp tục đi bộ. Chúng tôi đồng tình cùng nhau đề nghị thầy Châu tổ chức họp cả đoàn và yêu cầu được hành quân bằng xe. Bởi, với sức học trò, con trẻ, chúng tôi đi bộ gần như suốt cả tỉnh Quảng Bình, bây giờ đi bộ hết cả tỉnh Hà Tĩnh thì sẽ có nhiều bạn bị đuối sức, ảnh hưởng tới sức khoẻ và công việc học tập sau này. Đề nghị này được các thầy giáo ủng hộ, vì các thầy hiểu rất rõ sự kham khổ và sức chịu đựng của học sinh mình trong cả chặng đường gian khổ đã qua. Do vậy, yêu cầu được chuyển lên lãnh đạo Trạm và chúng tôi tiếp tục chờ đợi. Mấy ngày sau, lần thứ ba, đoàn chúng tôi tạm biệt Trạm T2, lên ô tô ra trạm T3 vào một đêm không trăng.
Đường đến trạm T3 Hà Tĩnh
Lên hai chiếc ô tô vận tải, chúng tôi hành quân đến trạm mới. Sau một thời gian khá dài chờ đợi, bọn trẻ lại sướng rơn khi được đi xe. Bởi vậy, ngay sau khi lên xe, chúng tôi cùng nhau hò hát, cười nói vui vẻ, khiến cho không khí ấm hẳn lên. Chẳng có đứa nào còn tâm trí u hoài, trầm mặc. Tuổi học trò vốn thế, chỉ cần có khí thế, của các cuộc vui là tất thảy đều quên hết sự đời. Các chú lái xe thỉnh thoảng cũng động viên khích lệ. Đường đi trong đêm tối, chỉ có đèn gầm, nhưng xe chạy khá nhanh bởi không có máy bay oanh tạc hay thả pháo sáng. Đã gặp nhiều đoàn, tốp bộ đội theo đội hình hành quân ngược vào Nam hay các xe kín lá nguỵ trang chở bộ đội kéo pháo trên đường ra trận. Những lúc thế này, các chú lái xe chủ động cho xe chạy chậm lại hoặc dừng hẳn để chúng tôi và các chú bộ đội vẫy chào, bắt tay nhau thật thắm thiết. Chú cháu chúc nhau cùng thắng lợi. Khí thế hào hùng ấy làm cho chúng tôi có cảm tưởng như đang lên đường làm một nhiệm vụ thật lớn lao. Hai chiếc xe nối đuôi nhau trên chặng đường hành quân như thế. Xe chúng tôi chạy sau; đang bon bon và bọn trẻ đang say sưa hát, bỗng có một va chạm gì đó khá lớn, làm cho xe dừng hẳn lại. Cả bọn mới định thần thì nghe tiếng cãi cọ bên ngoài. Thì ra, xe chúng tôi và một xe khác va quẹt vào nhau, không biết vì hư hỏng gì mà xe học trò không chạy tiếp được. Các chú lái xe ban đầu nóng nảy to tiếng với nhau, thậm chí còn lăm lăm tay quay, mỏ lết. Nhưng có sự can thiệp của thầy Châu, thầy Hải nên đôi bên cũng dàn hoà được. Xe kia tiếp tục ngược chiều, còn xe chúng tôi phải dừng lại, liên tục bấm còi để xe trước biết. Sự cố này làm cho chúng tôi trầm hẳn lại, chẳng đứa nào thiết hát hò, trò chuyện nữa. Khá lâu sau, xe chạy trước quay lại, móc cáp, 2 xe kéo nhau tiếp tục lên đường, tất nhiên là tốc độ lúc này chậm hơn nhiều. Gần sáng, xe dừng, cả đoàn xuống xe, chia tay chú lái, tiếp tục đi bộ thêm một quãng đường thì đến trạm. Sau khi được bố trí chỗ nghỉ theo từng nhóm ở các nhà dân, chúng tôi ngủ vùi cho đến trưa mới dậy, tắm rửa và đi ăn cơm. Như vậy, chúng tôi đã đến T3, trạm cuối cùng của Hà Tĩnh. Tôi cũng không nhớ đây thuộc địa phận xã, huyện nào...
Trạm nghỉ bên dòng sông Lam
Chuyến xe từ T2 đến T4 cũng gần giống như chuyến đến T3. Chỉ có điều trên đường đi không gặp sự cố! Đường Bắc – Nam, xuôi - ngược, chúng tôi lại có dịp giao lưu với các chú bộ đội, thỉnh thoảng lại gặp các anh chị TNXP chốt giữ đang làm nhiệm vụ hướng dẫn xe qua lại. Không khí chiến tranh căng thẳng, khẩn trương nhưng lại rất hào tráng trên suốt chặng đường. Có một đoạn, trên đường hành quân xe phải dừng vì có nhiều đoàn qua lại, chúng tôi được gặp một đoàn mấy chiếc cùng chiều chở học sinh 1 xã bạn, cùng sơ tán ra Bắc, gặp nhau chào hỏi, giọng quê hương rối ra, rối rít, thật là cảm động. Tôi nhớ nhất là lần vượt qua cầu phao, hay phà gì đó trên chuyến đi này. Chúng tôi được lệnh ngồi trên xe khi qua sông trong ánh trăng hay pháo sáng gì đó tôi không còn nhớ rõ. Tôi vẫn ngồi phía sau thùng xe như mọi khi, đến khi cập bến, xe leo lên một con dốc nhỏ theo lối khá ngoằn ngoèo, tôi nhìn phía sau bỗng thấy: Trong ánh sáng của trăng, pháo sáng, bờ sông hai bên là một màu đất đỏ quạch, lỗ chỗ những hố bom to, nhỏ; nhấp nhô từng gò đất thấp cao, không hề có một bụi cây. Dòng sông nổi bật một màu xanh, xanh lắm, xanh như mặt nước biển mùa hè, nó giống như một dải lụa vắt ngang trên cái nền đỏ của đất, tạo nên một bức tranh 2 màu chói lên dưới ánh sáng đêm ấy. Cái cảm giác này đến bây giờ tôi vẫn nhớ, nhớ lắm. Không biết thầy giáo và các bạn có ai quan sát và nhớ như tôi hay không? Đối với tôi chuyến vượt sông đặc biệt tại cái bến phà hay cầu phao trọng điểm ấy gợi cho tôi một hình ảnh về chiến tranh rất lạ. Giữa sự tàn phá ác liệt của đạn bom và sự gian ác của kẻ thù những con người dũng cảm vẫn tồn tại và đưa chúng tôi an toàn vượt sông trong cuộc trường chinh của trẻ thơ. (Bằng sự hiểu biết của mình sau này khi lớn lên, tôi đoán: Quãng sông ấy chắc là bến phà Linh Cảm của tỉnh Hà Tĩnh).
Chuyến xe kỷ niệm ấy, đưa đoàn chúng tôi đến trạm T4, một làng quê trù phú nằm cạnh dòng sông Lam thơ mộng. Con sông nổi tiếng với chúng tôi qua các bài học, bài hát mà chúng tôi đã được làm quen những năm qua và rất gần gũi với tình cảm học trò, bởi một trong những làng quê bên dòng sông lịch sử ấy là quê hương của Bác Hồ
Ở T4 - Nghệ An
Trạm T4 là một làng quê trù phú, bởi những cánh đồng mía xanh tươi ngút ngàn, trong con mắt học trò của tôi, nhìn ở đâu trong vùng quê này cũng đều thấy một màu xanh của mía. Mía trong làng, trên các đồng đất, mía phủ xanh thẳm bờ sông. Những bụi mía còn tơ, thân màu tím, từng luống thẳng tắp, chạy tít tầm mắt. Những tàu lá xanh tua tủa đâm thẳng lên trời như một rừng gươm giáo của đội quân khổng lồ sẵn sàng xung trận. Ở đây còn còn có một loại đặc sản nữa là bưởi. Thứ bưởi trắng, quả to, múi mọng, cùi rất ngọt. Chúng tôi được cô bác cho ăn thật ngon miệng. Vùng này, các cụ bà thường mặc váy đen, các chị thanh niên và học sinh nữ thì không. Nhóm chúng tôi được bố trí ở nhà một bác gái chủ nhà trạc tuổi mẹ tôi. Bác sống với 2 cô con gái là Thảo cùng tuổi với tôi, đang học lớp 4, cô em tên Thơm học lớp 2. Bác trai đã mất còn anh trai tên là Phan Đồng đang tại ngũ. Tôi biết tên anh vì đọc được trên các tấm giấy khen anh được tặng, treo trên vách. Ở đây, dân cũng tình cảm, bác chủ nhà và 2 cô bạn rất thương chúng tôi, cũng như các vùng khác mà chúng tôi đã qua, rất ít khi gặp các anh thanh niên vì đã đi bộ đội phục vụ chiến đấu cả. Vùng này, không thấy cô bác nào làm hầm trú ẩn phòng không, mọi sinh hoạt như là đang thời bình.
Một hôm, Thảo và Thơm bảo chúng tôi:
Bên tê sông là quê Bác
Thế là, cả bọn rủ nhau ra sông tắm và ngắm nhìn quê hương của Bác từ bên này. Phong cảnh quê Bác từ phía này nhìn sang trông cũng rất đẹp, tương tự như bức ảnh quê Bác chụp từ xa, phía sau có dãy núi Đại Huệ mà tôi đã được xem sau này trong một tập sách kể về Bác Hồ. Trong tâm tư của mình, tôi rất muốn được đến thăm quê hương Bác. Tôi đoán chắc cán bộ trong nhóm cũng đều có cảm nghĩ như tôi.
Ở T4 được mấy ngày, trong điều kiện cuộc sống và sinh hoạt như vậy, chúng tôi lại chia tay bà mẹ và 2 bạn gái Thảo, Thơm để lên đường. Tôi chợt nhớ tại đây là một làng quê thuộc huyện Thanh Chương - Nghệ An khi nói đến các tấm giấy khen anh con trai bà mẹ tôi xem có ghi huyện Thanh Chương. Còn một điều nữa mà tôi muốn nói đến là: Cũng trên vách nhà bà mẹ, nơi treo các tấm giấy khen, tôi còn xem được một thông báo cắt từ một tờ báo nói về: Việc từ trần của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh.
Xe lại tiếp tục đưa chúng tôi ra Bắc theo trình tự của một chuyến ban đêm như những chặng đường đã qua và Trạm tiếp theo sẽ là T5.
Đến T5
Chuyến xe đến T5 cũng suôn sẻ. Trạm được bố trí tại một nông trường cà phê của tỉnh Nghệ An.
Chúng tôi được bố trí nghỉ ngơi tại các gia đình công nhân nông trường. Ở đây, gần một con suối lớn nên chúng tôi thường đến tắm rửa. Ăn uống thì bắt đầu từ T3 chúng tôi được chăm sóc rất bảo đảm, đầy đủ. Ở T5, lần đầu tiên chúng tôi lại được ăn loại cam ngon nổi tiếng bấy giờ, mỗi đứa được chia 2 quả rưỡi cam, quả to như nắm tay người lớn, chín vàng mọng, ăn ngọt ơi là ngọt. Cả bọn chúng tôi cùng nhau ăn hết phần của mình, rất thèm nữa, nhưng ở đây không giống ở T4, dân nhà nào cũng trồng bưởi, nên được ăn bưởi tới thích. Gia đình các cô chú công nhân trồng cà phê, trong đó vườn không thấy trồng cam; các cô chú đi làm tập thể cả ngày, tối về chúng tôi mới được gặp. Cam có lẽ là được chở từ nơi khác đến, nên chúng tôi đành tiếc. Ở T5 vài ngày, chúng tôi lại tiếp tục hành quân, cũng trên chuyến xe đêm. Tạm biệt đất Nghệ An tươi đẹp với sự tiếc nuối không được đến thăm quê Bác Hồ.
Trạm T6 - Thanh Hoá
Chuyến xe đưa chúng tôi đến trạm T6 chạy suốt đêm. Sáng rõ mặt trời xe đến trạm T6 thuộc tỉnh Thanh Hoá.
T6 đã trở thành một địa chỉ kỷ niệm của tôi. Tại đây, tôi phải chia tay với đoàn bởi một trận ốm khá dài ngày. Tạm nghỉ ở trạm mấy ngày, đoàn học trò của tôi lại lên đường. Còn tôi và Quyến bạn cùng làng, học hơn tôi một lớp, bị lên sởi phải điều trị tại trạm xá. Do bị biến chứng, tôi lại bị kiết lị, nằm liệt hơn một tuần mới dậy được. Ở trạm có cô bác sĩ Năm và các y sĩ, y tá chăm sóc tôi rất tận tình, chu đáo. Đặc biệt có cô Soạn là người phụ trách học sinh K8 tại trạm đón, cô rất thương tôi, dù bận công việc nhưng ngày nào cô cũng đến thăm tại trạm xá, động viên an ủi tôi. Quyến bị nhẹ nên đã khỏi, nhưng phải đợi tôi và chờ có đoàn khác đến mới gửi cả 2 đứa đi theo.
Cùng điều trị với tôi và Quyến tại trạm còn có một cậu bạn người Vĩnh Thuỷ (tôi quên mất tên cậu ấy) học lớp 2, rất tinh nghịch. Cứ mỗi buổi sáng, chúng tôi được phát mỗi đứa 2 bánh ngọt tròn, to. Tôi chưa ăn được, nên để trên đầu giường dành lại và cho Quyến. Nhưng mỗi khi tôi mệt, ngủ thiếp đi, cậu ta lại thó mất. Ban đầu, tôi tưởng Quyến lấy ăn nên không nói gì. Đến lúc cứ thấy mất mãi, tôi hỏi Quyến thì té ra không phải. Hỏi đến cậu ta, thì hắn cười trừ thật lớn, rồi nhót chạy ra sân, thế là hòa cả bọn. Đến khi khỏi hẳn, tôi hỏi Quyến thì được biết: Cả hai đứa nằm lại ở T6 hơn nữa tháng trời. Như thế, là đoàn chúng tôi chắc đã đến nơi. Nếu không có tình yêu thương của cô bác, các thầy thuốc, không rõ tôi sẽ thế nào trong tình hình ấy (sau này, khi đến chỗ ở, tôi có mấy lần gửi thư về thăm cô Soạn, cô Năm, nhưng không thấy các cô trả lời, chắc là trạm đã giải thể hoặc vì tôi cứ viết địa chỉ: (Trạm T6 - Thanh Hoá nên thư không đến). Chúng tôi được bồi dưỡng ở trạm T6 - Thanh Hoá rất tốt, nên sau khi khỏi bệnh, khoẻ hẳn, thì cũng là lúc có một đoàn học sinh cấp 2 của các xã phía Tây Vĩnh Linh trên đường ra Bắc cũng vừa đến trạm. Đoàn này có một điều đặc biệt: Thành phần trong đoàn gồm các bạn người Vân Kiều của 5 xã: Vĩnh Trường, Vĩnh Thượng, Vĩnh Ô, Vĩnh Khê, Vĩnh Hà và Nông trường Quyết Thắng nên cả học sinh người Kinh và học sinh người dân tộc thiểu số. Tôi và Quyến được gửi nhập vào đoàn này để tiếp tục lên đường. Cậu bé Vĩnh Thuỷ đã gửi từ trước theo một đoàn khác. Mấy ngày sau chúng tôi bịn rịn chia tay cô Soạn, cô Năm và các cô chú ở T6. Tôi luôn nhớ kỷ niệm và những con người nơi đây. Chỉ tiếc là không biết rõ địa danh vùng quê ấy (đây là một nguyên tắc của bí mật, chúng tôi không được phép hỏi tên làng, xã ở các trạm nghỉ). Khi viết những dòng này, tôi muốn gửi lòng biết ơn sâu sắc vô cùng tới họ cũng như tới tất cả bà con cô bác đã cưu mang, giúp đỡ, che chở cho chúng tôi suốt chặng đường gian khổ.
Những người bạn mới
Do đặc thù là đoàn học sinh miền núi, nên tuy cùng học cấp 2 nhưng có nhiều anh chị đã là những thanh niên, thanh nữ. Nhiều người mang trang phục dân tộc Vân Kiều. Họ nói chuyện với nhau tôi không hiểu được nhưng đối với chúng tôi cũng rất thân tình và tất cả đều biết tiếng Kinh. Hai đứa tôi được xếp vào một nhóm có mấy anh là con em công nhân nông trường Quyết Thắng, quê Nghệ An, Hà Tĩnh. Các anh dạy chúng tôi nói tiếng Vân Kiều để giao tiếp với các bạn và giúp đỡ chúng tôi trong mọi chuyện. Hai đứa tôi cũng vào loại bé nhất toàn đoàn, lại lạ lẫm nên các anh chị rất thương (nhiều người trong đoàn này sau này là bạn học cấp 3 với tôi và hiện đang công tác khắp nơi trong tỉnh Quảng Trị).
Rời T6 trong hoàn cảnh đặc biệt ấy, lần đầu tiên trong tuyến đường sơ tán, chúng tôi đựơc đi xe ban ngày với một cung đường khá ngắn: Ra trạm tạm Nho Quan.
Tuy nhiên, ở trạm Nho Quan cũng chỉ vài ba ngày, xe lại đón chúng tôi đến trạm Gia Hưng - huyện Gia Viễn - Ninh Bình. Tại đây chúng tôi được bồi dưỡng theo chế độ tốt, rất đảm bảo sau một chặng đường dài gian khổ. Cũng tại đây, chúng tôi được thông báo rằng: Sau khi bồi dưỡng, mỗi đứa được phân về ở một nhà dân trong vùng để ăn học. Như vậy, sẽ không có chuyện ăn ở tập trung, sang Trung Quốc, gặp Bác Hồ mà chúng tôi đã nghe khi ở quê. Đó là chuyện được dựng lên để động viên bố, mẹ của học sinh, tạo điều kiện cho con em đi sơ tán được thuận lợi mà thôi.
Bảy ngày trôi qua, tôi với Quyến đã kịp hoà nhập khá tốt, vui chơi, sinh hoạt làm thân với những người bạn mới. Tuổi học sinh rất dễ hoà đồng, nên chúng tôi không còn thấy bỡ ngỡ, lạ lùng như mấy ngày đầu. Ngược lại, hai đứa tôi cảm thấy như là vẫn sinh hoạt trong đoàn mình. Thật đáng yêu những người bạn đặc biệt của tôi.
Tới đích
Buổi chiều ngày thứ 7, chú Tiếu và bác Màng, 2 cán bộ người Vĩnh Linh phụ trách K8 tại Ninh Bình đến Gia Hưng. Sau khi làm việc với Trạm và thầy phụ trách đoàn, 2 người đến đón tôi và Quyến. Tôi hỏi đi đâu, bác Màng nói.
Hai cháu về nơi ở với các bạn Vĩnh Thái!
Tuy phải chia tay với các bạn Vân Kiều và các anh chị, 2 chúng tôi vẫn rất vui vì sẽ được trở về với bè bạn quê nhà.
Xe đạp bác Màng, chú Tiếu chở chúng tôi đi một quãng đường đê, lại một chặng đường nhựa, sau đó rẽ đến một bến đò để sang sông.
Tại bến đò này, bác cháu gặp một thầy giáo, 1 cô giáo mới đi họp hiệu trưởng về, chúng tôi biết qua câu chuyện của cô thầy với 2 bác, chú. Sau một lúc trao đổi, bác Màng quay sang phía tôi và Quyến :
- Chừ các bác chia tay các cháu tại đây. Chúng ta còn gặp nhau! Sau khi sang đò, An đi theo thầy giáo, Quyến theo cô giáo để về nhà ở. Mọi chuyện rồi các cháu rõ dần.
Rồi bác và chú chào các thầy, các cô lên xe đạp. Thầy trò chúng tôi sang đò, qua bên kia thì trời cũng vừa chập choạng tối. Hai đứa 2 ngã lại chia tay nhau, khoác chiếc gùi thân thiết lúc này chỉ còn có áo quần, ni lông, tấm vải dù. Theo thầy cô đi nguợc chiều trên triền đê, Quyến về Gia Minh, còn tôi Gia Lạc (cũng chính trên chặng đường này định mệnh cho tôi gắn bó với gia đình thầy giáo Đinh Văn Ninh - người sau này trở thành bố nuôi của tôi).
Đi bộ trên đê, thầy tranh thủ giới thiệu với tôi về con sông, bến tắm, ngọn núi đơn độc giữa dòng sông. Tôi đang buồn nên vâng dạ qua chuyện.
Khoảng 10 - 15 phút, chúng tôi về đến nhà thầy, trong gia đình có ông bà cụ trên 60 tuổi (bố mẹ thầy), cô giáo (vợ thầy) và 3 em gái. Một em 7 tuổi, một em 5 tuổi và một em còn nhỏ. Thầy giới thiệu với mọi người: đây là cháu An, học sinh K8, cháu sẽ ở nhà chúng ta.
Cả gia đình xúm lại quanh tôi, giúp tôi bỏ hành lý lên giường, chỉ chỗ 3 bể nước cho tôi rửa ráy…
Tôi rất cảm động, như được sống lại trong tình cảm gia đình thật sự sau quãng đường xa, nhưng vì lạ, lại buồn vì chưa có bạn bè ở cạnh, tôi nhỏ nhẹ chào tất cả mọi người và xin phép đi ngủ với lý do hơi mệt. Trước khi đi ngủ, tôi đến xem cuốn lịch treo trên cột nhà thì thấy: Hôm nay là ngày 23 - 11 - 1967. Thế là, từ ngày xa quê lên đường đi sơ tán, đến hôm nay còn thiếu đúng 1 tuần lễ nữa là chẵn 3 tháng. Đôi chân học trò 11 tuổi của tôi rong ruổi suốt chặng đường trường chinh con trẻ, với biết bao gian khó, nguy hiểm buồn vui. Từ hôm này, 23 - 1 - 1967, cuộc đời tôi bước sang trang mới. Tôi được sống trong tình cảm yêu thương của một gia đình mới thực sự. Gia đình thân yêu thứ hai của tôi với ông bà, bố mẹ và các em, giữa quê hương mới, quê hương thứ hai của bọn học sinh K8 chúng tôi: xã Gia Lạc - huyện Gia Viễn - tỉnh Ninh Bình.
Tôi nhớ lại chuyến xa quê của mình cách đây 41 năm. Bây giờ, tôi và các bạn đã thành ông bà, thành đạt, thành danh… một số đã vĩnh viễn đi xa mang theo các ký ức của một thời kỷ niệm về chiến tranh với những cuộc chia ly hào tráng để quê hương đất nước có được hôm nay. Có lẽ chiến dịch K8, K10 của Vĩnh Linh không chỉ là một chiến công vĩ đại của quân dân “luỹ thép” mà còn là một kỳ tích có một không hai trong lịch sử của cuộc chiến tranh mà nhân dân ta đã tiến hành chống lại sự tàn ác, phá hoại, huỷ diệt của kẻ thù xâm lược đế quốc Mỹ. Đảng, Bác Hồ đã dẫn đường cho Vĩnh Linh làm nên sự kỳ diệu vô song ấy, để bây giờ chúng ta có những rừng cây xanh thắm bạt ngàn phủ khắp quê hương Vĩnh Linh, Quảng Trị và khắp mọi miền Tổ quốc thân yêu. Như Bác Hồ đã nói đại ý: “Đưa các cháu đi lần này giống như chuyển cây từ chỗ đất này sang chỗ đất khác, phải làm sao cho cây tốt tươi, ra hoa, kết quả và sau này phải thành rừng”.
Tôi tâm nguyện một điều và tin rằng tất cả những ai đã tham gia trong chiến dịch K8, K10 những năm 1966, 1967 - 1973 đều tâm nguyện như tôi. Đó là tấm lòng biết ơn vô hạn với Đảng, Chính phủ và Bác Hồ kính yêu cũng như tất cả những người đã hy sinh, đã mất… cho sự hồi sinh, sự sống và phát triển của Vĩnh Linh, của quê hương chúng tôi và tất thảy chúng tôi.
N.H.A




