|
T |
rong căn lán của chị em đội văn nghệ Do Linh tại một làng vùng mới giải phóng, mọi người đang quây quần ăn cơm trưa. Từ căn hầm bên, anh Hoàng Ngọc Lân cán bộ tuyên huấn Huyện ủy, trên tay cầm chiếc đài bán dẫn chạy như bay về phía chúng tôi hét toáng lên:
- Hiệp định Pari đã ký tắt! Hòa bình sẽ lập lại tại Việt
Chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau, nửa tin nửa ngờ. Thúy Hòa níu áo anh Lân giật giật: - Chuyện này ở đâu ra? Đừng cho rằng bọn này sợ bom đạn thằng Mỹ mà sáng tác tin vịt.
Anh Lân vội cài lại cúc áo vừa bị Thúy Hòe giật tung, đưa tay vỗ nhẹ lên chiếc đài bán dẫn nói giọng nghiêm túc: - "Thưa cô" cái đài này vừa đưa tin xong. Nhưng chưa hết. Lát nữa chúng ta sẽ nghe bài bình luận về sự kiện này.
Không khí tạm lắng, xong đoạn nhạc, chiếc đài lại vang lên giọng ấm áp của một phát thanh viên nữ. Tôi không nhớ rõ lúc bấy giờ chị Tuyết Mai hay chị Hoàng Yến. Bài bình luận nội dung nói về phái đoàn Mỹ trở lại bàn đàm phán sau khi thất bại thảm hại đánh phá không quân bằng máy bay B52 mười hai ngày đêm trên bầu trời Hà Nội. Chúng tôi vây quanh chiếcđài lắng nghe như nuốt từng câu từng chữ toàn văn bài bình luận. Bữa cơm bỏ dở chả ai cần đoái hoài đến ăn uống. Người gõ bát, kẻ gõ song hát ca nhảy múa náo loạn suốt cả buổi trưa.
Tôi mở ba lô lấy thuốc lá ngọn ra xắt mời anh một điếu giấy cuộn thuốc tự túc, hút ăn mừng đất nước sắp được hòa bình. Thuốc này tuần trước tôi ra Vĩnh Thủy, Vĩnh Linh được anh bạn cho mấy lá về tôi cất kỷ. Anh em trong lán chỉ được hút người một điếu sau bữa ăn, còn thì 'tự túc". Dạo đó máy bay địch đánh phá rất ác liệt, đi lại khó khăn. Chúng tôi còn thiếu cả áo quần mặc, gạo ăn nói chi là thuốc lá. Phát xong thuốc cho mọi người tôi cầm nắm cọng thuốc định vứt qua cửa lán, Đức Tân giằng lại:
- Đừng lãng phí ông bạn! Đưa nắm cộng thuốc tôi cất. Hãy biết "tính cóc phòng cơ". Đề phòng lão Ních lật lộng như dạo trước không có thuốc hút thì khốn.
Đó là trưa ngày 25 tháng giêng năm 1973. Cũng chiều hôm đó đơn vị chúng tôi nhận được thông báo của Ban Thường vụ Huyện ủy khẩn trương xây dựng chương trình biểu diễn phù hợp với tình hình mới. Phần lớn nội dung đề cập tới chủ đề chống Mỹ, hòa hợp dân tộc. Một số đồng chí trong đơn vị được Thường vụ mời tham dự lớp tập huấn cấp tốc vào ngày 25 tháng 1, để tăng cường về các địa bàn trọng yếu. Tại lớp tập huấn thông tin chúng tôi được nghe đầu tiên là hiệp định Pari sẽ được ký kết chính thức vào ngày 27 tháng 1 năm 1973. Theo hiệp định này Mỹ rút quân khỏi miền Nam Việt
Nhiệm vụ của chúng tôi sau đợt tập huấn này là tăng cường về các địa bàn trọng yếu, cùng với Đảng ủy các xã hướng dẫn nhân dân củng cố hầm hào, xây dựng phương án chiến đấu thật hiệu quả, phòng tránh tốt. Hạn chế đến mức thấp thiệt hại khi có chiến sự xảy ra.
Sau hai ngày tập huấn, chiều 26 tháng 1 lớp học bế mạc, Huyện ủy cho thịt một con bò để liên hoan. Chúng tôi ăn vội mấy bát cơm rồi súng đạn, tài liệu chia tay nhau lên đường. Tôi rời văn phòng Huyện ủy để về xã Do Hải vào khoảng 17 giờ 30 phút, phải vượt qua chặng đường gần 15 cây số đi bộ giữa bãi hao hao. Giữa đường chúng tôi bắt gặp hàng chục trận địa pháo 130 ly của bộ đội pháo binh Trường Sơn vừa về đang triển khai công sự chiến đấu. Gặp chúng tôi họ vặn hỏi đủ điều đặng đề phòng kẻ xấu làm lộ bí mật. Cũng có nơi bộ đội định gửi tôi lại. Rất may tôi có đầy đủ giấy tờ. Dọc đường đi, tôi vừa mừng, vừa lo. Mừng là ở Do Linh lần này đã có nhiều pháo binh yểm trợ, nếu có chiến sự xẩy ra. Lo sẽ không tránh khỏi thương vong lớn. Trong trận chiến đấu này ai còn ai mất, không ai biết trước được. Tôi về đến xã Do Hải vào khoảng 20 giờ. Mọi việc được bà con triển khai chu đáo. Có điều địch chuẩn bị đánh lớn không được phổ biến, sợ dân hoang mang không có lợi. Đêm hôm đó tại xã Do Hải, lực lượng du kích tập trung thức trắng. Tất cả được đặt trong tình huống sẵn sàng chiến đấu. Tổ cứu thương huyện phối hợp với lãnh đạo xã đến từng hầm trú ẩn của dân, kiểm tra các dụng cụ cứu thương, ai thiếu bông băng, thuốc cấp cứu đều được cấp phát.
Để có được một ngày hòa bình, máu xương lại phải tiếp tục đổ. Mặc dù không ai nói ta điều này nhưng ai cũng ngầm hiểu như vậy. Đúng như dự đoán, khoảng ba giờ sáng ngày 26 tiếng súng đánh nhau nổ như ngô rang ở nam sông Cửa Việt, hàng loạt ánh chớp lóe lên kèm theo những tiếng ùng oằng dữ dội. Cùng lúc pháo binh của ta nhiều nơi nhất tề nhả đạn. Vùng đất nơi xảy ra chiến sự đỏ rực như một ngọn núi lửa. Cuộc chiến đã bắt đầu. Sau nhiều giờ chiến đấu khoảng 11 giờ ngày 27 tháng 1, ta đập nát toàn bộ các cánh quân của địch bắt sống 11 xe tăng M113. Hàng trăm binh lính tinh nhuệ thủy quân lục chiến đầu hàng, hàng trăm tên khác bỏ mạng, ta bắn cháy hàng chục xe tăng bọc thép, bắn rơi 4 máy bay các loại, thu nhiều quân trang quân dụng và vũ khí. Làm thất bại hoàn toàn chiến thuật chiến lược của địch, giữ vững vùng giải phóng.
Sáng ngày 28 tháng 1, sau lệnh ngừng bắn có hiệu lực một ngày, đơn vị chúng tôi được lệnh của tỉnh tăng cường vào giúp huyện Triệu Phong tổ chức biểu diễn văn nghệ, phục vụ cán bộ chiến sĩ ta ở các chốt, có cả quân ngụy Sài Gòn cùng xem. Chúng tôi reo hò đấm lưng nhau thùm thụp. Mặt mày người nào tươi rói như hoa hồng nở buổi sáng. Từ lâu ta nói chuyện với họ bằng súng đạn, họ với ta như ánh sáng và bóng tối. Nay có dịp đối mặt, cùng nhảy múa hát ca, cùng hút thuốc, ăn kẹo quả là chuyện lạ trên đời.
Chiều 28 tháng 01, chúng tôi đặt chân đến địa phận xã Triệu Thành. Trời vừa tối. Cách chúng tôi chừng 800 mét, giữa cánh đồng có ngôi nhà tôn đứng trơ một mình như tai nấm mồ côi. Tôi hỏi đồng chí bộ đội đang ngồi uống trà trong lán:
- Vùng đó bị bom đạn san bằng sạch, sao vẫn còn ngôi nhà? Đồng chí bộ đội cười, chỉ tay về phía ấy:
- Ngôi nhà đơn vị chúng tôi mới dựng lúc sáng. Anh em gọi đó là nhà "hòa hợp". Trưa nay bộ đội, du kích ta và lính thủy quân lục chiến ngụy gặp nhau tại đó. Tôi tò mò:
- Chắc là vui lắm đồng chí nhỉ.
- Chúng tôi mời họ thuốc lá Điện Biên, kẹo Hải Châu và hát cho nghe mấy bài. Còn họ thì...
- Họ thì sao? Tôi hỏi:
- Chả thấy đứa nào hò hát gì! Hình như bọn chỉ huy bí mật cấm lính tiếp xúc với chúng ta.
- Thái độ binh lính?
- Coi bộ ít chấp hành lệnh chỉ huy. Đêm qua cắm cờ, chúng nó chửi nhau như tát nước bè. Chỉ huy quát tháo lính, cấp dưới văng tục với cấp trên, khiến chúng tôi ôm nhau cười vỡ bụng. Tôi kèo nài:
- Xin đồng chí kể cho vài mẫu về chuyện vui đêm qua. Đỡ lấy chén trà Bắc Thái còn bốc khói, nhấp một ngụm đồng chí bộ đội sôi nổi: Trước khi lệnh ngừng bắn chúng tôi nhận mỗi người 20 lá cờ, đồng thời cũng chuẩn bị sẵn 20 chiếc cán vót nhọn, cách 10 mét cắm một lá. Việc này được ban chỉ huy đại đội phân định khu vực. Nhờ vậy khi có lệnh cắm cờ chúng tôi triển khai thuận lợi. Còn phía bên kia (ngụy) hầu như khâu chuẩn bị không tốt, mỗi đứa chỉ cắm được vài ba lá đã hết cán. Họ chưởi bới nhau in ỏi từ Nguyễn Văn Thiệu trở xuống, do thiếu cán, thừa cờ.
Sáng nay họ trải cờ lên mặt chiến hào, mỗi lá dằn lên bốn hòn đất ở bốn gốc để gió đừng cuốn mất, để đất trống sợ ta cắm cờ mặt trận vào thì khốn. Những chuyện đại loai như vậy nghe không khác gì chuyện tiếu lâm. Đêm đó đơn vị chúng tôi tổ chức biểu diễn văn nghệ phục vụ bộ đội du kích đóng quân tại xã Triệu Thành. Trời vừa chập choạng tối anh em đã kéo nhau đến ngồi kín bãi, khỏi cần thông báo. Tuy vậy chúng tôi vẫn phải cổ động trên loa để gây không khí hòa bình ở vùng giải phóng. Mặt khác cho binh lính sĩ quan ngụy bên kia cánh đồng nơi biểu diễn non chừng cây số cùng nghe.
Sau nhiều năm hoạt động, đêm nay lần đầu tiên chúng tôi biểu diễn mà chẳng sợ bom đạn của địch. Biểu diễn thật hưng phấn. Khán giả, diễn viên như quyện vào nhau. Ai nấy đều cảm thấy tâm hồn sảng khoái. Bao nổi cực nhọc trong những ngày chiến tranh hầu như tiêu tan, để lại trên khuôn mặt mỗi người nét rạng rỡ thân ái. Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 28 tháng 1 theo yêu cầu của các đồng chí bộ đội chúng tôi ra nhà hòa hợp. Ngôi nhà lợp bằng tôn ba gian không có tường, nhưng được trang trí khá tươm tất. Trong nhà có bàn nước khăn trải, bình hoa tươi và ghế ngồi. Phía ngoài cắm nhiều cờ phướn đủ màu. Đây là sáng kiến của bô đội ta đặng tạo ra nơi gặp gỡ sinh hoạt văn hóa văn nghệ nhân hiệp định hòa bình và đón tết cổ truyền dân tộc.
Tại chốt Triệu Thành địch có khoảng một tiểu đoàn thủy quân lục chiến, phần lớn người quê Nam Bộ. Sau vài chục phút chúng tôi triển khai xong công việc, chị Mỹ Lệ, anh Trần Nhiên và tôi được cử thay mặt anh em sang mời binh lính sĩ quan ngụy ra nhà hòa hợp xem ta biểu diễn văn nghệ. (Chị Mỹ Lệ lúc bấy giờ là cán bộ binh vận huyện Triệu Phong. Chị có giọng ngâm thơ rất hay. Còn anh Nhiên là chính trị viên tiểu đoàn quê ở Vĩnh Thủy, Vĩnh Linh). Ba chúng tôi vừa chạm chân đến phần đất bên kia, liền bắt gặp một sĩ quan thủy quân lục chiến mang hàm thiếu úy ra đón. Chúng tôi trình bày nội dung công việc, anh lấy bút ghi vào sổ có lẽ là sĩ quan trực ban. Đoạn bảo chúng tôi ngồi đợi, anh đi báo cáo với cấp trên. Lát sau anh quay ra bảo với chúng tôi cấp trên anh đã đồng ý cho binh lính xem biểu diễn. Chúng tôi mời thuốc lá rồi chia tay anh. Chúng tôi về đến nhà hòa hợp thì bộ đội ta đã tập trung đông đủ. Anh em hát, vỗ tay vang lên với bài "Vì nhân dân quên mình". Lúc này phía bên kia thủy quân lục chiến tốp năm tốp bảy lục đục kéo đến trước sân nhà hòa hợp khá đông. Buổi biểu diễn bắt đầu với ca khúc "Việt nam trên đường chúng ta đi", có múa phụ họa. Lúc đầu họ ngại không muốn đến gần. Bộ đội ta tỏa ra chia cắt đội hình của họ, mời họ vào ngồi gần sân khấu để xem cho rõ. Sau mỗi tiết mục, tiếng vỗ tay vang lên không những ở phía bộ đội ta, mà kể cả lính thủy quân lục chiến. Nhiều người đang xem bỗng bật khóc vì nhớ đến vợ con, tết đến xuân về mà gia đình chưa được đoàn tụ. Cũng có đứa ngoan cố bịa chuyện nói xấu ta, liền bị những đứa trong bọn dẹp ngay tại trận. Biểu diễn khoảng một phần hai chương trình thì chúng tôi thấy một lính ngụy ăn vận chửng chạc, đeo kín râm, tay cầm chiếc can từ trong lùm tre đi ra, cách nhà hòa hợp chừng 40 mét anh dừng lại đứng nhìn sân khấu. Chúng tôi nhận định đó là một sĩ quan chỉ huy. Ba chúng tôi cùng nhau đến gặp người này, đặng tạo quan hê bình thường giữa hai bên trên điểm chốt. Chúng tôi xáp mặt thấy trên ve áo anh ta mang hàm đại úy. Anh đưa tay bắt tay chúng tôi, nét mặt vẫn lạnh lùng. Sau vài phút tiếp xúc được biết anh là người xã Triệu Thành. Nơi đặt nhà hòa hợp là nền nhà cũ của anh ta. Anh Nhiên đưa thuốc lá Thủ đô mời, viên đại úy chậm chạp rút một điếu châm lửa hít hơi dài, nhìn chúng tôi:
- Các ông nói hòa hợp dân tộc nhưng bố mẹ tôi bị các ông bắt đưa giam nơi nào. Bây giờ trở lại quê nhà phải chịu cảnh chia tay. Như vậy làm sao tôi tin được các ông. Giọng nhỏ nhẹ, chị Mỹ Lệ giải bày:
- Không đưa các cụ ra khỏi vùng này thì bom đạn thằng Mỹ chẳng bỏ sót ai. Anh thấy đấy, quê mình có hàng vạn ngôi nhà. Chỉ sau hơn hai tháng Mỹ ném bom hủy diệt, bây giờ còn mảng tường nào sót lại đâu? Viên đại úy không trả lời, anh rít từng hơi thuốc dài, nhả khói làm mảng trời trước mặt anh đang xanh bỗng trở nên xám xịt. Chờ cho khói thuốc tan, chị Mỹ Lệ hỏi lại:
- Bây giờ anh có đề nghị gì chúng tôi không?
Viện đại úy lạnh lùng:
- Tôi rất muốn được gặp bố mẹ tôi, sớm ngày nào tốt ngày ấy. Chị Mỹ Lệ quả quyết:
- Được, tôi hứa!
Chúng tôi chia tay viên đại úy ra về. Trưa hôm đó chị Mỹ Lệ khẩn trương báo cáo lại tình hình với lãnh đạo huyện Triệu Phong, được các anh đồng ý. Chẳng bao lâu anh em đã tìm ra nơi sơ tán của bố mẹ người đại úy ngụy. Khoảng 16 giờ 30 ngày 2 tháng 2 bộ phận binh vận huyện đã đưa ông bà cụ ra ngôi nhà hòa hợp, sau khi cho xe đưa họ từ Quảng Bình vào. Gặp nhau tại nơi chôn rau cắt rốn, họ mừng mừng tủi tủi, nước mắt ràn rụa sau hơn một năm xa cách. Tận mắt thấy bố mẹ còn khỏe mạnh, viên đại úy đã có phần tin tưởng về chính sách hòa hợp của chính phủ ta. Mấy ngày sau đó quan hệ hai bên tại điểm chốt Triệu Thành được cải thiện khá tốt. Sau khi hiểu rõ chính sách khoan hồng của ta, nhiều binh lính ngụy tại nơi hòa hợp đã trở về với cách mạng.
Hòa bình từ hiệp định Pari mang lại cách đây tròn 30 năm. Vậy mà những kỷ niệm của ngày đầu ấy vẫn còn tươi rói trong tôi mỗi khi nhắc đến.
V.M.T




