Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 17/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Trở về

Ông Võ Văn Phương, sinh năm 1941, tại Triệu Phong, Quảng Trị, hiện cư ngụ tại thôn An Đức Một, xã Vĩnh Quang, Vĩnh Linh Quảng Trị, là người tôi đang muốn nghe kể về những chuyến đi biển. Với nụ cười cởi mở, nước da mặn mòi rám nắng gió, mới gặp tôi đã cảm nhận được ông là một con người từng trải của vùng biển. Ông vào chuyện một cách tự nhiên: Tôi tham gia vận chuyển cho đảo Cồn Cỏ được vài lần. Chuyến đi đầu tiên của tôi là vào ngày 10 tháng 5 năm 1965, chở đạn dược và lương thực. Thuyền của tôi có mười ba người, xuất phát từ mũi Hàm Rồng xã Vĩnh Kim, Vĩnh Linh. Lấy hàng từ trong hầm có bộ đội bốc xuống. Đúng bảy giờ tối xuất phát, khoảng mười hai giờ đêm thì tới đảo. Chúng tôi cặp thuyền vào bến Nghè, ngủ lại đảo một đêm. Bảy giờ tối ngày hôm sau, chúng tôi trở về đất liền an toàn.

Chuyến đi tiếp theo mười hai thuyền ra đảo Cồn Cỏ, thì bị tàu địch bao vây, các thuyền của ta điện vào đất liền, pháo lớn của ta bắn ra yểm trợ. Thuyền của tôi bị pháo nổ gần nên bị rạn nứt, nước vào nhiều. Hai người trên thuyền của tôi liên tục tát nước để thuyền khỏi bị chìm. Lúc này gió mùa Đông Bắc kéo về, mưa to, gió lớn, các thuyền của ta không liên lạc được với nhau nên mạnh ai nấy chạy. Thuyền của tôi bị dạt về phía Nam, cách đảo Cồn Cỏ mười lăm cây số. Gió to buồm lớn không dám chạy, chúng tôi phải hạ buồm lớn xuống, lấy chăn mền làm buồm nhỏ để đi được tới đảo Cồn Cỏ.

Sau chuyến đi bão táp của mười hai thuyền nói trên, địch mở đợt mới bao vây phong tỏa đảo Cồn Cỏ. Ở đất liền ta chưa củng cố lại được lực lượng vận tải tiếp tế cho Cồn Cỏ. Đến ngày 2 tháng 9 năm 1965, đơn vị đã củng cố được hai thuyền. Một thuyền do anh Nghi ở Vĩnh Quang làm thuyền trưởng, còn một thuyền do anh An chỉ huy. Ngày 5 tháng 9 năm 1965, hai thuyền xuất phát từ bến Hàm Rồng, Vĩnh Linh, lúc bảy giờ tối. Trên thuyền tôi có mười ba người đều là bộ đội đơn vị C22, tôi cũng ở đơn vị này, mới nhập ngũ được mấy tháng, là binh nhất. Anh An là trung sỹ, người ở xã Vịnh Mốc, Vĩnh Linh, chỉ huy thuyền của tôi. Thuyền chở những tấm gỗ lớn, dày ra cho đảo làm Bong ke. Thuyền đi cách đảo bảy ki lô mét thì nghe tiếng tàu của địch. Tôi có đề nghị hạ buồm vì lúc đó lính mới nhiều, một số say sóng, nước vô thuyền nhiều, nhưng anh An không chịu. Thuyền do anh Nghi làm thuyền trưởng ra được đảo an toàn, còn thuyền của tôi do lúc đó mưa to, gió lốc, nước tràn vô thuyền, sáu người tát không kịp nên bị đắm. Trên thuyền có phao tre (cây trục cột buồm), mười ba anh em bám vào phao tre mà bơi.

Hai ngày hai đêm lênh đênh trên biển cả mênh mông, vừa đói vừa khát, ai cũng mệt mỏi, chán ngán. Anh An nói, trước sau rồi cũng chết, chi bằng mỗi người mở một quả lựu đạn, cùng hi sinh, không để cho địch bắt sống. Tôi không tán thành, tôi nói, không nên làm như thế, cũng có thể có người còn sống sót, ai yếu thì gắng níu cột buồm, còn ai khỏe thì cố gắng bơi, còn hơi thở thì phải còn cố gắng. Cuộc chiến đấu của chúng tôi, những người đuối sức, với biển cả bước sang giai đoạn phân tán, hết sức gay go.

Tôi ôm phao tre bơi đến ngày thứ ba thì chỉ còn cách đảo Cồn Cỏ khoảng một ki lô mét về phía Nam. Tôi cởi áo lót giơ lên cao, gào rát cả cổ nhưng giữa biển mênh mông không ai nghe, cũng chẳng ai nhìn thấy tôi kêu cứu. Tôi hoàn toàn mất hút trong sóng nước bao la. Tôi thực sự thất vọng, một thân, một mình lênh đênh trên biển cả. Mưa to, gió lớn cứ trôi dạt, chả biết đi tới đâu nữa, xung quanh thì bốn bề sóng nước. Vừa khát nước vừa đói bụng, cơ thể mệt mỏi rã rời. Sáng ngày thứ tư, tôi cởi ống nhòm ra xem, vẫn nhìn thấy đảo Cồn Cỏ nhưng chỉ là một chấm nhỏ xíu, biết mình đã lạc ra ngoài khơi xa, tôi càng lo lắng hơn. Bơi trong vô vọng đến ngày thứ năm thì tôi gặp anh Sồ, người xã Vĩnh Thành, cũng bị sóng gió đánh dạt ra khơi. Gặp nhau giữa biển, chúng tôi mừng vô hạn. Lúc cô độc mà có người quen thì còn gì bằng. Chúng tôi như được tiếp thêm sức mạnh. Phao tre của anh Sồ bị bể, vô nước, không dùng được nữa nên anh Sồ buộc phải vứt phao tre. Vậy là hai người chỉ còn lại một chiếc. Chúng tôi vừa bơi, vừa động viên nhau cố gắng.

Trăng mồng mười rất sáng, bầu trời cao xanh, lấp lánh những vì sao xa. Biển đẹp. Song lúc này cái đẹp của biển cả đối với chúng tôi không còn có ý nghĩa gì nữa. Hai anh em tiếp tục bơi giữa bốn bề sóng nước. Khoảng hơn một giờ sáng, chúng tôi gặp đàn cá mập, có con rất to đang tiến đến gần. Chúng xông đến tấn công rất mạnh mẽ, còn hai anh em chúng tôi chủ yếu là né tránh và dùng phao tre tấn công lại yếu ớt. Cứ như thế, hai bên vờn nhau. Một cuộc chiến không cân sức. Bên chúng tôi gần như kiệt sức, còn ở bên kia, lũ cá mập hung dữ, chúng đang làm chủ biển khơi. Điều gì đến, phải đến. Một con cá mập đớp vào chân anh Sồ, làm tuột hết phần thịt chỉ trơ còn xương. Anh Sồ đau điếng, kêu lên. Cứ thử tưởng tượng, bị thương mà xát nước muối vào nữa thì buốt đến nhường nào. Anh Sồ phải chịu đựng ghê gớm lắm. Tôi hoảng hồn lo lắng cho anh Sồ và cũng lo cho chính bản thân mình. Tôi đinh ninh cái chết đã gần kề, thế nào cũng bị cá mập nuốt. Mấy con cá mập sau khi gặm được thịt của anh Sồ, chúng đuổi theo nhau để tranh ăn, nên biển vắng đi một lát. Hai anh em chúng tôi lo sợ, cố bảo vệ và động viên nhau. Anh Sồ ôm vào cổ tôi, còn một chiếc phao tre, chúng tôi cố bám vào đó. Trên mình mỗi người cũng chỉ còn một chiếc quần đùi. Khoảng chừng ba mươi phút sau, một con cá mập to, giống như mũi tên khổng lồ đang lao tới. Anh Sồ nhìn thấy nó, hét lên chết chắc rồi. Con cá mập trườn thẳng qua chúng tôi làm anh Sồ văng ra. Nó quay lại đớp ngay lấy anh Sồ. Mấy con khác lập tức lao theo con cá mập vừa đớp được anh Sồ và đuổi theo nhau mất hút vào biển khơi.

Lúc này chiếc phao tre cũng tự nhiên biến mất và tôi lo lắng đến tột cùng. Bụng của tôi, con cá mập trườn qua, bị xước, đau nhức và thầm nghĩ trước sau mình cũng chết. Tôi chắp hai tay lại, đưa lên vái vong linh của anh Sồ, cầu xin Trời Phật phù hộ cho lại chiếc phao. Ngay lúc đó, chiếc phao bị con cá mập ấn xuống nước, khi trườn qua chúng tôi, trồi lên trở lại. Tôi mừng rơn vội ôm lấy phao tre, nằm lên, bơi đi. Biển như trở lại yên bình.

Nằm trên phao tre đến ngày thứ bảy thì sóng đánh dạt gần tới bờ, cách bờ khoảng một ki lô mét. Tôi mừng thầm cố đưa hai tay khoát nước lái chiếc phao theo hướng bờ nhưng không tài nào điều khiển được vì sức không còn cản được những con sóng lớn. Sóng lại đánh tôi trôi dạt ra xa dần, cách bờ khoảng bảy ki lô mét và hầu như tôi không còn chút sinh khí nào. Trời bắt đầu tối dần, cả một vùng biển đen kịt, chẳng nhìn thấy gì. Đêm tối giữa biển mênh mông thật đáng sợ.

Một chiếc thuyền ra bủa câu, trên ghe có ba người, ba cha con. Chiếc thuyền chạy trượt qua người tôi may mà không vướng vào chân vịt. Tôi bị đau nhức, kêu lên một tiếng nên người lái thuyền nghe thấy và vớt tôi lên thuyền. Ai cũng ngạc nhiên, cả người tôi trượt qua bánh lái mà chân vịt không chặt tôi một chút trầy xước mới lạ. Tôi mơ màng hỏi:

- Đang ở đoạn mô hè?

- Trong Đà Nẵng.

- Các anh định đưa tôi về đâu?

- Cái đó quyền của chúng tôi, miễn anh sống là được rồi.

Thuyền của ba cha con đánh cá chạy về cửa biển Tư Hiền. Chủ ghe lên đồn cảnh sát báo, liền sau đó hai tên cảnh sát xuống dẫn tôi lên, người lúc này mệt mỏi rã rời không thể nhấc lên được nhưng chúng buộc phải đi. Sau này, tôi nghe nói lại, vụ đó ba cha con người đánh cá được tụi cảnh sát thưởng ba vạn tiền ngụy. Đúng là đồng tiền làm mờ con mắt người ta. Thật đáng hổ thẹn!

Bị bắt cùng tôi tối hôm đó còn có ông Lô. Ông Lô cũng đi chung một chuyến với tôi ra đảo Cồn Cỏ, bị lạc, cũng bị chiếc thuyền này vớt trước đó. Chúng giam hai chúng tôi vào hai phòng trong đồn cửa Tư Hiền. Khoảng bốn giờ sáng, chúng mang chúng tôi ra đánh đập, bắt khai báo. Chúng tôi trước sau vẫn trả lời mình là người đi đánh cá. Lúc này tôi vừa mệt, vừa đói nhưng chúng không cho ăn uống. Đánh đập một hồi, không khai thác được gì, chúng thôi không tra khảo nữa. Ai cũng bị bầm dập, mặt mày xây xẩm. Một người lính còn trẻ khoảng mười bảy tuổi, mang một cốc sữa, một viên thuốc tan máu cho tôi. Người lính đó nói: “Chú uống đi cho đỡ, nhiều người vô đây bị tấn đến chết”. Tôi cầm cốc sữa và viên thuốc uống thầm cảm ơn người lính tốt bụng.

Sau hai ngày không cho ăn, đem phơi nắng, da trên người tôi như bung ra. Từng lớp da tróc dần, lộ ra lớp da non đỏ hỏn, toàn thân đau nhức. Tên ngụy tra tấn tôi khoảng ba mươi tuổi, đeo quân hàm thiếu úy, có một bông mai, nói giọng Huế. Hắn đánh tôi không tiếc tay. Hắn còn nói, phải đánh đến khi nào khai ra mới thôi. Con mắt của hắn nhìn tôi long lên sòng sọc, như muốn ăn tươi nuốt sống. Khiếp thật!

Một tuần sau, ngày 12 tháng 9 năm 1965, chúng bịt mắt đưa tôi và anh Lô ra đồn Mang Cá ở Huế. Một tên nhìn cái bụng tôi bị trầy xước, lại biết tôi được vớt lên ở vùng biển Đà Nẵng nên hắn hù dọa mang chúng tôi đi cho cá mập ăn. Ngày ấy, vùng biển ở Đà Nẵng có rất nhiều cá mập, cũng vì tụi cảnh sát giết người cách mạng và thường đem xác ném xuống biển. Cá mập ăn quen xác người nên tụ tập về đây nhiều. Nghe mà dựng tóc gáy! Chúng chở chúng tôi bằng ca nô, đi qua phá Tam Giang, chui qua cầu Tràng Tiền. Từ cầu Tràng Tiền chúng tôi được đưa lên xe, chở về đồn Mang Cá. Đến Mang Cá lúc trời chạng vạng. Mặt trời ở phía Tây vẫn còn đỏ lựng. Cái nóng phả hầm hập vào da thịt người. Không khí khó chịu và buồn tênh. Chúng đưa chúng tôi vào nhà tù của đồn, nhốt chung với mười hai, mười ba người khác. Chúng phát cho mỗi người một bộ áo quần. Những người trong tù cho thêm chúng tôi quần áo để mặc. Trong tù, người ta mới hiểu, thông cảm và thương nhau hơn. Ở đồn Mang Cá ba tháng, chúng hỏi cung chúng tôi ba ngày. Vẫn là mấy tên có nhiều kinh nghiệm thẩm vấn, vặn tới, vặn lui những lý do bị bắt. Nhưng chúng tôi vẫn chỉ khai là người đi đánh cá bị trôi dạt. Sự khôn khéo của chúng tôi làm lung lay sự kiên nhẫn của địch. Chúng tỏ ra rất bực bội nhưng không làm gì được.

Đầu tháng 11 năm 1965, chúng bịt mắt và chở chúng tôi bằng máy bay trực thăng vô lại Đà Nẵng. Khi vô đến nhà lao Đà Nẵng, chúng giam vào căn hầm chật hẹp, hôi hám ẩm mốc. Những ngày sống ở đây, chúng tôi giống y những con thú bị cầm nhốt. Chúng chỉ hỏi cung chúng tôi vào ban đêm. Tại đây, tôi gặp tên Lộc, chồng của chị Vét bơi thúng đi vô Nam, bỏ lại chị Vét cùng mấy đứa con nhỏ ở quê. Lộc trước sống ở Cửa Tùng, đi làm nghề câu cá, vượt tuyến vô Nam, làm an ninh quân cảnh của ngụy. Hắn tra tấn tôi bằng điện, dùi cui. Hắn viện lý do là khi sống ở quê bị o ép, phải vô đây, rồi điên cuồng đánh như để trả thù, không thương tiếc. Hắn dùng hết sức đánh tôi một cái toạc da phải khâu mất sáu mũi. Tôi giải thích là lúc đó tôi còn bé nên không biết, còn bây giờ tôi đi đánh cá không may bị trôi dạt...

Giam đến tháng 7 năm 1966, chúng không khai thác được gì vì chúng tôi chỉ khai là dân đi đánh cá nên chúng chuyển sang trại B nhà lao Đà Nẵng, cách chỗ cũ khoảng ba, bốn trăm thước. Ở đây, chúng bắt đi bốc gạo xung quanh Đà Nẵng. Tuy vất vả, cực nhọc nhưng dễ thở hơn vì không còn lo phải đối phó với tụi thẩm vấn.

Ở trại B tình cờ tôi gặp ông Thí làm công việc kiểm tra tù ăn. Ông mang lon trung tá ngụy. Tôi và ông đều biết nhau. Ông là người ở Mỹ Chánh, Hải Lăng Quảng Trị, lấy bà Võ Thị Tứ ở thôn An Đức Một, làng tôi. Khi gặp mặt, tôi thực sự lo lắng vì hồi ở nhà ông biết tôi vào bộ đội. Tôi nghĩ bụng, thế này thì hết đường thoát và chưa biết cách để đối phó với ông như thế nào. Có thể đây là lần cuối cùng chấm dứt những lời nói dối của tôi với chúng nó, vì không thể nói dối trước một người đã biết rõ tường tận về mình. Một lần, chờ tôi ăn cơm, rửa cà mèn xong, ông Thí kêu tôi ra hỏi:

- Mi có biết tau không?

- Dạ biết chứ, nhưng giờ thì tôi là cá nằm trên thớt rồi.

- Tại sao mi nói vậy?

- Vì tôi đã bị bắt, tôi trả lời. Ông Thí nhìn tôi với ánh mắt thân thiện. Trong con mắt của ông như có ngọn lửa nhỏ, thắp sáng niềm tin, làm vơi đi sự lo lắng trong tôi. Chợt ông buông một câu: - Ăn cơm quốc gia, thờ ma Cộng sản. Ông cho tôi biết ở nhà đơn vị đã báo tử tôi rồi. Rồi ông dịu giọng nói: - Trong tù cháu khai báo rất tốt, bây giờ dượng giao nhiệm vụ cho cháu phải tiếp tục hoạt động ở trong tù. Cháu tìm cách tổ chức cho năm đồng chí bộ đội trốn thoát. Việc này chỉ dượng và cháu biết, không được nói với ai. Tôi thật sự không ngờ, mỗi một bước đi của chúng tôi, cơ sở của ta đều theo sát và nắm rất rõ. Năm đồng chí bộ đội sau đó được tổ chức trốn thoát an toàn.

Tháng 9 năm 1966, ông Thí tổ chức cho tôi về. Từ Đà Nẵng chúng tôi đi bằng máy bay Đa Cô Ta ra sân bay Ái Tử, huyện Triệu Phong. Từ Ái Tử đi bằng xe tải màu xanh ra Hiền Lương. Bên chính quyền ngụy trang bị cho chúng tôi mỗi người một bộ quần áo và túi xách. Việc trao trả được tổ chức ngay trên cầu Hiền Lương. Chúng tôi thực sự sung sướng được bước đi trên chiếc cầu lịch sử, trong lòng trào dâng một tâm trạng khó tả. Trước mặt tôi, bên bờ Bắc, lá cờ đỏ sao vàng phấp phới bay đang vẫy gọi làm chúng tôi tự tin hơn. Khi trao trả, anh em chúng tôi vứt hết đồ đạc, áo quần, túi xách mà chúng trang bị, chỉ mặc một chiếc quần đùi. Qua bên kia bờ Bắc, chúng tôi mặc áo quần bộ đội, lên xe về Quảng Xá. Các chiến sĩ công an, bà con ở bờ Bắc đón chúng tôi như đón những người thân đi xa trở về với tình cảm dâng đầy và cảm động.

Lúc mới trả về, người chúng tôi ốm nhom bởi cuộc sống thiếu thốn và hà khắc của Mỹ - ngụy. Chúng tôi ở Quảng Xá một tuần rồi cấp trên cho chúng tôi ra Quân khu an dưỡng tại Thanh Chương, Nghệ An và học chính trị. An dưỡng xong, tôi được bổ sung về đơn vị pháo cao xạ Đô Lương Nghệ An, rồi chuyển về Trung đoàn 254 pháo cao xạ Quảng Bình. Cuối năm 1973 tôi được phục viên với cấp hàm trung sĩ.

Vĩnh Linh - một mảnh đất ở trong mỗi con người, mỗi tấc đất là những nhân chứng lịch sử nhưng chất chứa đầy tính huyền thoại, càng khám phá người ta càng thích thú. Câu chuyện về ông Võ Văn Phương và những chuyến đi đầy bão táp của những người anh hùng trong công cuộc giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, là một câu chuyện điển hình trong hàng ngàn câu chuyện ở mảnh đất giới tuyến “Lũy thép, lũy hoa” này chưa bao giờ khám phá hết được.

Đ.T.S

 

 

ĐÀO TRƯỜNG SAN
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 257

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

18/04

25° - 27°

Mưa

19/04

24° - 26°

Mưa

20/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground