Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 17/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Trở về với quê hương

LTS. Hơn 60 năm trước, nhà báo trẻ Phan Quang của báo Cứu quốc Liên khu 4, theo các đơn vị trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để đưa tin, viết bài, làm công tác vận động quần chúng trong vùng địch chiếm đóng. Với đặc thù công việc của một nhà báo chiến trường nên ông ghi chép tài liệu rất cẩn trọng và chuyên cần, ngay tại trận địa, không chỉ giúp cho các bài báo kịp thời, có chi tiết chân thực lúc đó, mà mấy mươi năm sau những trang viết về cuộc chiến Vệ quốc vĩ đại giải phóng dân tộc ngày ấy vẫn đầy xúc động và thấm đẫm tình quân dân…

Nhân tập sách Nhật ký kháng chiến với tựa đề “Một mảnh tình riêng - Từ nguồn Thạch Hãn đến bờ Hồ Gươm” của tác giả vừa xuất bản, CV. trích đăng phần ghi từ cuối năm 1949 – đến cuối năm 1950 tại quê hương Quảng Trị. Trân trọng kính giới thiệu.

Trở về với quê hương

... 15 - 11 - 1949. (Chiến khu Ba Lòng, Quảng Trị). Hôm nay một ngày vất vả nhưng nhiều cái may. Con đò từ Bến Trấm ngược dòng sông Thạch Hãn trong đêm, tinh mơ mới cập bến Ba Lòng. Tìm mãi mới gặp trạm giao liên. Anh trưởng trạm hơi ngỡ ngàng gặp anh cán bộ nói đặc giọng quê miềng, rứa mà coi giấy tờ thì ra ông nhà báo từ ngoài vùng Liên khu vô mãi tận đây. Liền gọi một chú giao liên giao nhiệm vụ. Chú tươi cười: “Dạ, eng muốn đi mô em đưa eng tới nơi. Nhưng lúc ni gần trưa rồi. Phải ăn chút chi cho chắc bụng đã rồi đi mô mới đi. Eng ăn cơm tạm với bọn em. Ngó rứa nhưng đường xa lắm. Đói không leo rừng được mô”.

Quảng Trị, Thừa Thiên cữ này đang giữa mùa mưa, cái bãi bồi ven sông phủ lớp bùn non, phải tháo dép đi chân đất mới đỡ trơn trượt. Đến chân rừng già, xuống suối rửa chân thật sạch, mang dép vào. “Eng cẩn thận, lỡ đạp phải côộc cây dưới lá giữa đường mòn thì có khi lủng (thủng) chân đó” - chú lại dặn. Mà phải đi mau, không đến nơi trời tối em không trở lui trạm kịp. Đêm mô cũng có việc”.

Tôi theo em loay hoay trèo lên tụt xuống mấy cái dốc, vào giữa rừng già mới thấy xa xa có trạm anh bộ đội cầm súng gác. Chú giao liên nói: “Eng đến trình giấy tờ. Em không được phép vô bên trong. Em về đây”.

Anh bộ đội đọc kỹ “Giấy thông hành” (giấy công tác) của tôi rồi chỉ đường cho đi tiếp. Qua hai trạm gác nữa, khá xa nhau mới tới được cơ quan Phân khu bộ Quân sự. Chỉ huy trưởng Hà Văn Lâu chuẩn bị đi công tác. Anh bộ đội cận vệ của thủ trưởng đã đeo ba lô trên vai. May mà anh Hà Văn Lâu và tôi có quen nhau ở Thừa Thiên, hồi mặt trận Huế mới vỡ. Xem giấy tờ xong, anh tươi cười ngồi ghé xuống bàn tre, rút cây bút tự tay viết giấy giới thiệu cho phép phóng viên về sinh hoạt với các đơn vị bộ đội. Anh trực tiếp dẫn tôi sang cái lán bên, bảo cô văn thư đánh máy luôn cho anh ký tên, đóng dấu rồi đưa tôi, giọng cười cười: “Cầm cái ni, từ cấp trung đoàn trở xuống, anh muốn về sinh hoạt với đơn vị mô thì về, và bất cứ lúc nào”.

Bắt tay nhau, anh lật đật lên đường. Phải ra bến sông ngay, nếu không có thể lỡ chuyến đò. Anh về Bến Trấm, rồi lên xã Phong Sơn (huyện Triệu Phong), xuôi về vùng xen kẽ, chỉ đạo các đội du kích địa phương. Lúc này tôi mới đọc tờ giấy giới thiệu, “cho phép ông Hoàng Tùng phóng viên báo Cứu quốc Liên khu IV ở Phân khu Bình Trị Thiên được phép lưu động trong các đơn vị bộ đội Vệ quốc đoàn và Dân quân cùng các mặt trận trong Phân khu để thi hành phận sự”.

Có tờ giấy này lận lưng kèm Thẻ nhà báo, lại có thêm Giấy thông hành Liên khu ủy cấp nữa thì yên tâm quá.

20 - 11 - 1949. Tranh thủ đến trình giấy tờ sinh hoạt Đảng với Tỉnh ủy Quảng Trị. Lại gặp may. Anh Trần Trọng Hoãn, trước từng làm việc với nhau ở Đoàn thanh niên Cứu quốc, nay gọi theo bí danh là Anh Tân vừa được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy. Anh cho nghe đôi nét tình hình, dặn dò những nơi nên đến, những vùng hẵng tạm tránh để đỡ hiểm nguy, tối thiểu ba tháng cố gắng đến đây một lần để Ban Tổ chức ký ch?ng nh?n l? anứng nhận là anh vô đây có tham gia, chứ không bỏ bê sinh hoạt Đảng.

Lại phải xuôi Bến Trấm, về đồng bằng theo đường ven biển vào Thừa Thiên. Vùng này mình quá quen, đi lại không biết bao nhiêu lần trên con đường số 68 từ chợ Sãi Quảng Trị vào thôn Vân Trình rồi dọc theo doi cát ven bờ phá Tam Giang mà qua Cửa Thuận.

Cứ lên đường đã, đến đâu hay đó. Phải làm sao có bài gửi về tòa soạn, chứ mình đi đã hai tháng rồi, chắc ở nhà sốt ruột, phóng viên kiểu chi mà biền biệt không thấy tăm hơi.

Tết ở Đại đội 150. 17 - 2 - 1950.

(Đồng bằng huyện Hải Lăng, Quảng Trị). Mùng một Tết Canh Dần.

Tết kháng chiến lần thứ tư có vẻ thanh bình. Đường gió lạnh nhưng vẫn đông người. Bộ đội, đồng bào. Áo trấn thủ, mũ cao bồi chiến lợi phẩm lấy được của địch lẫn với tà áo vải dù bay, chiếc nón dinh mới. Có phải vì lạnh mà người ta thích đi, dù là đi ra chỗ gió? Các quán dọc đường cửa he hé nhưng bên trong đông người, hầu hết là bộ đội xa quê. Đôi nơi mùi bánh khoái bay ra thơm, làm chảy nước miếng.

Đồng bào sửa soạn Tết khá rộn. Năm nay bộ đội về ăn Tết với bà con giữa xóm thôn, ai cũng vui, nhất là vững dạ. Dẫu sao cũng yên ổn được trong mấy ngày đầu xuân. Ba năm rồi, ở vùng này ba lần Tết không ra gì. Lần đầu, thật ra không có Tết; Tây đổ bộ nhằm vào hôm tất niên, ai nấy lo gánh gồng chạy tản cư. Năm sau, Tết trong vòng kiểm soát của địch, nấu nồi bánh tét cứ che che giấu giấu, chỉ sợ bọn lính Bảo vệ xộc vô khuân đi. Năm ngoái, Tết về, đã có chút tự do nhưng nhiều người dân vẫn phập phồng. Đêm giao thừa, cả gia đình ngồi quanh nồi bánh tét, nơm nớp chờ nghe tiếng mõ báo động. Tết năm nay, có bộ đội mình về, tha hồ vui xuân nhé.

Đường sá xóm làng được sửa sang. Dưới mưa phùn lạnh, dân làng kéo nhau ra cuốc cuốc cào cào, áo các o bay phấp phới. Các chị, các o gánh từ trên rú về những gánh cát trắng như gánh theo cả nguồn vui. Đường làng được mặc áo mới, trắng màu tinh khiết. Đi ngang qua đồng lúa, nhìn về làng trông như dải thắt lưng thao mới của một cô mặc áo màu xanh của tre, chè, mít, chuối...

Hôm qua, ba mươi Tết, có tiếng heo kêu, tiếng chày giã gạo - chắc chắn là gạo nếp rồi. Giã thêm vì có thêm bộ đội về. Trên đường làng, anh lính nội vụ (cấp dưỡng) đi lẫn với đồng bào ai cũng vội vàng bận rộn, hướng về phía “chợ kháng chiến”. Mọi người đều vội. Cuối năm, hình như trái đất xoay nhanh hơn. Và máu cũng chảy mạnh hơn - vì trời lạnh.

Thấy đường đi xuôi gió, tôi nhập vào đoàn. Cái chợ tạm, họp trong lùm cây sát hàng mưng được trồng từ xưa làm mốc giới giữa hai làng Phương Lang và Cổ Lũy. Chật ních người đi chợ Tết. Người nào cũng kè chiếc áo tơi cùng cái lịp (nón lá). Dưới mái tranh mấy cái chòi tranh nhỏ dùng làm quán bán hàng, các cô hàng xén ngồi chờ khách, chợ Tết khác ngày thường là trước mặt các cô có thêm hai thẩu quả xếp bánh thuẫn và bánh in (bánh làm bằng bột nếp đóng khuôn) ngoài bọc giấy lục, giấy hồng. Phiên chợ thành ra càng đầy màu sắc. Rau cải xanh. Thịt bò đỏ. Cải củ trắng. Tơi nón xám. Áo quần đen. Khăn choàng nâu. Rõ ràng là một phiên chợ Tết, chỉ thiếu màu sặc sỡ của bó hoa làm bằng giấy ngũ sắc và mấy cái lung tung dành cho trẻ.

Ban chỉ huy Đại đội cho người ra mời tôi về dự lễ tuyên thệ của Hội đồng binh sĩ vừa mới bầu xong sáng nay, ba mươi Tết.

Trong đình làng rộng thênh thang, lúc này đã đông nghịt những chiếc áo trấn thủ xám, bộ áo quần bộ đội hầu hết bạc màu. Đây là giờ anh em được tự do khi chờ đến khi làm lễ. Trống nện thùng thùng. Không khí vui nhộn lan khắp đội viên và cán bộ như một chén rượu nồng. Bộ đội hát thật to, reo hò đến vỡ cổ. Một bài hát vừa dứt, hay có câu ai nói dí dỏm là mọi người cùng hoan hô, hoan hô, tung mũ lên trời. Trống kẻng, mõ tre thẳng tay nện. Bỗng một giọng hát cất lên trong đình, có anh chính trị viên tiểu đoàn vừa đến tham dự. Trông bộ đội hát vui quá. Hai ba người múa tay theo nhịp. Một đội viên cầm mõ đánh, đánh mạnh quá cái dùi bay đâu mất, anh vác cái mõ nện luôn vào cột đình cho phát ra tiếng. Gió lạnh cuối năm không có ở đây, dù ngôi đình làng bốn bề trống lộng.

Các thành viên mới được bầu của Hội đồng binh sĩ Đại đội 150 ra mắt và làm lễ tuyên thệ. Nhà báo được mời lên phát biểu ý kiến. Tôi phải nghẹn ngào thú thực mình rất cảm động. Nói xong, vừa thốt ra hai tiếng cảm ơn, anh em bộ đội đã hùa tới, nhấc bổng tôi gieo vào dòng vui hồn nhiên, phấn khởi của họ, đuổi hết trong tôi nỗi buồn vô nghĩa, cuối mùa của anh tạch tạch xè (tiểu tư sản), chút sầu ba mươi Tết xa nhà, xa bạn, không gặp được ai quen thân.

Buổi chiều, ăn bữa cơm đoàn kết tất niên. Bữa tiệc này toàn do anh em cán bộ nấu, để cho các đội viên nội vụ thảnh thơi một ngày, đi bầu Hội đồng binh sĩ. Bên ngoài mưa bắt đầu rơi rồi nặng hạt dần. Tiếng mưa rơi xuống các tàu lá chuối lộp bộp nghe như âm vang trống mõ ban sáng.

Gió lạnh, cải ngoài vườn nhà đều nở trông như một bầy bướm vàng bất động. Không có chi mời khách, bà mẹ chủ nhà đội nón ra vườn, tìm hái mấy quả ớt tươi chia cho mỗi mâm vài quả. Anh em ngồi vào mâm, chén tự nhiên, vui như hội. Cơm và thức ăn nấu đã lâu, có phần nguội mất rồi, nhấm nhiều nhiều ớt vào, các đồng chí nghe - anh cán bộ hôm nay làm đầu bếp xoa xoa hai bàn tay.

Đến gần nửa đêm, chúng tôi cùng thức dậy đợi giao thừa. Ngồi tựa lưng sát vào nhau, cùng uống ngụm nước chè tàu, nhấm lát mứt gừng - một chút quà đặc biệt đơn vị dành dụm từ bao lâu - cho ấm cổ mà nói chuyện tâm tình. Sao những ngày giao nối giữa hai năm Sửu và năm Dần này trời rét đến thế nhỉ! Da cứ tê đi, cả người đét lại; được bao nhiêu áo quần đem ra mặc, người bó chặt như con mắm. Gió mùa đông bắc làm môi nứt nẻ, thỉnh thoảng thè lưỡi liếm thấy miệng mình khô khốc. Đêm ba mươi Tết, anh đại đội trưởng đi nghiên cứu địa hình, nơi đơn vị sẽ ém quân đánh trận đầu năm trở về, cứ la rét om lên. Rét cóng tay, mình không có cách nào mở được mấy chiếc cúc quần để... Anh em bộ đội lại không có đủ chăn dày, mấy hôm nay không đêm nào ngủ thẳng giấc. Hai giờ sáng, đã lục đục kéo nhau dậy nói chuyện nhảm, chọc khuấy nhau cho ấm người. Một cán bộ trung đội nói với tôi:

- Đầu mùa rét này, tôi được nhận cái mền (cấp theo tiêu chuẩn) ở Quân nhu, anh ạ. Nhưng đến cái trận Phò Trạch vừa rồi, thấy anh em chết chôn trần tội quá, tôi cho luôn cái mền. Hy vọng ra giêng, chắc cũng sắp hết rét.

Buổi trao đổi đầu năm hóa thành câu chuyện tâm tình. Giọng nói mọi người càng lâu càng nhỏ lại, như tỉ tê với nhau. Chuyện nhà, chuyện cửa, chuyện tình duyên... “Các cậu ạ, mình nói thiệt...”, - “...Tao kể, bọn bay đừng cười...” Tiếng càng nhỏ nhẹ, ngọn đèn dầu hỏa bé tí hình như tỏa ra hơi nóng nhiều hơn. Mứt gừng cũng làm cho ấm giọng. Khói thuốc nội hóa nhãn hiệu PAX tỏa say say. Ồ, đây là một gia đình ấm êm nhất. Bà con dân làng cùng bộ đội hút thuốc lá PAX (Hòa Bình), cùng ước mơ chuyện mai sau...

“... Nói thiệt, hôm kia lên xin phép ban chỉ huy mình ngượng ghê. Chỉ tại gia đình mình phong kiến quá. Ai lại đến bữa ni mà lại nhắn con về cưới vợ trước Tết. Mình xin là xin rứa thôi, chứ đã biết trước là không được phép. Bỏ tiểu đội mình cho ai lúc này? Chẳng qua để có cái cớ viết thư cho ông bố, ông khỏi rầy... Vợ con cái con khỉ! Sang năm độc lập rồi, có chuyện chi mới tính...”.

20 - 02 - 1950. Hành quân năm mới.

Hôm nay mùng bốn, hết Tết rồi.

Trên bàn thờ, một vài bông mai bắt đầu rụng cánh. Đã qua ba hôm vui Tết, sáng mai xuất quân năm mới sớm - anh em bộ đội đêm hôm qua thì thầm với nhau trước khi đi ngủ. Gió vẫn lạnh, mưa chưa thấy thưa hạt. Trời rét quá, vẫn rét cứng người; da cứ tím lại, càng sần sùi.

Anh em cán bộ trong Đại đội đã lên Tiểu đoàn ăn “tiệc” đầu năm, bữa cơm đoàn kết chấm dứt ba ngày xuân vui chơi và mở màn năm mới chiến chinh. Những ngày đầu năm Canh Dần này, giá mà trời cho ấm lên môt chút thì con người cứ là phơi phới. Nghe nói năm nay tích cực chuẩn bị, tiến tới tổng phản công. Tổng phản công - có người bảo chớ có tếu quá, khó khăn trước mắt vô vàn. Ồ, chúng ta có quyền lạc quan. Ai đó có đặt ra câu sấm: “Năm con cọp, về đồng bằng”, có biết rằng mình lạc hậu quá rồi không? Chúng ta đã về với đồng bằng, với ruộng nương từ cái năm chuột, năm trâu kia. Năm con cọp thì phải vào luôn các phố phường mới thú vị. Vào đi! Vào mà bước dạo trên mặt cầu Tràng Tiền, mà mở phiên tòa xử tội mấy đứa Việt gian bán nước...

Ngồi co ro trong nhà, thả cho đầu óc tưởng tượng.

Chị chủ nhà ngồi ôm con thu thu trong chiếc mền, giọng nhẹ nhàng kéo tôi trở về thực tại:

- Bộ đội đến thì vui, bộ đội đi thì buồn. Nếu mai kia anh em có trở lại, làm răng chẳng thiếu vắng bớt một đôi người. Ra trận, cách chi khỏi chết!

Tôi không biết đáp thế nào, giọng trầm ngâm của người đàn bà góa rơi vào yên lặng.

Tối, anh em trở về, tiếng cười nói vang lên từ ngoài ngõ. Hễ đi vắng thì thôi, về đến nơi là rộn cả nhà. Bà chủ hối con đi đốt hai trách lửa than thật lớn, cho anh em vây quanh hơ tay cho bớt buốt, và xông áo quần giặt chưa khô để sáng mai đi sớm. Gia đình và bộ đội chuyện trò ấm đậm.

Chị chủ nhà lại sai đứa con gái nhỏ:

- Mi nhớ cho kỹ mặt các anh, đến hôm bộ đội trở lại, coi có thiếu mặt anh mô không. Mi đã thuộc hết tên anh em đây chưa?

Em bé nhìn quanh rồi chỉ vào tôi:

- Anh ni con chưa biết.

Tôi ghé vào tai nói cho em biết tên, rồi đưa tay vuốt mái tóc lơ thơ cháy nắng hè chưa kịp đen trở lại. Nó ngước mắt nhìn tôi rồi bảo mẹ:

- Chừ, con biết hết rồi đó.

Tình lưu luyến giữa bộ đội và đồng bào thắm thiết lạ. Một thứ tình cảm chân thật, chắc nịch như rẫy sắn nương khoai, xuất từ những tấm lòng chất phác, không mảy may gượng gạo. Nhất là các bà mẹ chiến sĩ hiền từ, các mẹ thương mấy đứa bộ đội như con mình đẻ ra. Sau cái trận Phò Trạch ấy, ta thắng lợi nhưng cũng tổn thất, có mẹ nhìn những đứa trước hay lui tới nhà mình nay không thấy, mẹ lặng lẽ cầm nón đi sang các nhà khác tìm. Tìm mãi không thấy mặt mấy đứa quen, mẹ hiểu chúng nó đã hy sinh ở mặt trận hết cả rồi, òa ra khóc. Anh em phải phân trần, nói cho mẹ rõ những anh này mất, còn những anh kia đơn vị cử đi công tác sang một vùng khác, mẹ mới chịu thôi, nhưng trong bụng nửa tin nửa ngờ, không biết anh ni có nói thiệt hay không.

Ở đây, lại có chuyện nhỏ hôm qua làm tôi xúc động:

Ngày đầu năm, anh em tổ chức bữa cơm đoàn kết với người trong gia đình nơi mình ở. Góp hai chục đồng tiền tiêu chuẩn sinh hoạt phí của mình vào; rồi trong nhà có chi, anh em cùng ăn nấy. Dĩ nhiên ngày Tết, thế nào chẳng có chút “ưu”.

Tối, sinh hoạt nội bộ, anh chiến sĩ chính trị báo cáo với cả tổ:

- Tôi xin tin anh em rõ, nhà anh em văn phòng Đại đội ta ở đây; anh chị trong nhà cho ăn bữa cơm chiều không chịu lấy tiền, cho nên dư được một trăm sáu mươi đồng. Chúng ta sẽ bỏ chung vô quỹ...

Anh tiểu đội liên lạc nói chen:

- Dạ, tôi cũng xin báo cáo, ở nhà anh em liên lạc chúng tôi nghỉ, bà chủ cho ăn suốt ngày không nhận tiền mua thức ăn, anh em chỉ góp gạo thôi, nên cũng thừa được hơn hai trăm...

A, lại “câu chuyện quả na”(?) rồi. Ấm êm và đậm đà biết mấy! Anh em hoan hô. Anh chiến sĩ chính trị kết luận:

- Được thế càng hay, ta bỏ chung nhau vậy.

Chúng tôi dậy sớm chuẩn bị để đúng tám giờ, hành quân. Ba lô gọn ghẽ, súng ống đã lau chùi mấy ngày đầu năm. Trước khi lên đường, anh chính trị viên tập hợp, căn dặn thêm đôi lời. Ba hôm Tết, sống vui với đồng bào nhưng ăn vẫn chưa thấy ngon. Giá mà đánh được cái đồn nào hay bắt sống được vài chục tên, rồi trở về cùng nhau quây bên bếp lửa hồng mà kiểm điểm (rút kinh nghiệm); bát nước chè uống vào lúc đó có nhạt đi nữa thì cũng cứ thấm vào mà nở từng thớ ruột già ruột non, anh em ạ. Lúc đó ta lại tổ chức “ăn Tết”, cái Tết của lính Vệ quốc đoàn sẽ còn vui gấp mấy… Còn sớm thế mà phía sau lũy tre, mấy bà mẹ ra lặng lẽ nhìn. Vì phải giữ bem, chẳng có đứa mô chào các mẹ một lời, nhưng rậm rịch chuẩn bị ba lô, giày dép, biết chúng nó lại đi rồi: Bà ơi bà làng ta buồn quá/ Họ đi rồi hoa lá ngẩn ngơ/ Họ đi rồi ai chờ ai đợi/ Họ đi rồi vời vợi hàng cau/ Họ đi họ hát với nhau/ Lòng mình những muốn theo màu áo xanh… Cậu Minh Huệ từ xứ Nghệ mới vô mà đã cảm thông, làm được mấy vần thơ hay đọc tặng bộ đội.

Trời vẫn rét ngọt nhưng may không mưa, và xem chừng có cơ hửng nắng. Đường làng kín gió, đồng bào lũ lượt ra ngõ đứng xem. Đại đội chúng tôi được phân công đi tiền vệ. Anh em đi hàng một, người nguỵ trang cành lá, nhìn từ xa trông y một giậu mướp di động theo dọc đường làng. Và lá cờ đỏ con con dẫn đầu phất phơ theo gió lạnh. Mọi người bảo nhau, đi nhanh hơn cho ấm, chuyện trò nho nhỏ cho đường đỡ xa.

Khoảng mười giờ, đến thôn Xuân Viên. Sau ba mươi phút nghỉ ngơi, bắt đầu chặng đường cực nhọc. Để tránh cái đồn địch chắn ngang trước mắt, chúng tôi đi ra trạng cát men bờ biển. Sóng vỗ ầm ầm. Gió rét thổi ngược. Trời lại bắt đầu mưa, mưa nhẹ, rất nhẹ thôi; không, nói bầu trời đậm đặc sương mù thì đúng hơn. Mọi thứ ở đây đều một màu xám đục, rặng phi lao men bờ xác xơ.

Anh em hành quân thỉnh thoảng bỏ sai cự ly, vô tình đi gần sát nhau, hình như đi gần nhau thì đỡ rét hơn. Anh đại đội trưởng lại phải nhắc:

- Nhớ cự ly mỗi người cách nhau năm bước, nghe!

Qua hết làng Phương Lang thì trời gần tối. Mây mù nhiều hơn, sóng biển càng vỗ mạnh. Mấy bóng nhà tranh xám xịt của cái thôn nghèo lọt thỏm giữa mấy hàng cây dương liễu cằn.

Lính nội vụ đã được cho đi trước, cho nên anh em đến đây chỉ một lát là đã có cơm ăn. Đôi chân mỏi quá rồi, giá được nghỉ lâu lâu hơn một chút. Nhưng chỉ mười lăm phút sau, có lệnh tiểu đoàn cho tập hợp, tiếp tục đi.

Lần này, đại đội chúng tôi trở lại làm hậu vệ. Tối trời, mưa bay, gió rét; càng về khuya càng rét. Gió quét nước mưa vào mặt. Con đường trước mắt lúc này chỉ còn là một vệt mờ. Đêm đầu năm không trăng không sao. Chiếc áo trấn thủ tuồng như rộng quá và lồng ngực mình nhỏ hơn mọi ngày, gió cứ lùa vào giữa hai lần áo.

… Đến một trảng cát bụi bờ nhô lúp xúp, có lệnh bước đi nhè nhẹ, cấm ho, cấm nói chuyện. Người đi trước tôi quay lại, chỉ tay về phía trái, lầm bầm gì đó, tôi nín thở, gắng lắm mới hiểu được:

- Đồn Chợ Cạn đó, anh thấy không?

Tôi chẳng thấy gì, ngoài những đám bụi bờ đen đen ngay trước mặt. Lặng im đến ghê rợn. Lệnh cấp trên cũng như mọi thông tin đều truyền miệng, người nghe rỉ tai nói lại với người đi trước hoặc ngay sau mình.

- Đó, tiếng chúng nó trong đồn, anh có nghe rõ không?

Đúng là có tiếng âm vang theo chiều gió lúc mạnh lúc nhẹ, cho nên tiếng nghe lúc xa vắng, phân biệt được tiếng nói tiếng cười. Ai nấy cố giữ cho thật êm. Có vài người ho nghẹn ngào trong họng, thành tiếng ục ục. Chỉ có tiếng gió rít, tiếng sóng biển ầm ầm, buồn chán, khó chịu. Vai đẫm sương. Mắt buồn ngủ.

… Chờ mãi và chạy mãi, gần nửa đêm đến địa điểm trú quân. Ở đây nhà cửa dân bị địch đốt nhiều lần, không còn ra cái nhà. Nơi tôi nghỉ là một túp lều, mái lợp ngói nhưng vách bằng đất nện. Nhà trống không, mỗi một bộ giường tre lung lay đặt chính giữa. Bà mẹ chủ nhà nói:

- Mái ngói ni mới lợp năm ngoái. Sẵn ngói lượm từ mái ngôi nhà cũ, làm như ri cho khỏi bị đốt. Trước, mái lợp tranh, đã cháy hai ba dạo rồi.

Mẹ đi đi lại lại, lăng xăng săn sóc anh em:

- Các eng nằm, coi được mấy người, thiếu mấy chỗ. Cứ đứng hoài, biết cách răng mà liệu.

Tôi bắt chuyện:

- Mẹ ơi, Tết rồi, đây có chi vui không, mẹ?

- Rứa rứa thôi. Nhưng cũng được. Hơn năm ngoái. Ngó năm ni so với năm ngoái đó thì đủ biết sang năm chắc còn vui nữa, các eng hè?

Mẹ đánh thức đứa cháu nhỏ dậy nấu nước nóng mời anh em:

- May quá, mấy bữa trước hết chè tươi, sáng ni không biết chi xui tui mua hai bó hai chục đồng, nếu không, chừ anh em cũng uống nước hâm thôi (nước lã hâm nóng), tội nghiệp. Tết nhứt, tôi chả mần chi cả. Răng xong thôi. Ai muốn bày biện, chờ sang năm độc lập, bủa sức mần (tha hồ làm).

Nhà không có chiếu, cũng không cả rơm để lót ổ. Anh em mượn mấy cái áo tơi lá, trải ra đất nằm. Rét thế này, chỉ còn biết lấy hơi người nương ấm nhau thôi. Nhà chật quá, bộ đội nằm đất đã cứng như nêm. Ai đó kêu to:

- Thằng cha mô bày ra cách may áo trấn thủ đơm khuy một bên hông là dốt. Không biết bộ đội mình hành quân không có đêm nào được nằm ngửa mà ngủ à? Nằm nghiêng, mới có đủ chỗ nằm. Mà nằm nghiêng, mấy cái nút áo trấn thủ cứ cộm lên thọc vào hông, đau chết đi được.

Chúng tôi vừa nằm yên một lát, nghe tiếng bà mẹ hỏi:

- Lâu ni ta có được trận mô to không, các eng?

Anh con trai vừa đi dẫn đường cho bộ đội về, gắt:

- Để yên anh em nghỉ, mạ.

Bà cứ nói:

- Dân bầy tui chỉ trông có tin thắng trận để mà mừng...

Tôi đã thiu thiu, vẫn nghe được câu cuối cùng của bà, sau một hồi im lặng. Bà nói với chính mình, giọng rất nhỏ:

- Rét ni mà anh em đi từ đầu hôm đến chừ, làm chi không mệt!...

P.Q

Phan Quang
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 268

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

18/04

25° - 27°

Mưa

19/04

24° - 26°

Mưa

20/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground