Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 17/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Từ trong di sản

Diên Thọ tự là ngôi chùa cổ của làng Diên Sanh, được công nhận là một di tích lịch sử văn hoá, một danh thắng của tỉnh Quảng Trị.

Chùa được dựng lập từ lúc nào, chúng ta khó biết được vì không còn một tư liệu nào ghi chép lại. Theo các nhà nghiên cứu, thì trong tiến trình thành lập làng xã, người dân Việt định cư tới đâu, lập làng ở đâu là dựng đình, chùa ở đó. Như vậy, Chùa Diên Thọ có thể có mặt ngay từ buổi đầu lập làng (thế kỷ XIV).

Trải qua bao năm tháng nắng mưa, thiên tai, chiến tranh và địch họa, đã làm cho ngôi chùa nhiều lần bị hư hỏng, phải trùng tu sửa chữa, một số tranh tượng và pháp khí bị vỡ nát, mất mát phải bổ sung. Trong số di sản mà chùa Diên Thọ còn giữ được cho đến ngày nay là bộ tượng Tam thế, tượng Hộ pháp, một số pháp khí, đặc biệt là bức Hoành phi và 05 đạo sắc phong của các triều đại nhà Nguyễn. Việc tìm hiểu nguồn gốc hai loại di sản có văn tự này có thể giúp chúng ta hiểu biết thêm về lịch sử ngôi chùa.

* Về di sản thứ nhất: Đó là bức Hoành phi gắn ở giữa tiền đường, bằng gỗ mít, có chiều dài 1,90m và chiều ngang 0,60m, được sơn son thếp vàng. Khung gỗ chung quanh có hai đường viền và hình rồng chầu nguyệt được chạm khắc nổi nằm giữa hai đường viền ấy được sơn thếp màu vàng. Mặt Hoành phi sơn màu đỏ với ba chữ Hán lớn Diên Thọ Tự được khắc chìm sơn màu vàng và hai dòng lạc khoản:

Phía phải (nhìn từ ngoài vào) ghi: Tuế tại Kỷ Mão quý hạ cốc đán.

Phía trái ghi: Nội lệnh sử Ty huấn đạo Nguyễn Ngọc Quỳnh pháp danh Liễu Giác, thê Nguyễn Thị Huyền pháp danh Liễu Diệu phụng cúng.

Lần tìm gốc tích hai vị trên, trong đợt đi tìm hiểu các dòng tộc, chúng tôi được biết ông Nguyễn Ngọc Quỳnh là hậu duệ đời thứ 12 của dòng họ Nguyễn Văn (Diên Sanh). Tộc phả ghi: Nội lệnh sử Ty Huấn đạo Thí Lượng Nam Nguyễn Ngọc Quỳnh tịnh bà Nguyễn Thị Huyền1.

Như vậy, ở tộc phả có ghi thêm Thí lượng nam tức được phong tặng tước Nam, là một trong năm tước: công, hầu, bá, tử, nam.

Tộc phả không ghi ngày tháng năm sinh và mất, nhưng so với các vị cùng đời thì ông sinh vào khoảng thập niên 80 của thế kỷ XVII.

Ông được bổ chức Huấn đạo, làm việc tại Ty Nội lệnh sử dưới thời các Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1725) cho đến những năm đầu thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738 - 1765).

Ty Nội lệnh sử là ty nằm ngoài ba ty: Xá sai, Tướng thần và Lệnh sử. Ba ty này là tổ chức cao nhất tạo thành cơ quan trung ương dưới thời các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Ty Nội lệnh sử “chia làm hai bên tả hữu giữ việc Ky Lạp các từ đường chia nhau thu tiền sai dư của các xã hai xứ lệ thuộc nội phủ”2.

Lịch sử cho chúng ta biết Phật Giáo dưới thời các Chúa Nguyễn rất phát triển. Ngoài việc bảo vệ và mở mang Đàng Trong, các Chúa Nguyễn đều là những Phật tử mộ đạo, hộ trì cho Phật Giáo hưng thịnh như xây dựng trùng tu chùa chiền, trọng đãi các bậc sư tăng. Các Chúa Nguyễn còn cho người sang Trung Hoa thỉnh các danh tăng, kinh điển, pháp tượng, pháp khí. Vì vậy, ngoài phái Thiền Trúc Lâm ra, ở nước ta còn có phái Thiền Lâm Tế do Ngài Nguyên Thiều, Phái Thiền Tào Động do Ngài Thạch Liêm vào truyền dạy.

Khi các vị trên cùng các đệ tử đến hoằng hoá, đều được các Chúa Nguyễn quý trọng và hỗ trợ. Khi các đại giới đàn được mở, các Chúa cũng khuyến khích hoàng gia và triều thần ai có tín tâm thì xin quy y thọ giới3.

Nhờ thiện duyên và nhất là có tín tâm, nên vợ chồng ông Quỳnh đã đến Chùa quy y và được Bổn sư ban pháp danh Liễu Giác cho ông Quỳnh và Liễu Diệu cho bà Huyền.

Với pháp danh có chữ “Liễu” được truyền thừa theo bài pháp kệ của thiền phái nào? Vào cuối thế kỷ XVII, từ khi tổ sư Nguyên Thiều sang hoằng hoá, phái Thiền Lâm Tế phát triển mạnh và tạo nên sự phát triển của Phật Giáo Đàng Trong.

Nối tiếp ngọn đèn pháp kê của tổ sư Nguyên Thiều, các thiền sư thuộc hàng đệ tử và pháp tôn đã truyền thừa tông phong của phái Thiền Lâm Tế theo nhiều bài kệ khác nhau. Nhưng xét trong nhiều bài pháp kệ truyền thừa, thì chỉ có bài kệ của Ngài Tổ Định Tuyết Phong phái Lâm Tế đời 22 là có chữ Liễu:

Tổ đạo giới định tông

Phương quảng chánh viên thông

Hàn siêu minh thiệt tế

Liễu đạt ngộ chân không

Chính tổ sư Nguyên Thiều - Siêu Bạch phái Lâm Tế đời 33 truyền thừa cho đệ tử theo hai bài kệ “Tổ đạo giới” và “Đạo bổn nguyên”4, sau đó có những đệ tử và pháp tôn nổi danh, có vị đặt thêm bài kệ truyền pháp mới, trong đó có Ngài Liễu Quán.

Như vậy, ông Nguyễn Ngọc Quỳnh là một Phật tử có pháp danh Liễu Giác và vợ có pháp danh Liễu Diệu đã quy y thọ giới theo bài pháp kệ của phái Thiền Lâm Tế nói trên, nhưng Bổn sư của vợ chồng ông là Ngài nào thì khó mà xác định được.

Thông thường, các văn bản xưa đều có lạc khoản ghi chép tên các triều đại, tiếp đến ghi năm tháng, nhưng lạc khoản ở bức Hoành phi “Diên Thọ Tự” này không có ghi tên triều đại, không phải không có lý do.

Sử liệu cho chúng ta biết ngày 12 tháng 4 năm Giáp Tý (1744) Chúa Nguyễn Phúc Khoát chính thức xưng vương hiệu là Võ Vương, cải cách việc nội trị ở Đàng Trong, xoá bỏ 3 ty Xá sai, Tướng thần và Lệnh sử mà lập lục bộ: “Lại, Lễ, Hộ, Binh, Công, Hình” không còn lệ thuộc vào triều đại nhà Lê như trước nữa. Kể từ đó các văn bản không ghi tên triều đại cho đến thời Gia Long.

Căn cứ vào dòng lạc ghi ở bức Hoành phi “Tuế tại Kỷ Mão quý hạ cốc đán” (ngày tốt tháng 6 năm Kỷ Mão) thì năm Kỷ Mão là năm 1759 dưới thời Nguyễn Phúc Khoát, nên lạc khoản không ghi tên triều đại.

Là người Phật tử, nên vợ chồng ông Quỳnh không thể không quan tâm đến việc trùng tu chùa chiền, nhất là ngôi chùa của quê hương ông. Có lẽ vào thời điểm đó ngôi chùa đã được tái thiết xong, nhân ngày lễ vía hoặc lễ khánh thành chùa vợ chồng ông đã dâng cúng bức Hoành phi này.

Từ những cứ liệu trên cho chúng ta biết quy mô ngôi chùa hiện còn đến nay, được tái thiết vào những thập niên đầu thế kỷ XVIII, tồn tại đã trên 260 năm.

* Về di sản thứ hai: Hiện tại chùa còn giữ được 5 đạo sắc phong Quan Thánh Đế Quân để làng Diên Sanh theo lệ trước đây mà phụng thờ của các triều đại nhà Nguyễn. Vậy Quan Thánh Đế Quân là ai và được phụng thờ ở chùa từ lúc nào?

Chùa Diên Thọ cũng như bao chùa làng khác là nơi thờ chư Phật, thờ chư Bồ Tát và thờ vọng các vị khai canh, khai khẩn và các vị tiền hiền có công khai phá lập nên làng xã. Còn ở đình thì thờ các vị thiên thần, nhiên thần và nhân thần (trong đó có các vị khai canh, khai khẩn) làm Thành hoàng.

Ngoài tín ngưỡng dân gian truyền thống của dân tộc Việt mang từ phía Bắc vào, còn có tín ngưỡng của cư dân Chàm hoà với tín ngưỡng của người Hoa. Vì vậy, ở Diên Sanh chúng ta còn thấy miếu thờ Dàng (Chàm) ở Giáp An, đền Văn Thánh thờ Khổng Tử ở Giáp An (đã bị hư hỏng từ lâu) và Quan Thánh Đế Quân thì thờ ở chùa Diên Thọ.

Quan Thánh Đế Quân là thần hiệu của Quan Vũ (Quan Công). Một nhân vật lịch sử thời Tam Quốc, sinh năm 162, mất năm 219, quê làng Giải Lương tỉnh Hà Đông, Trung Quốc. Lúc trưởng thành đã thành thạo võ nghiệp, quen sử dụng cây thanh long đao. Khi nghe lệnh chiêu binh phá giặc khăn vàng, Quan Vũ tới ứng mộ và đã gặp Lưu Bị, Trương Phi kết nghĩa vườn đào. Khi Lưu Bị xây dựng cơ nghiệp, ông là một bậc danh tướng bậc nhất của nhà Thục. Cuối đời, Quan Vũ trấn giữ Kinh Châu. Quân Đông Ngô tiến đánh, Kinh Châu thất thủ phải lui trấn giữ Mạch Thành. Thành nhỏ, quân ít, lương hết không thể đánh nổi nên định chạy về Tây Xuyên. Nhưng tướng Đông Ngô là Lã Mông cho quân mai phục bắt sống ông giải về. Tôn Quyền dụ hàng không được, đem chém.

Khi sống, ông có lòng trung nghĩa, chính trực, dũng cảm, đức hy sinh và lòng độ lượng. Khi chết đã hiển thánh. Thường cứu độ cho người nên được nhân dân sùng kính tôn thờ.

Việc lập đền miếu thờ Dàng và Khổng Tử chắc hẳn diễn ra ở đây khá sớm. Nhưng việc thờ Quan Thánh Đế Quân xuất phát từ ảnh hưởng tập tục của người Hoa hay do người Việt tiếp thu từ cố hương thì khó xác định được.

Đi tìm nguồn gốc, chúng ta biết khi tổ sư Nguyên Thiều đến hoằng hoá ở chùa Hà Trung, Thuận Hoá (1683 - 1694), sách “Danh lam xứ Huế” cho biết: Tổ sư Nguyên Thiều mở rộng quy mô vào cuối thế kỷ thứ XVII, lập một tiền điện tại chùa để thờ Quan Công với bức tượng thờ bằng đá trắng mang từ Trung Quốc về, là dấu hiệu cụ thể sớm chứng tỏ rằng vị tổ sư Trung Quốc này ít ra cũng là một trong những người đầu tiên chính thức hoá việc thờ tự Quan Công trong chùa tại Huế. Cách thờ tự đó đã lan toả đến các chùa khác của sơn môn và những ngôi chùa làng ở Huế5.

Có lẽ do tiếp thu cách thờ tự từ chùa Hà Trung và các chùa làng ở Huế, vì vậy chùa Diên Thọ đã thờ phụng Quan Thánh Đế Quân trong chùa, nhưng sớm nhất cũng vào giữa thế kỷ XVIII, khi ngôi chùa đã tái thiết xong.

Cho đến thế kỷ XIX, các vua triều Nguyễn mới chính thức hoá việc thờ Quan Thánh Đế Quân ở làng xã bằng các sắc phong.

Năm sắc phong ở chùa Diên Thọ là:

1. Sắc phong Quan Thánh Đế Quân hộ quốc tý dân hiển hữu công đức, cấp ngày 16 tháng 4 năm Tự Đức thứ 7 (1854).

2. Sắc phong Quan Thánh Đế Quân Bảo an Chính trực hựu thiện đôn ngưng thành hoàng chi thần, cấp ngày 24 tháng 11 năm Tự Đức thứ 33 (1880).

3. Sắc phong Quan Thánh Đế Quân hộ quốc tý dân hiển hữu công đức, tặng Dực Bảo Trung hưng đế quân, cấp ngày 01 tháng 7 năm Đồng Khánh thứ 2 (1887).

4. Sắc phong Quan Thánh Đế Quân Bảo an Chính trực hựu thiện đôn ngưng, Dực Bảo Trung hưng thành hoàng chi thần, cấp ngày 11 tháng 8 năm Duy Tân thứ 3 (1909).

5. Sắc phong tặng Dực Bảo Trung Hưng Quan Thánh Đế Quân hộ quốc tý dân hiển hữu công đức, cấp ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924).

Các sắc phong đều được viết trên mặt của một tờ giấy lụa dày, màu vàng nhạt, dai và bền, kích thước khoảng 1,2m x 0,5m. Hình nền của sắc phong là hoạ tiết rồng ẩn trong mây. Năm chữ Thọ hình vuông bố trí ở bốn góc và chính giữa sắc phong. Nội dung của bản sắc phong được ghi ở phần đuôi rồng, còn niên hiệu hoàng đế ngày tháng năm cấp sắc phong tặng và ấn “Sắc mệnh chi bảo” nằm ở vị trí đầu rồng.

Sau đây là một sắc phong của triều vua Tự Đức:

Phiên âm: Sắc chỉ Thừa Thiên phủ, Quảng Trị đạo, Hải Lăng huyện, Diên Sanh xã tùng tiền phụng sự Quan Thánh Đế Quân hộ quốc tý dân hiển hữu công đức, tứ kim phi ưng tiền du, đặc chuẩn y cựu phụng sự dụng đáp thần hưu. Khâm tai.

Tự Đức thất niên tứ nguyệt thập lục nhật.

Dịch nghĩa:

Sắc chỉ cho xã Diên Sanh, huyện Hải Lăng, đạo6 Quảng Trị theo trước mà phụng thờ Quan Thánh Đế Quân, giúp nước, giúp dân có công đức rõ rệt. Cho nên, nay ta tuân khuôn phép trước, đặc chuẩn cho phụng thờ như cũ, để đáp lại ơn che chở của thần.

Hãy tuân theo

Ngày 16 tháng 4 năm Tự Đức thứ 7 (1854).

Do điều kiện khí hậu, môi trường và chiến tranh nghiệt ngã đã làm hư hỏng, mất mát rất nhiều cổ vật của chùa Diên Thọ. Nhưng những gì còn lại đều là những di sản quý báu cần được bảo tồn. Bởi vì những di sản ấy bảo lưu được những di sản văn hoá lịch sử lâu đời của tiền nhân; là tư liệu quý giá giúp chúng ta tìm hiểu nghiên cứu về tôn giáo tín ngưỡng truyền thống, về đời sống tinh thần của người dân ở một vùng đất, về nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc của nghệ nhân ở nhiều thế kỷ trước. Đó là niềm vinh dự của chùa Diên Thọ cần được trân trọng giữ gìn phát huy và nghiên cứu.

                                                                                          N.N

 

 

 

_____________

1. Nguyễn lộc thế phả Tự Đức 32 (1879).

2. Lê Quý Đôn - Phủ biên tạp lục - KHXH 1977 - Tr144.

3. Nguyễn Hiền Đức - Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trang - TPHCM - Tr 153.

4. Nguyễn Hiền Đức - Sđđ Tr 149.

5. Trần Đại Vinh - Nguyễn Hữu Thông, Lê Văn Sách - Danh lam xứ Huế - TPHCM - tr 209.

6. Năm Tự Đức thứ 29 (1876) bỏ đạo mà đặt tỉnh Quảng Trị.

NGUYỄN NGUYÊN
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 260

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

18/04

25° - 27°

Mưa

19/04

24° - 26°

Mưa

20/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground