Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 17/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Tưởng nhớ cố Tổng Bí thư Lê Duẩn - Một nhà lãnh đạo kiệt xuất, một tư duy sáng tạo lớn (Phần 1)

Đồng chí Lê Duẩn là một nhà yêu nước lớn, một chiến sĩ cộng sản kiên cường, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Là một nhà lý luận, nhà tư tưởng, một người lãnh đạo kiệt xuất của Đảng và của nhân dân ta, đồng chí đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc. Lịch sử ghi đậm những công lao to lớn của đồng chí trong nhiều thời kỳ: thời kỳ đất nước bị chìm đắm dưới ách thuộc địa, thời kỳ kháng chiến chống Pháp, thời kỳ đất nước bị chia cắt làm hai miền với hai chiến lược cách mạng khác nhau; đặc biệt, trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước chuyển lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.
 

Ở đây, tôi chỉ muốn được nói lên vài cảm nghĩ riêng về đồng chí Lê Duẩn như một nhà cách mạng mác-xít Lê-nin-nít nổi bật ở tư duy sáng tạo, điều mà một số nhà nghiên cứu đã có những phân tích sâu sắc.

Còn nhớ cuối năm 1952, Anh Ba trên đường từ Nam Bộ ra Việt Bắc có ghé lại mấy ngày ở cơ quan Liên khu ủy IV, lúc đó sơ tán tại vùng chợ Dùng, Thanh Chương, Nghệ An. Trong mấy ngày đó, cứ tối tối (để tránh máy bay địch ban ngày), Anh Ba lại đến nói chuyện với cán bộ lãnh đạo và cán bộ nghiên cứu các ban thuộc Liên Khu ủy xoay quanh chủ đề dân tộc - dân chủ - giai cấp. Câu chuyện thật phong phú về nội dung lý luận và chính trị thực tiễn, về lịch sử dân tộc và hiện tình đất nước, về cách mạng và kháng chiến, về thế giới và Việt Nam, về tình hình Nam Bộ, trong đó có kinh nghiệm giải quyết vấn đề ruộng đất. Anh nói: Ta phải làm theo cách của ta, phù hợp điều kiện Việt Nam, một mặt đem lại quyền lợi cho nông dân, mặt khác giữ được mặt trận đoàn kết dân tộc để kháng chiến thắng lợi - lúc này, đó là mục tiêu cao nhất. Mọi người lắng nghe một cách chăm chú, say sưa, thấy ra nhiều điều mới mẻ, đầy sức thuyết phục, càng nghe càng bị cuốn hút, mặc dù tiếng Anh Ba khó nghe ngay cả với người Khu IV khi nghe lần đầu. Một ấn tượng mạnh đến với tôi ngay từ buổi đầu nghe Anh Ba - đây quả là một tư duy chính trị lớn, một tư duy lý luận sáng tạo.

Năm 1957, tôi được Đảng cho đi học lớp lý luận dài hạn khóa I tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc. Cùng với lời khai mạc quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những bài giải đáp của đồng chí Lê Duẩn về lịch sử Đảng ta cho đến nay còn in sâu trong tâm trí tôi. Giáo trình Lịch sử Đảng lúc đó mới có 6 chương, đồng chí Lê Duẩn đã dành ra 6 - 7 buổi để giải đáp 4 chương đầu: “Hoàn cảnh ra đời Đảng Cộng sản Đông Dương”, “Phong trào cách mạng 1930 - 1931”, “Thời kỳ thoái trào 1931 - 1934”, “Thời kỳ cao trào 1936 - 1939”. Đó là những thời kỳ lịch sử Đảng mà nói chung cả lớp học lúc đó, gồm toàn cán bộ trung cao cấp, còn được biết rất ít. Vì vậy, khi được nghe Anh Ba - một đồng chí lãnh đạo ở cấp cao nhất của Đảng từng hoạt động ở cả ba miền Trung, Nam, Bắc, đồng chí không chỉ là chứng nhân lịch sử mà còn là một trong những tác nhân chủ yếu làm nên các sự kiện, đứng ra giải đáp một cách cặn kẽ, vừa là lịch sử vừa có tính lý luận, những giải đáp ấy quả có sức thuyết phục lớn, sức thuyết phục của chính chân lý lịch sử. Qua giải đáp của đồng chí Lê Duẩn, cả lớp rất thoả mãn, hào hứng, phấn chấn, thấy rõ đúng như Bác Hồ đã nói: “Đảng ta vĩ đại thật”, lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng là “cả một pho lịch sử bằng vàng”.

Trong bài giải đáp, tôi nhớ sâu sắc những chỗ Anh Ba phân tích về xã hội Việt Nam và chính sách của thực dân Pháp sau Chiến tranh thế giới thứ nhất; về lập trường chính trị và tương quan giữa các giai cấp lúc đó về vị trí khách quan ưu thắng của giai cấp vô sản Việt Nam đưa đến sự ra đời và độc quyền lãnh đạo cách mạng của Đảng ta như một tất yếu tự nhiên khi mà các giai cấp phong kiến, tư sản, tiểu tư sản hoặc đã lỗi thời về mặt lịch sử, hoặc yếu ớt, không đóng được vai trò lãnh đạo cách mạng, hoặc đã tỏ ra hoàn toàn bất lực nên phong trào vừa bùng lên đã tắt ngấm vĩnh viễn.

Cũng rất sâu sắc là những phân tích của Anh Ba về Luận cương chính trị năm 1930 của Đảng và phong trào cách mạng 1930 - 1931 với các mặt ưu điểm và khuyết điểm, một sự phân tích trên quan điểm lịch sử - cụ thể, khách quan và toàn diện, vừa làm rõ mặt đúng cơ bản về chiến lược, vừa đánh giá đúng mặt còn non yếu về sách lược. Xem lại những phân tích đó của đồng chí Lê Duẩn, dù cách đây đã hơn 50 năm, có thể giúp ta hiểu đúng mức - mà không quá nhấn chỗ khác nhau giữa Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt với Luận cương chính trị của Đảng năm 1930. Nghiên cứu kỹ và đối chiếu các văn kiện đó với nhau, chúng ta vừa thấy rõ sự thống nhất hoàn toàn về mục tiêu cách mạng và đường lối chiến lược giữa Luận cương với Chính cương; vừa thấy rõ sự sáng suốt và tinh tế vô cùng về Sách lược ngay từ đầu của Nguyễn Ái Quốc. Ở đây có một văn kiện rất có ý nghĩa, đó là Chỉ thị của Thường vụ Trung ương về vấn đề thành lập “Hội Phản đế đồng minh” ngày 18 – 11 - 1930 (nghĩa là không bao lâu sau Án nghị quyết của Trung ương tháng 10 - 1930 thủ tiêu Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng được thông qua tại Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng tháng 2 - 1930). Chỉ thị khẳng định: “Giai cấp công nhân không đồng minh được với giai cấp nông dân là lực lượng tất yếu của cách mạng thì không đánh đổ được đế quốc Pháp và tụi phong kiến phản cách mạng trong nước...”. Công nông “là hai động lực chính căn bản cho sự bố trí hàng ngũ cách mạng”. Đồng thời Chỉ thị nhấn mạnh: “...còn mặt khác nữa là giai cấp vô sản lãnh đạo cuộc cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương mà không tổ chức được toàn dân lại thành một lực lượng thật rộng, thật kín thì cuộc cách mạng cũng khó thành công (rộng là toàn dân cùng đứng trong một mặt trận chống đế quốc và tụi phong kiến làm tay sai phản động hèn hạ; kín là đặt để công nông trong bức thành dân tộc phản đế bao la)”. Chỉ thị nêu rõ sự cần thiết phải: “Tổ chức thật quảng đại quần chúng, hấp thụ các tầng lớp trí thức dân tộc, tư sản dân tộc, họ là tầng lớp trên hay ở vào lớp giữa cũng vậy, và cho tới cả những người địa chủ, có đầu óc oán ghét đế quốc Pháp, mong muốn độc lập quốc gia, để đưa tất cả những tầng lớp và cá nhân đó vào trong hàng ngũ chống đế quốc Pháp, để cần kíp tổng động viên toàn dân nhất tề hành động mặt này hay mặt khác, mà chống khủng bố trắng và ủng hộ cách mạng công nông”.

Như vậy, tư tưởng cơ bản của Chỉ thị thành lập Mặt trận phản đế đồng minh ngày 18 – 11 - 1930 là gần gũi và trùng hợp với Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Nguyễn Ái Quốc, điều đó càng chứng tỏ Nguyễn Ái Quốc đúng. Về phong trào cách mạng 1930 - 1931, Anh Ba nêu lên có khuyết điểm “tả” khuynh, ấu trĩ trong phạm vi cục bộ, đồng thời khẳng định mạnh mẽ mặt cơ bản: “Đó là bước thắng lợi đầu tiên có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ tiến trình phát triển về sau của cách mạng. Trực tiếp mà nói, không có những trận chiến đấu giai cấp rung trời chuyển đất những năm 1930 - 1931, trong đó công nông đã vung ra nghị lực cách mạng phi thường của mình, thì không thể có cao trào những năm 1936 - 1939”.

Đặc biệt hứng thú là những giải đáp của Anh Ba về phong trào 1936 - 1939, thời kỳ mà với cương vị Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ, Anh đã cùng tập thể Xứ ủy lãnh đạo phong trào Mặt trận Dân chủ ở miền Trung với nhiều sáng tạo trong chủ trương và phương pháp, góp phần làm phong phú kinh nghiệm chung của phong trào cả nước... Một thời kỳ đấu tranh hợp pháp và nửa hợp pháp kết hợp chặt chẽ với hoạt động bí mật, bất hợp pháp như hồi này thực sự là một sáng tạo cách mạng độc đáo, hiếm có ở một xứ thuộc địa. Đồng chí Lê Duẩn đánh giá: “Chính Lênin đã từng nói nếu không có các quyền tự do dân chủ do Cách mạng tháng Hai (năm 1917) đưa lại thì cũng khó mà có được phong trào đấu tranh sâu rộng của quần chúng đưa đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười. Trên một ý nghĩa tương tự như vậy, ta cũng có thể nói về tác dụng của phong trào dân chủ hồi 1936 - 1939 đối với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Đó là một thời kỳ chuẩn bị điều kiện để đưa quần chúng vào những trận chiến đấu quyết liệt mới trong thời kỳ 1940 - 1945”.

Năm 1939, là Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, đồng chí Lê Duẩn đã sát cánh cùng Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chuẩn bị và chủ trì Hội nghị Trung ương 6 (ngày 6, 7, 8 tháng 11 năm 1939), một hội nghị có ý nghĩa lịch sử đánh dấu sự chuyển hướng trong chỉ đạo chiến lược sáng suốt và kịp thời của Đảng chuẩn bị đưa cách mạng lên cao trào trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Giải đáp về bước ngoặt quan trọng này, đồng chí Lê Duẩn đã đem lại cho lớp học càng nhiều hứng thú. Đồng chí nói: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 không phải bỗng dưng trong óc nghĩ ra mà là kết quả tổng kết phong trào cách mạng từ khi có Đảng đến năm 1939, kết quả phân tích cụ thể tình hình đất nước và thế giới khi Chiến tranh thế giới thứ hai đã bắt đầu và Mặt trận Bình dân ở Pháp không còn tồn tại. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 có được còn nhờ biết vận dụng sáng tạo kinh nghiệm cách mạng các nước và đường lối của Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, mặc dù đường lối của Quốc tế Cộng sản lúc đó chỉ nói về chống phátxít, chống chiến tranh và về phong trào dân chủ chung chung. Đồng chí chỉ rõ: Đảng ta sáng tạo ở chỗ, trong khi kiên trì chiến lược cách mạng phản đế, phản phong “nhưng vì tình hình lúc bấy giờ, chúng ta cần đặt lại vấn đề dân tộc một cách đầy đủ hơn. Công nông phải nêu cao hơn nữa ngọn cờ dân tộc, phải đặt quyền lợi dân tộc thành quyền lợi tối cao. Cái mới ở đây là công nông phải đưa ngọn cờ dân tộc lên để tập hợp hơn nữa các tầng lớp, giai cấp, để trung lập hóa hơn nữa những bộ phận có thể trung lập được, để lôi kéo những tầng lớp mà ta có thể lôi kéo được trong các tầng lớp trên, để chĩa mũi nhọn vào bọn đế quốc và tay sai. Vì vậy, lúc đó Trung ương nhận định khẩu hiệu ruộng đất chỉ thi hành một phần nào thôi, nói tạm gác khẩu hiệu cải cách ruộng đất lại nhưng không phải gác lại hoàn toàn mà căn bản là thi hành một phần, có nghĩa là chỉ đánh đổ đế quốc và tay sai tức bọn phong kiến địa chủ Việt gian”.

Đọc lại Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (tháng 11 - 1939) và những bài giải đáp của đồng chí Lê Duẩn năm 1957 tại trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, bản thân tôi có mấy suy nghĩ: một là, Đảng ta cho đến thời kỳ 1936 - 1939 quả đã vượt xa thời ấu trĩ ban đầu, đã thể hiện chín muồi sự già dặn chính trị và năng lực sáng tạo; hai là, giữa Nghị quyết Trung ương 6 (tháng 11 - 1939) với Nghị quyết Trung ương 8 sau đó (tháng 5 - 1941) là cùng một quỹ đạo tư duy chính trị nhất quán; ba là, điều đó cũng có nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh là cả một dòng chảy liên tục từ khi có Đảng chứ không đứt đoạn. Tuyệt nhiên không phải sau Hội nghị hợp nhất tháng 2 - 1930, phải đến Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5 - 1941) do Bác Hồ (sau khi về nước) chủ trì, Đảng ta mới trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh. Tính chân lý vĩ đại và do đó sức mạnh vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh chính ở chỗ nó phản ánh đúng quy luật khách quan của sự phát triển cách mạng Việt Nam - đúng đến mức cả khi Bác không có mặt trong nước để trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo phong trào, những quy luật khách quan ấy vẫn tác động thông qua hoạt động của đảng bộ các cấp dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 tháng 11 - 1939 là tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoàn cảnh không có Hồ Chí Minh.

Đọc lại Nghị quyết Trung ương 6 (tháng 11 - 1939) rồi đối chiếu với Nghị quyết Trung ương 8 (tháng 5 - 1941) có thể thấy rất rõ điều đó. Tôi xin trích một vài đoạn trong Nghị quyết Trung ương 6 làm ví dụ: “Cuộc cách mệnh giải phóng dân tộc là một hình thức cao nhất của phong trào tranh đấu, của Mặt trận phản đế Đông Dương chống đế quốc Pháp và bè lũ tay sai của nó”. “Đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mệnh, cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào cái mục đích ấy mà giải quyết” (T.G. nhấn mạnh). “Công nông là hai lực lượng chính của cách mệnh, sự đồng minh chặt chẽ của công nông là vấn đề sống chết của cách mệnh, không có sự đồng minh ấy thì cách mệnh không thể thắng lợi được. Công nông phải đưa cao cây cờ dân tộc lên, vì quyền lợi sinh tồn của dân tộc mà sẵn sàng bắt tay với tiểu tư sản và những tầng lớp tư sản bổn xứ, trung tiểu địa chủ còn có căm tức đế quốc, vì sự căm tức ấy có thể làm cho họ có ít nhiều tinh thần chống đế quốc”. “Đứng trước tình thế ấy, Đảng phải cương quyết đứng ra lãnh đạo phong trào tranh đấu, khuếch trương phong trào thật mạnh mẽ và to rộng thêm lên. Phải biết xoay tất cả phong trào tranh đấu lẻ tẻ vào cuộc tranh đấu chung, phản đối đế quốc chiến tranh, chống đế quốc Pháp và bè lũ (tay sai), dự bị những điều kiện bước tới bạo động làm cách mạng giải phóng dân tộc. Trong sự sinh hoạt hằng ngày của các giai cấp bổn xứ, tất nhiên không tránh khỏi sự xung đột quyền lợi. Những cuộc tranh đấu của công nhân với tư bản bổn xứ, nông dân với phú nông, địa chủ tất nhiên phải có, song đứng trên lập trường cách mệnh giải phóng dân tộc, sự điều hoà những cuộc tranh đấu của những giai cấp người bổn xứ đưa nó vào phong trào đấu tranh chung của dân tộc là nhiệm vụ cốt tử của người lãnh đạo. Song không ngó ngàng đếm xỉa đến quyền lợi hằng ngày của quần chúng lao động, không tìm cách bênh vực làm cho họ đủ no, thì năng lực cách mệnh của quần chúng sẽ giảm đi. Nhưng nếu căng thẳng các cuộc tranh đấu ấy, thì sự liên hiệp các giai cấp bổn xứ sẽ không thành, khẩu hiệu “Quyền lợi dân tộc cao hơn hết” (T.G. nhấn mạnh) sẽ không thực hiện được”. Đường hướng chính trị và sự chỉ đạo chiến lược, sách lược như vậy là cực kỳ sáng suốt dựa trên cơ sở phân tích đúng đắn mối quan hệ giai cấp - dân tộc, dân tộc - giai cấp lúc đó. Rõ ràng có một sợi dây liên tục dẫn thẳng từ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (tháng 11 - 1939) đến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5 - 1941), sợi dây đó chính là tư tưởng Hồ Chí Minh - tư tưởng của Đảng ta - dẫu rằng vào năm 1939, Bác vẫn còn hoạt động ở hải ngoại.

Giải đáp về Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (tháng 11 - 1939), Anh Ba còn nêu lên một điểm sáng tạo nữa là về vấn đề chính quyền. Ở đây, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (tháng 11 - 1939) đã thôi nói “Lập chính phủ công nông binh” như năm 1930 - 1931 mà nói đến việc lập chính quyền Cộng hoà dân chủ “là hình thức Chính phủ chung cho tất cả các tầng lớp dân chúng trong xứ và trong phong trào giải phóng dân tộc”. Đặc biệt, Anh Ba còn phân tích tính sáng tạo của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 trên vấn đề “Lực lượng chính của cách mạng là công nông”. Anh Ba chỉ rõ: Đối với Việt Nam, nếu nói nông dân là quân chủ lực, từ đó, lấy nông thôn bao vây thành thị cuối cùng giải phóng thành thị là không phù hợp thực tế. Còn Nghị quyết Trung ương 7 (năm 1940) lại nói lực lượng chính là vô sản, hậu bị quân trực tiếp là nông dân như cách đặt vấn đề của một số đảng cũng không đúng với điều kiện nước ta. So với Nghị quyết Trung ương 6 - Anh Ba nói - Nghị quyết Trung ương 7 về điểm đó có bước thụt lùi. Vì vậy, Anh Ba nói tiếp: Nếu lúc đó chúng ta không thấy được cả công nhân và nông dân đều là lực lượng chính của cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp vô sản thì là sai; không thấy được khả năng khi đủ điều kiện thì khởi nghĩa cả ở nông thôn và thành thị với lực lượng chính trị là chủ yếu, có lực lượng vũ trang kết hợp, mà chỉ lấy nông thôn bao vây thành thị, còn thành thị thì “trường kỳ mai phục” chờ chiến tranh du kích nông thôn tiến lên đã mà không kịp thời khởi nghĩa giành chính quyền thì cũng là sai. Đồng chí Lê Duẩn kết luận: Đó là sáng tạo của cách mạng Việt Nam. Nghị quyết Trung ương 6 (tháng 11 - 1939) có sáng tạo. Phong trào cách mạng 1940 - 1945 là một quá trình rất sáng tạo. Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 là sáng tạo rất lớn. Ở Việt Nam, chúng ta có khả năng lập căn cứ địa nông thôn, đồng thời cũng có khả năng giành chính quyền ở thành thị. Chỉ nói một chiều là không sát với thực tế Việt Nam. Đảng ta đã làm cách mạng một cách sáng tạo chứ không giáo điều. Cho nên, đứng về quá trình cách mạng từ 1930 - 1931, 1936 - 1939, 1940 - 1945, căn bản chúng ta đã có đường lối đúng, Đảng ta đã có nhiều sáng tạo trong cách mạng Việt Nam. Do đó mà cách mạng mới thành công. Ta thấy rằng lúc nào có phạm giáo điều thì cách mạng có giảm sút, khi nào sáng tạo thì phong trào cách mạng lên, cách mạng thành công.

Có thể nói rằng, ngay từ năm 1957, khi mà cách mạng hai miền Nam, Bắc và chung cả nước đang ở bước tìm tòi, khai phá con đường tiếp tục tiến lên, những kết luận nói trên của đồng chí Lê Duẩn có ý nghĩa thật lớn. Nó không chỉ có giá trị tổng kết sâu sắc kinh nghiệm lịch sử mà rất quan trọng là nó có giá trị chỉ đạo lớn đối với thực tiễn cách mạng miền Nam và cả nước lúc đó, nó còn soi sáng cho cả bước đường tiến lên về sau của cách mạng Việt Nam cho đến Đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Lần đầu tiên được học lịch sử Đảng một cách đầy đủ và có hệ thống, lại được nghe một đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng rất giàu kinh nghiệm thực tiễn và có tư duy sáng tạo lớn trực tiếp giảng giải, cả lớp học chúng tôi ai nấy đều cảm thấy rất đỗi tự hào về Đảng ta, về bản lĩnh cách mạng sáng tạo của Đảng, về sự vĩ đại của Đảng. Phải nói thực rằng, hồi đó, khi mà uy tín các Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc còn mang tính tuyệt đối thì, trước khi được học cặn kẽ lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiều người cảm thấy hình như Đảng ta không có gì cả, không có lý luận gì cả, chỉ toàn sao chép. Sau khi được học, suy nghĩ khác hẳn, mọi người được giải toả khỏi tâm lý tự ti. Một cảm nhận nữa đối với tất cả học viên chúng tôi là cùng với tầm cao trí tuệ và bản lĩnh của Đảng khi được tự mình lĩnh hội, mọi người đều tự thấy bản thân như lớn lên rõ rệt về chính trị, về trình độ nhận thức, về danh hiệu đảng viên. Anh là ai? Anh thuộc về Đảng nhưng Đảng là gì? Vì sao có Đảng? Đảng ta từ đâu đến? Và hiện đang ở đâu? Đảng gánh vác sứ mệnh gì và đã thực hiện sứ mệnh ấy như thế nào qua các giai đoạn lịch sử? v.v.. Tất cả điều đó, qua học lịch sử Đảng, mỗi người được sáng ra, nhờ đó cũng tự ý thức được về mình và được nâng lên về tính Đảng, về giác ngộ cộng sản chủ nghĩa, về trí tuệ cách mạng. Rõ ràng, làm cách mạng nếu chỉ có nhiệt tình không thôi là chưa đủ, còn phải có tri thức cách mạng. Tri thức cách mạng bao gồm nhiều mặt và phải được tích luỹ từ nhiều nguồn. Từ vốn học vấn và văn hóa chung đến những trải nghiệm trong cuộc sống; từ thực tiễn xã hội đến thế giới quan Mác-Lênin, v.v.. Ngoài ra, có một nguồn mà hễ là đảng viên cộng sản tuyệt đối không thể thiếu, đó là tri thức về Đảng, về lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng - lịch sử cách mạng Việt Nam và cả lịch sử cách mạng thế giới.

Không có lịch sử thì không có lý luận, thậm chí không thể tự định nghĩa được bản thân mình. Do đó, hễ là đảng viên thì nhất thiết phải học lịch sử Đảng, phải cố gắng tối đa “chiếm hữu” và biến thành của mình, thành “tài sản”, thành hành trang chiến đấu, suốt đời mang theo mình những bản lĩnh, sự dày dạn kinh nghiệm, những giá trị trí tuệ và phẩm chất cao quý của Đảng - những cái làm nên Đảng với tính cách là trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc, của thời đại. Sự hiểu biết về lịch sử Đảng, về lịch sử cách mạng càng phong phú và sâu sắc bao nhiêu thì tiềm năng tư tưởng, trí tuệ cách mạng và sức chiến đấu của người đảng viên càng dồi dào và vững chắc bấy nhiêu; ngược lại, mỗi đảng viên càng mạnh, thì Đảng càng mạnh giống như từng tế bào đối với cả cơ thể. Đó là một cảm nghĩ lớn đối với tôi ngay hồi đang học lớp lý luận dài hạn đầu tiên năm 1957 qua nghe đồng chí Lê Duẩn giải đáp những vấn đề về lịch sử Đảng ta. Trong khi phân tích những vấn đề của Đảng ta, đồng chí rất chú ý liên hệ với những kinh nghiệm cách mạng các nước, những kinh nghiệm của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Tư duy sáng tạo lớn ở đồng chí Lê Duẩn thể hiện nổi bật nhất là trong quá trình cùng tập thể Bộ Chính trị - với Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu và cả sau khi Người đi xa, đồng chí có nhiệm vụ kế tục Bác - lãnh đạo công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Một trong những tiêu điểm phản ánh điều đó là tập Thư vào Nam của Anh Ba. Sau khi chăm chú đọc lại Thư vào Nam, tự nhiên tôi liên tưởng đến một nhận xét của V.I. Lênin về tập thư từ trao đổi giữa C.Mác với Ph.Ăngghen. V.I. Lênin nói: Nếu dùng độc một từ đủ nói lên cái tinh tuý của những bức thư ấy thì từ đó là phép biện chứng. Tôi muốn mượn ý đó của Lênin để nói về Thư vào Nam - ở đây, một đồ đệ rất mực trung thành và sáng tạo của chủ nghĩa Mác - Lênin đã quán triệt được một cách sâu sắc phép biện chứng của các bậc thầy vĩ đại vào việc giải quyết những vấn đề cực kỳ phức tạp, ở những thời điểm cực kỳ phức tạp, trong một giai đoạn cực kỳ phức tạp của cách mạng Việt Nam. Thật vậy, toàn bộ tinh thần, thực chất, cái linh hồn sống toát lên từ tập Thư vào Nam có thể nói là phép biện chứng - phép biện chứng của sự sáng tạo cách mạng. Anh Ba tổng kết như sau trong tác phẩm nổi tiếng Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, viết năm 1970: “Không lĩnh vực nào đòi hỏi người cách mạng phát huy trí tuệ nhiều như lĩnh vực phương pháp tiến hành cách mạng. Cách mạng là sáng tạo; không sáng tạo thì cách mạng không thể thắng lợi. Xưa nay không có và sẽ không bao giờ có một công thức duy nhất về cách tiến hành cách mạng thích hợp với mọi hoàn cảnh, mọi thời gian. Một phương thức nào đó thích hợp với nước này lại có thể không dùng được ở nước khác; đúng trong thời kỳ này, hoàn cảnh này, song sẽ là sai nếu đem áp dụng máy móc vào thời kỳ khác, hoàn cảnh khác. Tất cả vấn đề là tuỳ thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể...”. “Chỉ có thể coi một phương pháp nào đó, một hình thức đấu tranh nào đó là tốt nhất, là đúng nhất khi nó đáp ứng đầy đủ yêu cầu của tình thế cụ thể, khi nó hoàn toàn phù hợp với những điều kiện trong đó nó được sử dụng, cho phép huy động đến mức cao nhất các lực lượng cách mạng và tiến bộ lên trận tuyến đấu tranh, cho phép khai thác triệt để những chỗ yếu của kẻ địch, và do tất cả những điều đó, có khả năng đưa lại thắng lợi lớn nhất mà tình hình so sánh lực lượng mỗi lúc cho phép”.

Tóm lại, “chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo” - đó là tư tưởng của Anh Ba, là tư duy của Anh Ba. Đó là điểm cơ bản về phương pháp luận từ đó Anh Ba suy nghĩ và soi sáng các vấn đề thực tiễn cách mạng và chiến tranh cách mạng. Cũng chính vì lẽ đó, khi hoạt động ở miền Nam, những năm 1950, Anh Ba được cán bộ các cấp mến phục gọi là “Ông deux cent bougies” (Ông sáng như ngọn đèn 200 nến).

Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do đồng chí Trường Chinh đọc tại lễ truy điệu đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn viết: Đồng chí Lê Duẩn “là một người Mácxít - Lêninnít chân chính, đồng chí luôn luôn suy nghĩ, tìm tòi, xuất phát từ tình hình thực tế, phân tích, giải quyết những vấn đề mới do cuộc sống đề ra. Sự sáng suốt của đồng chí thể hiện nổi bật trước những bước ngoặt của lịch sử và những tình huống phức tạp”.

Ta biết rằng, một thời gian sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 được ký kết, Đảng có khuyết điểm chậm chỉ đạo chuyển hướng chiến lược đấu tranh. Khách quan thế giới lúc đó cũng có chuyện phức tạp. Có Đảng anh em khuyên ta “chung sống hoà bình”, “thi đua kinh tế” giữa hai miền, chỉ cần bằng cách “nêu gương” rốt cuộc miền Bắc sẽ thắng, nước nhà thống nhất. Còn Đảng anh em khác lại khuyên “trường kỳ mai phục”, chờ đợi thời cơ. Trong khi đó, tình hình miền Nam ngày càng nước sôi lửa bỏng, Mỹ - Diệm trắng trợn chà đạp Hiệp định Giơ-ne-vơ, thẳng tay khủng bố tàn sát đồng bào và các cơ sở cách mạng, gây bao đau thương, tang tóc cho nhân dân ta. Trong linh cảm đặc biệt của mình, ngay khi tiễn đồng chí, đồng bào tập kết ra Bắc, thấy đồng bào hân hoan bao nhiêu khi chào nhau bằng hai ngón tay giơ cao tỏ ý hai năm hoà bình thống nhất sẽ sum họp lại, Anh Ba lòng càng nặng trĩu lo lắng và suy tư bấy nhiêu. Anh Ba thường kể lại như vậy tâm trạng Anh khi đó. Và với linh khiếu chính trị hết sức nhạy bén, với tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, Anh Ba đã lăn lộn từ miền Tây Nam Bộ lên Bến Tre rồi Sài Gòn, Đà Lạt để chỉ đạo phong trào, đồng thời từ thực tiễn, Anh nung nấu suy nghĩ con đường tiến lên cho cách mạng miền Nam. Đề cương cách mạng miền Nam do anh dự thảo năm 1956 chỉ rõ: “Nhân dân ta ở miền Nam chỉ có một con đường là vùng lên chống lại Mỹ - Diệm để cứu nước và tự cứu mình. Đó là con đường cách mạng. Ngoài con đường đó không có con đường nào khác”. Trong bối cảnh cực kỳ khó khăn tưởng chừng bế tắc của cách mạng miền Nam lúc bấy giờ, Đề cương có giá trị đột phá, khai thông, làm dấy lên cả một không khí tràn đầy tin tưởng, phấn chấn, tạo ra phong trào Đồng khởi mạnh mẽ của nhân dân miền Nam những năm 1959 - 1960. Và không chỉ thế. Ý nghĩa to lớn của Đề cương là ở chỗ nó góp phần chuẩn bị cơ sở lý luận và chính trị cho Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 lịch sử (1959), tiếp đó là Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (tháng 9 - 1960)…

(còn tiếp)

N.Đ.B


 

NGUYỄN ĐỨC BÌNH
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 238

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

18/04

25° - 27°

Mưa

19/04

24° - 26°

Mưa

20/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground