Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 17/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Tưởng nhớ cố Tổng Bí thư Lê Duẩn – Một nhà lãnh đạo kiệt xuất, một tư duy sáng tạo lớn (Phần 2)

 (Tiếp theo Cửa Việt số 238)

Từ năm 1957, Anh Ba được Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh điều động ra Hà Nội nhận trọng trách mới. Dưới sự chủ trì của Bác và cùng tập thể Bộ Chính trị, Anh Ba đã góp phần quan trọng hoạch định đường lối chính trị và chiến lược giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn cách mạng trong phạm vi cả nước. Xác định như thế nào đường lối cách mạng miền Bắc, miền Nam và mối quan hệ giữa cách mạng hai miền? Xác định như thế nào mối quan hệ giữa cách mạng hai miền với nhiệm vụ chung cả nước? Xử lý như thế nào mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cuộc đấu tranh chung vì hoà bình, cách mạng và Chủ nghĩa xã hội trên thế giới lúc đó? Quả là một tổ hợp rộng lớn các quan hệ và các vấn đề phức tạp đặt ra trước Đảng ta, làm sao có thể giải quyết đúng đắn nếu thiếu tư duy cách mạng sáng tạo? Tình hình càng phức tạp vì khi đó đã xuất hiện rồi ngày càng phát triển những bất đồng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trước hết là giữa hai Đảng lớn, hai nước lớn Xã hội chủ nghĩa. Mặc dù vậy, Đảng ta, Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết thành công các vấn đề trọng đại đó, đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam vượt qua bao khó khăn hiểm trở, không ngừng vững bước tiến lên. Ở cương vị Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương từ Đại hội III (1960), đồng chí Lê Duẩn đã góp phần to lớn vào thành công đó.

Thử thách cực kỳ nặng nề đối với cách mạng Việt Nam, đối với dân tộc Việt Nam, đối với Đảng ta thời kỳ này là đế quốc Mỹ nhảy vào xâm lược Việt Nam với một mưu đồ, một tham vọng lớn “ngăn làn sóng đỏ” lan xuống Đông Nam Á. Mỹ leo thang chiến tranh hết bước này đến bước khác, nhất là khi họ có được những tín hiệu chắc chắn khỏi bị giáng trả từ phía các nước lớn. Một loạt vấn đề phức tạp đặt ra cho Đảng ta trước “cuộc đụng đầu lịch sử” quyết liệt này: từ nhận định bối cảnh quốc tế đến đánh giá âm mưu và hành động của kẻ thù từ phân tích so sánh lực lượng địch - ta đến khẳng định quyết tâm chiến lược; từ vạch đường lối chiến lược, đến xác định phương châm đánh địch; từ xác định nhiệm vụ, mục tiêu và các bước thực hiện đến lựa chọn cách đánh; từ phân tích hình thái chiến tranh qua từng bước ngoặt đến phân tích tình thế cách mạng, đến xác định thời cơ, thời cơ chiến lược và thời cơ trực tiếp, v.v..

Đọc Thư vào Nam ta thấy rõ một phần quan trọng (quan trọng nhưng cũng chỉ mới là một phần) sự đóng góp hết sức to lớn của Anh Ba vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, của bộ thống soái tối cao qua giải quyết những vấn đề rất không đơn giản nói trên trong công cuộc kháng chiến thần thánh chống Mỹ, cứu nước. Cái tinh tuý nhất xuyên suốt các bức thư, như đã nói, là một tư duy sáng tạo lớn, là phép biện chứng Mác-xít. Sức hấp dẫn đầy cuốn hút của tập thư không phải chỉ trên lý thuyết mà còn ở phép biện chứng sống động trong chỉ đạo thực tiễn quá trình cách mạng và chiến tranh nhân dân.

Đọc Thư vào Nam, đặc biệt hứng thú là những chỗ tác giả phân tích so sánh lực lượng giữa ta và địch. Anh Ba viết trong một bức thư: “Thành bại của một cuộc cách mạng, nói cho cùng, là do lực lượng so sánh quyết định. Trong chiến tranh, kẻ nào mạnh thì thắng, kẻ nào yếu thì thua. Song nói mạnh, yếu là nói theo quan điểm cách mạng, quan điểm phát triển; là căn cứ vào sự đánh giá tổng hợp cả quân sự và chính trị, cả thế, lực và thời cơ, cả điều kiện khách quan và nghệ thuật lãnh đạo; là xem xét các yếu tố ấy trong quá trình vận động, trong không gian và thời gian nhất định. Không thể chỉ lấy số lượng quân đội, đơn vị, đồn bốt, số lượng vũ khí, trang bị và phương tiện chiến tranh để so sánh và đánh giá mạnh, yếu”. Rõ ràng, nếu thiếu sự phân tích biện chứng, khoa học như vậy về so sánh lực lượng thì quả là không dám đánh Mỹ và sự thật lúc đó không phải không có người sợ Mỹ. Làm rõ và đánh giá thật chính xác so sánh lực lượng địch - ta là cơ sở không chỉ để hạ quyết tâm chiến lược mà còn để vạch chính xác bản thân đường lối chiến lược, các phương châm chiến lược, cho đến cả tư tưởng chỉ đạo chiến thuật và cách đánh. Biện chứng chung của sự phân tích so sánh lực lượng như trên được tác giả Thư vào Nam quán triệt cụ thể trong từng thời kỳ, ở từng bước ngoặt của chiến tranh - đúng như tác giả nói, nó được xem xét “trong quá trình vận động” - chẳng hạn ở thời kỳ “Chiến tranh đặc biệt” từ 1961 đến giữa 1965, từ năm 1965 - 1966 khi Mỹ đưa 20 vạn quân viễn chinh vào miền Nam, từ năm 1968 sau Tết Mậu Thân và khi quân Mỹ đã tăng đến hơn nửa triệu quân, từ năm 1973 sau Hiệp định Paris, v.v.. Biện chứng khách quan của sự biến chuyển trong so sánh lực lượng địch - ta cũng như âm mưu, hành động của địch, đối sách của ta, được tác giả Thư vào Nam theo sát từng bước và phân tích cụ thể, thậm chí đến từng chiến trường lớn, hoặc sau từng chiến dịch và trận đánh lớn, hoặc qua mỗi động thái ít nhiều có ý nghĩa trên sân khấu chính trị Mỹ hoặc Sài Gòn, khi xét thấy những sự kiện quân sự và chính trị đó có thể tác động đến toàn cục dù mới ở dạng khả năng.

Xuất phát từ sự phân tích chính xác tương quan lực lượng địch - ta, từ cục diện chính trị thế giới nói chung, từ yêu cầu sự nghiệp cách mạng cả nước xét trên lợi ích toàn cục, Đảng ta và Anh Ba đã rất sáng suốt đề ra chủ trương kiềm chế và thắng địch trong phạm vi miền Nam. Như vậy, ở đây phải giải quyết hết sức biện chứng nhiều quan hệ lớn dường như đầy mâu thuẫn, bảo đảm sao cho vừa giải phóng được miền Nam, vừa bảo vệ được công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa giữ được hoà bình thế giới, vừa tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của nhân dân tất cả các nước, vừa đoàn kết được phe Xã hội chủ nghĩa trước hết là giữa Liên Xô và Trung Quốc trên vấn đề ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược. Kết hợp thống nhất và đạt cho được tất cả những yêu cầu ấy quả là rất không đơn giản. Nó đòi hỏi cao ở bản lĩnh chính trị, sự sáng suốt và khôn ngoan, kết hợp nhuần nhuyễn tính kiên định trên những nguyên tắc và mục tiêu chiến lược với tính linh hoạt và mềm dẻo cao độ về sách lược. Điều này đòi hỏi đôi khi phải cân nhắc thậm chí đến cả mức độ của một trận thắng, bởi trong điều kiện nhất định nào đó, trong tương quan chung nào đó nếu thừa thắng xông lên vượt quá cái “độ” của sự vật mà không biết điểm dừng thì có thể dẫn tới hậu quả phá hỏng cả thế trận chung. Một ví dụ tiêu biểu cho tình huống này, Anh Ba thường dẫn ra làm bài học là chiến thắng Nậm Thà của bạn Lào tháng 5 - 1962. Ngay cả trong chiến thuật vừa đánh vừa đàm có khi “trong đàm phán nếu ta đưa ra yêu cầu có mức độ, làm cho địch thấy rằng, tuy phải thua, nhưng thua ở một mức có thể chịu được, một mức thua chưa đẩy địch vào tình thế nguy khốn, thì chúng cũng phải chịu thua”. Phương hướng chiến lược là tiến công và mục tiêu cuối cùng là toàn thắng, nhưng nghệ thuật chỉ đạo là phải biết thắng từng bước cho đúng, bảo đảm thắng địch theo yêu cầu cụ thể của ta trong mỗi lúc và không phương hại đến đại cục - đó là tư duy chiến lược ở Anh Ba. Tư duy đó tạo khả năng làm chủ các quá trình và xu thế phát triển của sự vật trên cơ sở nắm vững tính quy luật diễn biến trong cuộc chiến giữa ta và địch, từ thắng lợi từng bước tiến tới thắng lợi hoàn toàn.

Tư duy chiến lược và khả năng làm chủ cuộc chiến của Đảng ta, của bộ thống soái tối cao và người chịu trách nhiệm chính ở đây - đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn - thể hiện nổi bật ở chỗ không chỉ biết khởi sự, biết điều khiển tiến trình mà còn biết kết thúc chiến tranh đúng lúc và có lợi nhất. Đại tướng Văn Tiến Dũng cho biết: “Sau khi Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris và rút quân về nước, qua hai năm đấu tranh tạo thế và lực, nhận định địch đã suy yếu toàn diện, ta đã lớn mạnh hơn hẳn, trong Kết luận đợt 1 Hội nghị lịch sử Bộ Chính trị năm 1974, đồng chí (Lê Duẩn) chỉ rõ: Lúc này chúng ta đang có thời cơ chiến lược để giải phóng miền Nam. Hai mươi năm chiến đấu mới tạo được thời cơ này, chúng ta phải nắm lấy để đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn. Mỹ tung vào hàng chục vạn quân với những cố gắng chiến tranh cao nhất, rút cục phải rút ra, Mỹ đã thua và đã lùi một bước nghiêm trọng. So sánh lực lượng ta - địch đã có một thay đổi quan trọng. Lúc này, Mỹ và một số cường quốc khác mặc cả, thoả hiệp với nhau tìm mọi cách chặn bước tiến của Việt Nam. Tuy âm mưu của họ rất nguy hiểm nhưng lúc này chưa ai sẵn sàng, chưa ai đủ sức làm nổi. Ngoài thời cơ này không có thời cơ khác nữa, nếu để chậm, bọn ngụy gượng dậy được, các thế lực xâm lược, can thiệp phục hồi và mạnh lên thì tình hình sẽ phức tạp vô cùng... Trong đợt 2 Hội nghị Bộ Chính trị (tháng 12 - 1974), đồng chí kết luận khẳng định quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị thực hiện trận quyết chiến cuối cùng giải phóng miền Nam, thông qua chiến lược hai năm 1975 - 1976 và chỉ rõ chúng ta phải cố gắng cao nhất để thắng gọn trong năm 1975. Đó là một khả năng hiện thực. Đồng chí Lê Duẩn nêu ý kiến chọn Tây Nguyên làm hướng chiến lược chủ yếu, mở trận đầu đánh Buôn Ma Thuột”.

Trong cuốn Hồi ký Những năm tháng quyết định, Đại tướng Hoàng Văn Thái kể lại như sau: “Ngày 20 tháng 7 (1974) Văn phòng Trung ương Đảng báo cho biết đồng chí Bí thư thứ nhất nghỉ ở Đồ Sơn cho mời chúng tôi xuống để “bàn về tình hình và nhiệm vụ sắp tới; chú ý mang theo cả bản đồ”. Chúng tôi hiểu đó là bản kế hoạch chiến lược, một vấn đề mà các anh trong Bộ Chính trị đang suy nghĩ để chuẩn bị cho Hội nghị tháng 9 sắp tới. Chuyến đi có anh Lê Trọng Tấn và tôi. Cùng đi còn có đồng chí Võ Quang Hồ, Phó Cục trưởng tác chiến... Tới nơi gặp Anh Ba, chúng tôi biết rõ được ý Anh. Chúng tôi đã phán đoán đúng: Anh muốn gợi ý trao đổi để cơ quan tham mưu suy nghĩ giúp cho việc chuẩn bị và xây dựng kế hoạch chiến lược... Dựa vào các vấn đề Anh Ba nêu lên, chúng tôi đã báo cáo những công việc lớn đã và đang tiến hành, theo dõi, chỉ đạo... Chúng tôi cũng báo cáo công việc chuẩn bị chiến lược trên các mặt..., báo cáo tình hình các chiến trường..., báo cáo tổng quát tình hình có bản đồ kèm theo... Sau buổi nghe báo cáo chiều 21, Anh Ba phát biểu những suy nghĩ của Anh về những vấn đề liên quan đến kế hoạch chiến lược, đến thời cơ chiến lược...”. Đại tướng Hoàng Văn Thái viết tiếp: “Một ngày làm việc liên tục trôi đi rất nhanh. Cái lắng đọng sâu sắc trong tâm trí tôi sau một ngày bàn bạc và suy nghĩ là ý kiến Anh Ba về thời cơ chiến lược. Rõ ràng tình hình đòi hỏi phải khẩn trương hơn. Vài năm tới là thời điểm khẩn thiết và cũng là thời cơ thuận lợi nhất để giành thắng lợi quyết định. Càng để lâu, tình hình sẽ càng trở nên phức tạp. Cần có quyết tâm và kế hoạch đánh lớn, thắng nhanh... Ta cần nghiên cứu cách đánh thắng thế nào, phải thắng to, thắng nhanh để ngụy không kịp trở tay, các nước có ý đồ can thiệp không kịp can thiệp. Muốn vậy, phải chuẩn bị cho cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa dứt điểm trong vòng 1 - 2 tháng khi có thời cơ chiến lược”.

Về Hội nghị lịch sử Bộ Chính trị mở rộng cuối năm 1974, Đại tướng Hoàng Văn Thái kể lại trong hồi ký: “Sau khi phân tích một cách biện chứng về so sánh lực lượng giữa ta và địch sau Hiệp định Paris, Anh Ba nói: “Điều cần nhấn mạnh là phải nhận rõ những khả năng và lực lượng to lớn mà chúng ta cần và có thể huy động được, tạo nên sức mạnh tổng hợp để đánh thắng trong cuộc đọ sức cuối cùng với địch.

Sức mạnh của chúng ta trước hết là sức mạnh làm chủ của nhân dân, sức mạnh cả nước đánh giặc, từ Bắc đến Nam, hậu phương đến tiền tuyến...

Sức mạnh của chúng ta là sức mạnh của hai ngọn cờ độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội, gắn liền chặt chẽ với ba dòng thác cách mạng của thời đại...

Sức mạnh của ta là sức mạnh của chiến tranh nhân dân...”.

Toàn thể Hội nghị nghe chăm chú, phấn khởi, đồng tình. Anh Ba rất vui vẻ đi vào phần cuối của bài kết luận. Anh khẳng định: “Quyết tâm của ta là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy cuối cùng, đưa chiến tranh cách mạng phát triển đến mức cao nhất, tiêu diệt và làm tan rã quân ngụy, đánh chiếm Sài Gòn, sào huyệt trung tâm của địch cũng như tất cả các thành thị khác, đánh đổ ngụy quyền ở trung ương và các cấp, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân, giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thống nhất nước nhà. Ngay từ bây giờ, phải tiến hành mọi công việc chuẩn bị thật khẩn trương, tạo điều kiện và cơ sở vật chất đầy đủ nhất để đánh mạnh, đánh nhanh, thắng gọn và thắng triệt để trong thời gian hai năm 1975 - 1976... Thời cơ này không cho phép chúng ta lừng chừng, do dự!”.

Đại tướng Hoàng Văn Thái kể tiếp: “Sau những tiếng vỗ tay nhiệt liệt hưởng ứng lời kết luận của đồng chí Bí thư thứ nhất, đồng chí Bí thư Quân ủy Trung ương đứng lên thay mặt toàn quân nói:

- Anh Ba đã kết luận Hội nghị, một cuộc hội nghị lịch sử với những kết luận lịch sử, hoàn thành cách mạng giải phóng miền Nam. Anh Ba đã thay mặt Đảng trao nhiệm vụ cho quân đội. Quân đội sẽ quyết tâm thực hiện bằng được nhiệm vụ lịch sử của Đảng trao cho.

Hội nghị kết thúc với niềm phấn khởi và tin tưởng vào thắng lợi to lớn những ngày sắp tới”.

Chiến tranh là thử thách khắc nghiệt và nặng nề nhất đối với một đất nước, một chế độ xã hội, đối với sức con người, đối với cả ý chí, năng lực trí tuệ và sức sáng tạo của con người. Chiến tranh là một hình thái vận động xã hội cực kỳ năng động và phức tạp; nếu phép biện chứng là quy luật phổ biến của mọi vận động nói chung, thì nó biểu hiện càng muôn hình vạn trạng và thiên biến vạn hóa trong chiến tranh. Hơn nữa, chống Mỹ cứu nước không chỉ là chiến tranh mà còn là chiến tranh cách mạng; hơn thế, nó là cách mạng và cách mạng trong điều kiện “một cuộc chiến tranh chống ngoại xâm đồng thời mang một số yếu tố nội chiến”. Tính biện chứng trong sự vận động hiện thực ở đây, vì vậy, phức tạp và phong phú không biết bao nhiêu mà kể. Làm sao phản ánh đúng, làm chủ và điều khiển được các quá trình vận động khách quan ở đây để giành chiến thắng nếu thiếu phép biện chứng trong tư duy? Từ đó ta thấy tầm cao trí tuệ tuyệt vời thể hiện nổi bật ở Thư vào Nam - kết tinh trí tuệ tập thể của Bộ Chính trị, của toàn Đảng, dưới sự chỉ đạo của tư tưởng Hồ Chí Minh “dĩ bất biến ứng vạn biến”.

Phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo là nét rất đặc trưng ở đồng chí Lê Duẩn. Đầu óc luôn suy nghĩ, tìm tòi, trăn trở với những vấn đề do cuộc sống đặt ra, đó là bản tính Anh Ba. Có cảm tưởng Anh Ba sinh ra để suy nghĩ, không suy nghĩ dường như Anh không chịu nổi - “Tôi tư duy tức tôi tồn tại”. Mỗi khi quá trình thực tiễn hoặc nhận thức có vấn đề nảy sinh ít nhiều quan trọng đối với sự nghiệp lớn, Anh đeo đuổi nó đến cùng. Anh tự mình trăn trở ngày đêm nhưng cũng rất thích có người trao đổi, thảo luận, tranh luận, thậm chí đôi khi chỉ cần có đối tượng hiểu Anh để Anh nói, càng nói ý càng ra, ý mới nảy sinh, ý cũ thường nhắc lại nhưng lần sau bao giờ cũng sáng hơn và có khía cạnh sâu hơn lần trước.

Đặc điểm ở Anh Ba là không bao giờ tự thoả mãn với những gì nhận thức đã đạt tới. Không bao giờ Anh cho là vấn đề đã xong xuôi. Chân lý, với Anh, là vô cùng tận, và do đó suy nghĩ không ngừng được đẩy tới, nâng lên. Anh vừa có tầm nhìn xa trông rộng, bao quát, vừa rất chú ý cái cụ thể, nhạy cảm với sự vật mới và có tài nắm bắt kịp thời cái mới khi vừa nảy sinh; từ đó sớm rút ra những kết luận cần thiết cho nhận thức và hành động. Có thể kể ra một vài trong vô số ví dụ: Từ chiến thắng Bình Giã, Ba Gia của Quân giải phóng, Anh rút ra kết luận là Mỹ đã thất bại trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” từ trận Vạn Tường, Anh kết luận ta hoàn toàn có khả năng đánh thắng Mỹ; sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, đến giải phóng Huế có nghĩa giải phóng Đà Nẵng; giải phóng Đà Nẵng, Anh khẳng định có nghĩa giải phóng Sài Gòn. Và như vậy, thời cơ đẻ ra thời cơ, kế hoạch chiến lược toàn thắng 2 năm 1975 - 1976 rút xuống 1 năm, rồi trước mùa mưa năm 1975, cuối cùng chỉ cần 56 ngày với phương châm hành động “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”. Như vậy, lệnh của Bác Hồ: “Vì độc lập, vì tự do; đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào!” được thực hiện trọn vẹn.

Anh Ba thường nhắc câu nói nổi tiếng của Napoléon: “On s'engage et on verra” (cứ làm đi rồi tình thế sẽ cho thấy khả năng làm tiếp). Anh nói: “Trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định không phải chỉ có một khả năng mà luôn luôn có thể có nhiều khả năng tiến lên và sự vật tiến theo khả năng này hay khả năng kia còn tuỳ thuộc vào ý định con người... Sự phát triển của lịch sử là kết quả sự thống nhất biện chứng của nhân tố khách quan và chủ quan”. Anh cũng thường nói: chính trị là nghệ thuật về các khả năng.

Với ý chí gang thép, dũng khí cách mạng kiên cường kết hợp thống nhất với tư duy khoa học, tính kiên định cách mạng thống nhất với tính uyển chuyển trong tư duy - đó là nguồn gốc sự sáng tạo cách mạng ở Anh Ba, và về mặt này, Anh là một trong những tấm gương sáng.

Vô cùng sắc sảo trong cách mạng dân tộc dân chủ, trong kháng chiến và chiến tranh nhân dân, tư duy sáng tạo của Anh Ba cũng ghi những dấu ấn trong cách mạng Xã hội chủ nghĩa, mặc dù ở đây có mặt không thành công, nguyên nhân có nhiều và rất không đơn giản. Có điều khẳng định được là độc lập, tự chủ, sáng tạo, phong cách tư duy đó vẫn là nhất quán ở Anh Ba. Những gì không thành công ở đây, nếu dùng cách so sánh hình tượng của Lênin, có thể ví như những “bông hoa điếc” nhưng là “bông hoa điếc” mọc trên cả thân cây sống. Hơn nữa, rất tiếc vào những năm cuối đời, sự nghiệp thì lớn, đầy khó khăn phức tạp và rất mới mẻ, trong khi tuổi tác và bệnh tật đã hạn chế nhiều sức suy nghĩ ở Anh Ba. Mặc dù vậy, trước sau Anh Ba vẫn là kẻ thù không khoan nhượng với chủ nghĩa giáo điều, bệnh rập khuôn, sao chép, cũng như với chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa thực dụng thiển cận, vô nguyên tắc, với mọi khuynh hướng và biểu hiện xa rời chủ nghĩa Mác. Điều thật sự tâm huyết ở Anh Ba là cố gắng suy nghĩ cùng tập thể lãnh đạo tìm kiếm cho đất nước một mô hình đi lên Chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm xuất phát và những điều kiện lịch sử cụ thể Việt Nam. Những đặc thù này, Anh luôn trăn trở, tìm tòi không chỉ về mặt kinh tế mà cả về các mặt truyền thống văn hóa - lịch sử và con người Việt Nam.

Luận điểm “tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt” không chỉ đúng trong thực chất mà điểm rất nhạy bén là sớm thấy vai trò của khoa học - kỹ thuật. Điều này ngày càng được thực tiễn chứng minh là đúng, và ngày nay, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì phát triển khoa học - công nghệ (cùng với giáo dục - đào tạo) được các nghị quyết của Đảng coi là “quốc sách hàng đầu”. Luận điểm nói rằng nội dung cơ bản cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa hai con đường ở Việt Nam là đưa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn - một luận điểm giúp uốn nắn quan niệm “tả” khuynh rập khuôn bên ngoài về đấu tranh giai cấp - là rất đúng với khi đó tinh thần cơ bản của luận điểm ấy, như mọi người đều biết, nay vẫn được thể hiện trong Văn kiện của Đảng. Ý tưởng về làm chủ tập thể, về quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa bao hàm trong đó sự tôn trọng và phát huy đầy đủ năng lực, sáng kiến và sức sáng tạo cá nhân, phải nói là có hạt nhân hết sức hợp lý. Chính Bác Hồ đã từng nói đến và ngày nay chúng ta đang ra sức tìm tòi, đổi mới để không ngừng hoàn thiện hệ thống chính trị với cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý quyết tâm xây dựng một nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân. Nói phát huy quyền làm chủ tập thể không sai, có điều, như Lênin nói, cái đúng một khi bị phóng đại, bị tuyệt đối hóa một cách phiến diện, bị đẩy quá giới hạn áp dụng của nó thì chân lý cũng có thể biến thành sai lầm.

Trong tư duy chiến lược về cách mạng Xã hội chủ nghĩa của đồng chí Lê Duẩn, vấn đề xây dựng và phát triển văn hóa, con người giữ vị trí hết sức trọng yếu. Anh Ba cho rằng: Con người ta không chỉ sống với miếng cơm manh áo mà còn có đời sống tình cảm, đời sống văn hóa, những cái đó gắn liền với dân tộc. Nay mai dù cho đến khi Chủ nghĩa cộng sản thành công thì câu ca dao Việt Nam cũng làm rung động lòng người Việt Nam hơn hết. Trong bao nhiêu điều thường xuyên trăn trở ở Anh Ba, có một chủ đề lớn là con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam, lịch sử dân tộc và truyền thống Việt Nam. Anh day dứt: Ta là người Việt Nam nhưng ta hiểu rõ ta không phải là dễ; hiện nay chưa phải là chúng ta đã hiểu người Việt Nam lắm đâu. Anh thường nói: Có lẽ do biết coi trọng đạo lý làm người và biết làm người mà dân tộc Việt Nam ta đã đấu tranh tồn tại được và trưởng thành nên một dân tộc độc lập, một quốc gia độc lập. Đạo lý làm người đã hun đúc nên dân tộc Việt Nam và tạo cho dân tộc ta một sức sống mãnh liệt và cũng nhờ thế mà ngày nay chúng ta mới có được những trang lịch sử vô cùng oanh liệt và vẻ vang. Đồng chí Lê Duẩn căn dặn các nhà sư phạm: Thầy giáo muốn dạy học tốt phải hiểu con người một cách sâu sắc. Hơn nữa, thầy giáo phải hiểu rõ hơn ai hết con người Việt Nam, lịch sử Việt Nam với tất cả truyền thống vẻ vang của dân tộc. Phải xuất phát từ những tư tưởng, tình cảm của thời đại và những vốn đã có của dân tộc và trên cơ sở ấy mà xây dựng tri thức, tình cảm cho học sinh phù hợp với giai đoạn mới của lịch sử. Dạy học tức là trang bị cho các em những tri thức khoa học, đồng thời phải rèn luyện các em về đạo đức. Cái gốc của đạo đức, của luân lý là lòng nhân ái. Tôi hiểu những quan điểm nêu trên là những yếu tố hợp thành rất quan trọng trong tư duy sáng tạo của Anh Ba trên lĩnh vực phát triển văn hóa và con người.

Trong cách mạng Xã hội chủ nghĩa, phải nói “bước đi ban đầu” là một khái niệm làm nổi bật tư duy sáng tạo ở Anh Ba làm nức lòng giới lý luận đầu những năm 70 thế kỷ XX. Rất tiếc, khái niệm này bị chìm đi tại Đại hội IV (1976) trong không khí chung say sưa vì thắng lợi. Đến Đại hội V của Đảng (1982), tư tưởng về “bước đi ban đầu” được trở lại cùng với sự tự phê bình về khuyết điểm chủ quan nóng vội trong xây dựng và phát triển, bảo thủ trì trệ trong cơ chế quản lý, đồng thời có một số điều chỉnh bước đầu về cơ cấu và cơ chế kinh tế. Đại hội V về mặt này cùng với Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (1979) “làm cho sản xuất bung ra”, Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương về khoán sản phẩm trong nông nghiệp (1981), v.v. được coi là những tín hiệu đổi mới đầu tiên, nhưng phải đến Đại hội VI (năm 1986) mới đạt tới bước ngoặt thực sự mở ra công cuộc đổi mới. Đại hội VII rất quan trọng ở chỗ đã vạch ra đường lối chung, cơ bản cho toàn bộ sự nghiệp cách mạng Xã hội chủ nghĩa, từ đó chỉ đạo cho công cuộc đổi mới. Với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, trong đó tư tưởng “bước đi ban đầu” dưới thuật ngữ “chặng đường đầu tiên” được thực sự trở lại với nội dung có phát triển mới và đến Đại hội VIII thì những mục tiêu của chặng đường này đã được thực hiện. Một đặc điểm ở Anh Ba, nhà cách mạng lớn say mê tìm tòi, suy nghĩ cái mới là ở chỗ, đôi khi quá trình tư duy vật vã hé ra được một tia sáng mới nào đó nếu có bộ máy giúp việc tốt để tiếp tục nghiên cứu, đào sâu và khai triển hợp lý, đúng đắn đến tận cùng lôgíc thì có thể mở ra cả một chân trời rộng lớn cho nhận thức khám phá, sáng tạo, nhưng gặp khi hoàn cảnh khách quan thay đổi quá lớn, chủ quan chưa kịp trầm tĩnh để nhìn nhận thấu đáo và toàn diện những điều kiện mới và các vấn đề nảy sinh, tia tư tưởng mới, do đó, có thể bị trôi đi hoặc quên lãng - khái niệm đầy ý tưởng sáng tạo năm 1970 về “bước đi ban đầu” (cũng có thể nói thêm tư tưởng về nhiều thành phần kinh tế ở miền Nam, v.v. trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 24 tháng 9 - 1975), tôi nghĩ chính là nằm trong tình hình đó.

Nhớ Anh Ba, cho phép tôi tự đáy lòng mình bày tỏ đôi điều cảm nghĩ về mặt tư duy lý luận sáng tạo là nét rất nổi bật ở Anh - cái tư chất này là hết sức thiết yếu đối với bất cứ nhà lãnh đạo chính trị nào ở cấp cao - đã góp phần quyết định những công lao to lớn đưa Anh đi vào lịch sử như một trong những lãnh tụ lỗi lạc của cách mạng Việt Nam, của dân tộc Việt Nam ở thế kỷ XX, của Đảng ta - Đảng của Hồ Chí Minh vĩ đại.

N.Đ.B 

__________

Tài liệu tham khảo:

- Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng toàn tập.

- Lê Duẩn. Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới. Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1970.

- Xem bài giải đáp môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam của đồng chí Lê Duẩn, năm 1957, lưu tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.

- Báo Nhân Dân, ngày 16 – 7 - 1986.

- Lê Duẩn. Thư vào Nam. Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985.

- Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng. Lê Duẩn và cách mạng Việt Nam. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997.

- Xem Đại tướng Hoàng Văn Thái. Những năm tháng quyết định.  Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1985.

 

NGUYỄN ĐỨC BÌNH
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 240

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

18/04

25° - 27°

Mưa

19/04

24° - 26°

Mưa

20/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground