Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 17/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Vài nét về nội thương Quảng Trị thế kỷ XIX (Phần 1)

TCCV Online -  Quảng Trị, vùng đất dựng nghiệp của các chúa Nguyễn, trải qua quá trình phát triển kể từ khi chúa Tiên Nguyễn Hoàng  lánh nạn về phương Nam, đặt viên đá đầu tiên trong quá trình dựng nghiệp đến nay tính đã hơn 450 năm. Chính Nguyễn Hoàng cùng với con cháu của ông đã tiếp tục hành trình mở cõi về Nam, để tạo ra một đất nước Việt Nam hoàn chỉnh vào nửa sau thế kỉ XVIII. Chính nhờ mảnh đất Quảng Trị đã tạo thế đứng vững chắc cho các chúa Nguyễn đối chọi với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Từ mảnh đất này, chúa Tiên đã thực hiện chính sách thu phục nhân tâm, chủ trương phát triển kinh tế đối ngoại tạo bàn đạp vững chắc để khai phá đất Đàng Trong. Ban đầu đây vẫn là một khu vực có dân cư thưa thớt, kinh tế kém phát triển, điều kiện canh tác sinh hoạt còn khó khăn, phải thường xuyên đối phó với thiên tai địch họa, nhưng trong gần ba thế kỉ XVI – XVIII nền kinh tế nơi đây đã có những chuyển sắc rõ rệt, nhất là kinh tế thương nghiệp. Là sự xuất hiện của hàng chục chợ làng với sự đa dạng của hàng hóa trao đổi và sự năng động của đội ngũ thương nhân, từ đó hình thành các thương điếm khá lớn để trao đổi mua bán với bên ngoài. Tạo được mối liên hệ khá chặt chẽ giữa ba lĩnh vực là sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp Quảng Trị. Sang thế kỉ XIX, bối cảnh chính trị xã hội Việt Nam đã đổi khác, làm tác động đến sự phát triển kinh tế Quảng Trị trong đó có kinh tế thương nghiệp. Phạm vi bài viết sẽ đề cập vài nét cơ bản về nội thương Quảng Trị thế kỉ XIX, góp phần khôi phục bộ mặt kinh tế thương nghiệp Quảng Trị thế kỉ XIX.

 

1. Bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam và Quảng Trị thế kỉ XIX

Năm 1802, saukhiđánhbại 3 anhemnhàTâySơn, NguyễnÁnh chínhthứclênngôilấyniênhiệu Gia Long, chọnPhúXuân (Huế) làmkinhđô, lậpratriềuNguyễntồntại 143 năm, qua haithếkỉ, trải qua 13 đờivua. TriềuNguyễnđược chia rahaigiaiđoạnpháttriểnriêngbiệt: Giaiđoạntồntạivớitưcáchlàmộtthựcthểchínhtrịđộclập (1802 - 1885) vàgiaiđoạnbị đếquốcPháp xâmlăngvàđôhộ (1885 - 1945). Giaiđoạnđộclậpkéodàitrên 80 nămlàthờiđiểmtrịvìchủyếucủa 4 vịvua, Gia LongMinh MạngThiệuTrịTựĐức. Cácnăm 1831 - 1832, Minh Mạng thựchiệncảicáchhànhchínhrộnglớn; chia nướclàm 30 tỉnhvà 1 phủtrựcthuộc (ThừaThiên). Sauđó chia đấttừQuảngTrịraBắcthành 9 tỉnh (hạt) lớn, caiquản 18 tỉnhnhỏ, thôngthườngmỗitỉnhlớnbằng 2 tỉnhcũgộplại. Đứngđầumỗitỉnhlớnlàchứctổngđốc, còncáctỉnhvừavànhỏlàchứctuầnphủ; ngoàiracòncóchứcbốchánh, ánsát, lãnhbinhphụgiúp. QuảngTrịvàQuảngBìnhlàhaitỉnhnhỏthuộctỉnhlớnBìnhTrị.

Thời Minh Mạng, lãnhthổ Đại Nam mởrộngtớitrungtâm Ai Lao. CácvùngSầmNứa, TrấnNinh, Cam MônvàSavannakhethiện nay đềuđượcsápnhậpvàtrởthànhcácchâu, phủcủa Đại Nam, tiếpgiápvớicáctỉnhThanh Hóa, Nghệ An, QuảngTrị. Do vậy, giữa Đại Nam vớiXiêm La (TháiLan) thườngxảyrachiếntranh, đểcạnhtranhảnhhưởngđốivớiChânLạpvàVạnTượng. Tìnhhìnhđólàmchoquanhệbuônbángiữaphủ Cam Lộvớicácdinhtrấnphụthuộcbịchữnglại. Vềkinhtế, Minh Mạngrấtchútrọngviệckhẩnhoangruộngđất, ôngđặtquankhuyếnnông, hàđêsứ, khuyếnkhíchviệckhaihoang (cáchuyện Kim SơnvàTiềnHảivenbiểnBắcBộcũngđượclậptronggiaiđoạnnày); côngcuộc khẩnhoang và xâydựngthuỷlợi cũngđượcđẩymạnh ở Nam Bộ. Chínhquyềncòncho ngườiHoa sang buônbán, địnhcư, lậpấp ở Đại Nam. CáctỉnhQuảngBình, QuảngTrị, ThừaThiên, Quảng Nam…, đềucósựxuấthiệncủacáclàng Minh Hương. Đốivớithươngnhân nhàThanh sang buônbán, ngườinàocóvậtlựcthì 1 nămphảiđóng 6 quantiền; nếukhôngthìphảinộpmộtnửa, hạncho 3 năm, thìchiếulệthucảthuế.

Quảng Trị, vùng đất nằm ở vị trí cửa ngõ phía bắc của kinh đô Phú Xuân, trong thời gian đầu triều Gia Long, Quảng Trị là một trong 4 dinh trực lệ thuộc kinh đô (gồm Quảng Đức, Quảng Bình, Quảng Trị và Quảng Nam). Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) danh xưng Quảng Trị xuất hiện với tư cách là một tỉnh của triều đình. Năm 1834 khi lấy kinh sư làm trung tâm, Minh Mạng lại thay đổi tên gọi các khu vực hành chính, Quảng Trị với Quảng Bình gọi là Bắc trực; Quảng Nam, Quảng Ngãi là Nam trực, Bình Định đến Bình Thuận là Tả kỳ; Hà Tĩnh đến Thanh Hoa là Hữu kỳ, Biên Hòa đến Hà Tiên là Nam kỳ; Ninh Bình đến Lạng Sơn là Bắc kỳ. Minh Mạng năm thứ 12 (1831), đạo Cam Lộ đổi làm phủ Cam Lộ, Quảng Trị có 2 phủ: Triệu Phong và Cam Lộ; 3 huyện Hải Lăng, Đăng Xương và Minh Linh; 10 châu kiêm nhiếp: Hướng Hóa, Mường Vanh, Nà Bồn, Thượng Kế, Tá Bang, Xương Thịnh, Tầm Bồn, Ba Lan, Mường Bổng, Làng Thìn. Minh Mạng năm thứ 15 (1834), đổi châu Hướng Hóa thành huyện Hướng Hóa, Cam Lộ còn lại 9 châu kiêm nhiếp. Việc phân cấp bộ máy hành chính ở địa phương Quảng Trị có sự thay đổi qua các triều vua. Tự Đức năm thứ 6 (1853), tỉnh Quảng Trị đổi thành đạo Quảng Trị và nhập vào phủ Thừa Thiên. Dưới cấp tỉnh (đạo) có các cấp phủ, huyện, tổng, xã. Đứng đầu phủ là viên Tri phủ, huyện là Tri huyện, tổng là Cai tổng, xã là Xã trưởng (thời Minh Mạng gọi là Lý trưởng). Đội ngũ giúp việc còn có các chức như Giáo thụ, Huấn đạo, Lại mục…

Sau vụ biến kinh thành Huế (1885), triều Nguyễn đã không còn tồn tại như một thực thể độc lập, sau khi dập tắt hoàn toàn ngọn lửa cuối cùng của phong trào Cần Vương, Pháp bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1914), là việc tổ chức bộ máy hành chính riêng cho từng “xứ” thuộc liên bang, cho sửa đổi lại chế độ tài chính, thiết lập một hệ thống thuế khóa mới, cho người nghiên cứu phong tục, tập quán cổ truyền của người Việt, xây dựng hệ thống đường sắt, đường bộ, sông đào, bến cảng..., tất cả đều nhằm phục vụ  cho công cuộc khai thác và hệ quả tất yếu đã làm biến chuyển cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam trong đó có Quảng Trị.

2. Những nhân tố tác động đến thương nghiệp Quảng Trị thế kỉ XIX

2.1. Chính sách của nhà nước

Nhữngthayđổivềmặthànhchínhnhưđãđềcập ở trênphầnnàocũngcótácđộngtớithươngnghiệpQuảngTrịtronggiaiđoạnnày.Sựphân chia, sắpxếpcắtđặtlạicácđơnvịhànhchínhlàmchocácchínhsáchpháttriểnkinhtế, ổnđịnhdânsinhcũngphảithayđổichophùhợp.

Do việclấyNhogiáolàmhệtưtưởngđểquảnlýxãhội, nênthươngnhânbịđẩyxuốnghàngsaucùng, trong 4 tầnglớp: sĩ – nông – công - thương. Nhogiáođượcchấnhưng, tầnglớpnhânsĩđượcưutiênpháttriển; Vănthánh, Võthánh, Vănmiếu, Văntừ, Vănchỉ,đượcxâydựngnhiều, nhằmtạonềntảngvữngvàngchochếđộtrungươngtậpquyền. Sang thời Minh Mạng, nhấtlàsausựkiện 1858, quanhệbuônbánvớiphươngTâybịxiếtchặt, chỉcònlạicácthươngnhânHoakiều, Xiêm La, Mã Lai qua lạimàthôi.Xãhộitrởlạivớithờikìhoạtđộngcủacácchợlàngnhỏhẹp, khônghìnhđượccáckhumậudịchlớn.QuảngTrịcũngnằmtrongbốicảnhchungđầyảmđạmđó.

Nhằmkhuyếnkhíchpháttriểnnôngnghiệp, hạnchếquanhệbuônbán (dĩnôngvibản - trọngnôngứcthương), nhànướcrasứccủngcốchếđộcôngđiền; cấmmuabánruộngđấtcông, chođođạclạiruộngđất, lậpđịabạ, phụchồichínhsáchquânđiền, đánhthuếđốivớiruộngđấttư. Triềuđìnhthườnggiảmthuế, miễn thuế theonămvàphátchẩncứuđóikhicóthiên tai địchhọa. CácvịvuađầutriềuNguyễnđềucónhữngchínhsáchưuđãiđểpháttriển nôngnghiệp, nhưviệclậpkhoThườngbình, sởTịchđiền, chođàosông, đắpđê, trịthủy, khôiphụclại nghilễTịchđiền… Tuyvậy, côngtáctrịthủylạiítmanglạikếtquảkhicáccôngtrìnhđêđiềuítpháthuytácdụng, đờisốngnhândângặpnhiềukhókhăn, đóikhổ, nôngdânkhởinghĩavàxãhộidầnloạnly.

Các ngành như đúc đồng, khai mỏ, làm gốm, dệt vải, nấu đường… vẫn có điều kiện phát triển khi tận dụng được thành quả từ các thế kỉ trước. Tuy nhiên, thủ công nghiệp trong nhân dân chỉ dừng lại ở phạm vi sản xuất gia đình, cá thể, chưa vươn lên trình độ công trường thủ công tư bản chủ nghĩa, quan hệ buôn bán trong dân gian chỉ là việc sản xuất và lưu thông các mặt hàng phục vụ cho nhu cầu đời sống sinh hoạt. Hàng hóa sản xuất chỉ tiêu thụ trong dân, không thoát ra khỏi thị trường nội địa để vươn ra tầm khu vực, quốc tế. Nhà nước cho đặt thêm các sở thu thuế ở các cửa tuần, cửa biển, thường xuyên thanh tra việc buôn bán trong nhân dân, như việc thanh tra đo lường để thống nhất hệ thống đo lường trong cả nước.

Sau khi lên ngôi năm Canh Thìn (1820), Minh Mạng cho đổi định lệ thuế cảng và lễ nghi cho các thuyền buôn nước ngoài. Trước đây, thuyền buôn Mã Cao và các nước phương Tây đến buôn bán, cũng đánh thuế giống như thuyền buôn Quảng Đông, cứ lấy thước tấc bề rộng các thuyền mà đánh thuế. Nay đổi lại, tùy theo thuyền xa gần và lớn nhỏ mà có thể lệ đánh thuế khác nhau như:  Đối với Gia Định; thuyền phủ Quảng Châu, phủ Thiều Châu, châu Nam Hùng (rộng 25 thước đến 14 thước, mỗi thước tiền thuế 140 quan (lệ trước 160 quan)). Nhà nước đánh thuế khác với thuyền phủ Quỳnh Châu, phủ Lôi Châu, phủ Liêm Châu và các nước Ma Lục Giáp, Chà Và (rộng 20 thước đến 14 thước, mỗi thước 105 quan ; 13 thước đến 10 thước, mỗi thước 55 quan). Nhưng khi các thuyền này đến buôn bán ở Quảng Trị, Quảng Bình và  Kinh đô nhà nước đều giảm cho 4 phần 10 so với Gia Định.

Tại Quảng Trị, vì là phiên dậu của kinh đô cho nên các vua triều Nguyễn luôn ưu tiên phát triển, để mắt tới sản xuất nông nghiệp, ổn định đời sống nhân dân; đặt các sở tuần, lập các tấn, bảo để ổn định biên cương và trấn áp các lực lượng quấy rối. Năm 1835, Minh Mạng cho đào sông Vĩnh Định để phục vụ tưới tiêu cho đồng ruộng và tiện lợi cho vận tải đường sông: “Phát 3.700 người dân Thừa Thiên và Quảng Trị đến  đào, hậu cấp tiền gạo (mỗi người mỗi tháng cấp tiền 5 quan gạo 2 phương 15 uyển). Vật liệu cần dùng thì quan phải mua, không được lấy ở dân”i. Khi thấy nguy cơ xâm lược từ Tây dương, Minh Mạng đã cho quân dân thường xuyên tra xét, dòm ngó thuyền buôn ven biển và đảo Hòn Cỏ (Cồn Cỏ); cho tích trữ đồng đỏ, diêm tiêu, chì làm hậu bị cho chiến tranh. Năm 1834, ở xã Như Lệ (Hải Lăng), có Hộ phủ Dương Văn Phong tâu lên Minh Mạng xin cho khôi phục sở thu thuế có tên Giang Quan (thuế đò – cho người dân lĩnh trưng rồi nộp thuế), nhưng sau đó bị Minh Mạng quở trách suýt nữa phải giao đình nghị.

2.2. Tình hình sản xuất hàng hóa

Vốn là vùng đất bị chia cắt về mặt địa hình, có sự khắc nghiệt về khí hậu, thường xuyên đối phó với thiên tai địch họa; nhưng bù lại Quảng Trị có đội ngũ lao động cần cù, chịu khó, biết tận dụng, xoay sở để biến cái khó khăn thành động lực để tiến tới. Sau biến động giữa Tây Sơn – chúa Nguyễn, chúa Trịnh, quân Xiêm, Thanh và Nguyễn Ánh đã làm giảm sút đáng kể dân số trong nước, các miền như Thuận -  Quảng, Bình Phú, Thanh Nghệ… cũng nằm trong bối cảnh chung đó. Các nhà truyền giáo cho rằng có đến một nửa dân số Đàng Trong đã bị hủy diệt sau cuộc đại biến động này. Do đó một số lượng lớn lực lượng sản xuất đã bị mất đi. Nhưng bù lại, đến năm 1802 khi đất nước hoàn toàn thống nhất, song song với nó là một thị trường rộng lớn, cùng với hệ thống đo lường, tiền tệ được quy định thống nhất. Nhờ đó, tình hình sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp có phần nào phát triển. Trong bối cảnh chung của tình hình trong nước, hoạt động sản xuất trong giai đoạn nửa đầu thế kỉ XIX có tiến triển hơn so với trước.

Có sự đa dạng của các mặt hàng nông sản như lúa gạo, các loại cốc; sách Đại Nam nhất thống chí đã thống kê ở Thừa Thiên và Quảng Trị có hơn 40 loại lúa như lúa thơm, lúa chiêm, lúa trắng, lúa lăng, lúa đen, lúa chày vày, lúa sài đường, lúa đá, lúa chiêm vàng…, trong đó lúa Minh Xuân (ở tổng Bái Ân – đạo Quảng Trị), được các sử thần mô tả: “thân lúa cao, bông lúa dày, hạt thóc vàng lợt mà hơi dài, gạo trắng nấu cơm rất thơm và dẻo, tháng 11 cấy, tháng 4 chín; ưa ruộng thấp”ii; 38 loại nếp như: nếp voi, nếp cau, nếp bò, nếp kì lân, nếp cút, nếp đa đa, nếp tây, nếp sáp, nếp măng…, trong đó nếp đa đa và nếp sáp được trồng nhiều ở tổng Bái Ân cho ra hạt thơm, dẻo và ngon. Như vậy, sang giai đoạn này lúa, nếp có sự đa dạng về chủng loại khi đem đối sánh với giai đoạn giữa thế kỉ XVIII (được nhắc đến trong các tác phẩm của Lê Quý Đôn), có nhiều giống lúa, nếp mới được đem về Quảng Trị gieo trồng là biểu hiện tích cực của công tác thuần giống, lai tạo giống mới phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Nhờ vậy, lúa nếp là mặt hàng được các thương nhân quan tâm đến khi tham gia vào quá trình giao thương.

Còn nhiều loại sản vật bao gồm các loại quả, thảo mộc như: quả xoài, vải, nhãn, cam, bưởi, quả phật thủ, thanh yên, thạch lật (dầu lai), quả mít, quả bùi, quả trám đen, cau rừng, hồ tiêu, hột sân… các loại thảo mộc như: hoàng tinh, cỏ láng (quán chúng), lông cu ly (dùng để chữa đau lưng, chân yếu), sài hồ, tam thất, trầu không, sa nhân (súc sa mật), hương nhu,…, cùng các loại sản vật khác như: mây nước, mây hèo, mây lửa (dùng trong việc làm nhà và đóng thuyền do sợi dẻo và rắn), mây song (song đằng) “sản nhiều ở nguồn Viên Kiệu huyện Thành Hóa, có lệ thuế; có hai loại; loại lớn tục gọi song mật, loại nhỏ tục gọi song cám”iii, cùng với các loại thủy hải sản nhập vào từ hai cửa biển cũng là các mặt hàng được các thương nhân ưa chuộng.

Đặc biệt là các loại lâm sản quý có từ các thế kỉ trước đến nay vẫn còn hiện diện, là các loại gỗ như: lim, sao, trắc mật, giỗi, giáng hương, gõ, kiền kiền, dạ hương và trầm hương. Ruộng muối ở Xuân Mị, Di Loan vẫn cung cấp đủ sản lượng cho toàn vùng, hai châu Tầm Bồn và Mường Vang thuộc phủ Cam Lộ xuất hiện ruộng muối: “Hai châu Tầm Bồn và Mường Vang cũng có ruộng muối, mỗi năm cứ tháng giêng tháng hai, tức tháng 3 tháng 4, chất mặn ở trong đát nổi lên mặt ruộng cát, sắc trắng toát, người địa phương lấy nấu thành muối trắng, nhưng vị mặn mà hơi đắng”iv, chắc rằng ruộng muối của 2 châu này, đã cung cấp phần nào cho nhu cầu của 7 châu kimi còn lại của phủ huyện Cam Lộ và Thành Hóa (Hướng Hóa). Người huyện Hướng Hóa còn biết đúc chiêng đồng, dệt vải, sản xuất nhựa trám..: “Chiêng đồng, màn vải, dao lửa, đá lửa do huyện Thành Hóa sản xuất, có lệ cống… Mật ong sơn phận các huyện đều có nhất là chin châu phủ Cam Lộ. Nhựa trám do huyện Thành Hóa sản xuất. Đầu chuồn sản ở Cam Lộ”v.  Các làng nghề thủ công được hình thành nhiều hơn, các mặt hàng được phân phối rộng rãi. Nghề làm quạt giấy ở xã Phương Ngàn (Phương Ngạn xã Triệu Long), nghề làm nón, áo tơi ở xã Văn Quỹ (Hải Tân); dệt chiếu ở Lâm Xuân (Gio Mai), đan lát ở Lan Đình (Gio Phong); làm vôi ở làng Phổ Lại (Cam An – Cam Lộ); nấu rượu ở xã Kim Lung (Kim Long – Hải Quế – Hải Lăng) “rượu sản xuất ở xã Kim Lung huyện Hải Lăng rất ngon”vi, các nghề thủ công xuất hiện nhiều với gần 30 nghề thủ công đã tạo ra nhiều mặt hàng, đa dạng về chủng loại phục vụ cho nhu cầu đời sống sinh hoạt.

2.3. Điều kiện để giao thương trao đổi

Sang thếkỉ XIX, hệthốngđườngbộdầnhoànthiện; saukhithốngnhấtđấtnướcvua Gia Long saiquândânđắplại con đườngCáiquan, chạydàitừ Ải Nam Quan đến HàTiên. Con đườngCáiquan (Thiênlý) cógiátrịlịchsử - vănhóalớnđốivới triềuNguyễnvàngườiViệt, nóilênsựthốngnhấtcủacácmiềnđấtnướcvàlịchsử Nam tiến củadântộc. Sauđó, nhàvuachođặtthêmQuántrạm ở dọcđườngđểchóngviệc loan báo; trungbìnhkhoảng 30 dặm thìđặtmộtnhàtrạm, chocaiđội, phutrạmthuộcđịaphươngtrôngcoi. ĐờiTựĐức, QuảngTrịcó 4 nhàtrạmgồm: TrịXá (xãThượngXá – HảiLăng), Trị An (xã An Lạc – ĐịaLinh/GioLinh), Trị Cao (xã Cao Xá – Minh Linh/VĩnhLinh)vàTrịLập(xãThượngLập - Minh Linh/VĩnhLinh)vii

Tin tức, công văn có thể truyền nhanh bằng ngựa. Cầu cống từ đó cũng được sửa sang và làm mới, những con sông, kênh nhỏ thì có cầu gỗ bắc ngang để vượt qua, chỗ gặp sông lớn thì có bến đò nối liền đường thủy bộ. Trong địa hạt có các cầu gỗ được xây cất như: cầu Trung Đan (Hải Lăng), cầu Ái Tử (Triệu Phong), cầu Hà Thượng (Do Linh), cầu Cao Xá (Gio Linh)…, ngoài ra còn có nhiều cầu cống khác được nhân dân xin phép nhà nước tự xây cất.  Thời điểm này Quảng Trị có nhiều bến đò được sách Đại Nam nhất thống chí nhắc đến là: Bến Phương Lang (Hải Ba), bến Thạch Hãn (Thị Xã), bến Cổ Thành, bến Trà Bát, bến Giang Nghiễn, bến Dã Độ (Triệu Độ), bến Tiên An và bến Cam Lộ và các bến khác như: bến An Thư, Lương Điền  (Hải Lăng),  bến Thượng Xá, Ngô Xá và các bến Xuân An, An Lạc, Đông Hà, Thượng Đô, Minh Lương, Tùng Luật…

Năm 1806, Lê Quang Định soạn xong bộ Hoàng Việt nhất thống dư địa chí vùng đất Quảng Trị được miêu tả khá chi tiết;  lỵ sở của dinh Quảng Trị bấy giờ còn đóng ở 2 xã Ái Tử và Trà Bát (Triệu Phong). “Đường từ kinh sư đến lỵ sở Quảng Trị: 26.693 tầm 1 thước, thành ra 123 dặm rưỡi, đi hết 1 ngày rưỡi”viii. Khi lấy lỵ sở làm thước đo trung tâm đến các vùng khác, ông mô tả: “Từ phía nam công đường của lỵ sở, theo đường trạm đến thủ sở Thu Lai đầu địa giới là sông Lương Phước (Lương Điền, giáp với Thừa Thiên - TG) hết 13.000 tầm 1 thước”ix. “Từ phía bắc công đường của lỵ sở theo đường trạm đến cuối địa giới ở cầu khe nhỏ thôn Chấp Lễ (giáp với Quảng Bình - TG)  là 26.686 tầm 3 thước”x. “Từ phía tây công đường lỵ sở theo đường nhánh đến đỉnh núi Mang nguồn Ô Giang là 30.585 tầm”xi“Từ phía đông công đường lỵ sở theo đường mòn nhỏ của dân gian đi ra hướng bắc thì đến cửa biển An Việt”xii. Ngoài ra, sách còn định ra thời gian đi đường giữa các dinh trấn, sự vận hành dày đặt của các con đường ngắn; đường liên làng, liên huyện, liên tổng.

Giao thông đường thủy chủ yếu vận hành theo các con sông có từ giai đoạn trước. Giao thông theo trục Đông – Tây và Nam – Bắc dọc theo 3 con sông lớn vẫn là ưu tiên số một của đội ngũ thương nhân. Tuy nhiên, do nhu cầu tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp và yêu cầu trị thủy các con sông và việc vận chuyển hàng hóa vào kinh sư, cho nên các vị triều Nguyễn đều luôn chăm lo công tác nạo vét, khai thông dòng chảy, đào mới các con kênh, con sông nhỏ. Năm Minh Mạng thứ 6 (1825), nhà vua cho Phan Văn Thúy khơi đào sông Vĩnh Định, nhằm nối dòng chảy từ sông Thạch Hãn đến sông Ô Lâu. “Đào sông Vĩnh  Định  ở Quảng Trị. Quảng Trị trước có  đường kênh từ Trung Đơn đến La Vi, rồi nhiều cát lấp thành nông cạn, thuyền bè khó đi. Vua muốn thông đường vận chở, trước sai giám thành Đỗ Phúc Thịnh đến xem xét. Bèn bàn khai đường kênh mới từ Quân Kinh đến Trung Đơn (dài hơn 1.720 trượng, mặt nước rộng 6 trượng là cùng). Đến nay mới sai Phó đô thống chế Phan Văn Thuý trông coi việc đào sông, cấp cho cờ khâm sai và bài phụng chỉ để thêm trọng sự thể”xiii.

Khi chuẩn bị ngự giá ra Hà Nội (1841), Thiệu Trị cho đặt các chỗ nghỉ ngơi; quy định rõ từ phủ Thừa Thiên đến Hà Nội đặt nơi nghỉ trưa và ngủ đêm 41 chỗ: trong đó Thừa Thiên có 2 điểm dừng chân: Kim Đôi (Hương Trà), Đại Lộc (Phong Điền); Quảng Trị có 5 điểm gồm Trung Đan (Hải Lăng), tỉnh lỵ Quảng Trị, Mai Xá (Do Linh), Xuân Hoà, Hồ Xá rồi ra địa hạt Quảng Bình, tất cả đều định lệ ngự bằng thuyền. Từ đó ta có thể thấy được sự liền mạch của hệ thống thủy lộ tính từ kinh sư đến địa hạt Quảng Bình; hơn nữa thấy được sự đan xen của 2 hệ thống giao thông thủy – bộ trong giai đoạn này. Đặc biệt, từ Hồ Xá (Quảng Trị) đến trung tâm lỵ sở Quảng Bình có thể đi bằng 2 con đường: đường bộ băng qua truông Nhà Hồ và đường thủy dọc theo kênh Sen – Hồ Xá. Có 6 kênh lớn được nhắc đến từ thời Tự Đức đó là: kênh Hồ Xá (Vĩnh Linh), kênh Mai Xá (Do Linh), kênh Hà Kỳ (Minh Linh và Do Linh), kênh Diên Sinh – Đan Quế (Hải Lăng), kênh Kim Lung (Kim Long – Hải Lăng), kênh Thâm Triều – Hương Liệu (Triệu Phong) và kênh Kim Giao (Hải Lăng), các ngòi kênh này thường xuyên được cho khơi đào qua các triều vua. Các tuyến kênh này chỉ có kênh Hồ Xá và Mai Xá (gọi chính xác là Kênh Hàm, dân đọc trại thành Cánh Hòm, tức sông Cánh Hòm), có ý nghĩa giao thương, còn các kênh khác đều mang ý nghĩa về thủy lợi là chính, không có ý nghĩa về mặt giao thông thủy, nhất là thành các tuyến thương mại, mậu dịch.

Nhìn chung, phương tiện vận chuyển hàng hóa giai đoạn này có bước tân tiến hơn so với giai đoạn trước. Đường bộ được vận chuyển bằng xe ngựa, xe bò đường thủy được vận chuyển bằng thuyền, thuyền giai đoạn này được cho đóng mới nhiều và khả năng vận tải lớn hơn so với thời kì trước, và số lượng hàng hóa vận tải bằng thuyền vẫn hơn hẳn đường bộ. Thời Minh Mạng ông còn cho đinh lệ thuyền vận tải của nhà nước và tư nhân phục vụ cho công tác chở gạo công; định rõ lệ phải đi tải cho tàu thuyền nào và thuyền nào miễn dịch. Còn như khi tra xét thuyền nào không ở các tấn, tấn thủ không báo lên, thì quy tội trốn vận tải, buôn gian, giao cho địa phương nguyên quán tra rõ trừng trị. Nếu tấn nào có các thuyền ấy đậu lại, mà tấn thủ lại không báo cáo thì mang tội dung túng, ẩn giấu cũng bắt trị tội.

Giống như các vương triều đi trước, khi vừa lên ngôi Gia Long đã cho đúc tiền hiệu Gia Long Thông Bảo (06/ 1803) cho đem lưu hành rộng rãi trong nhân dân. Tuy vậy, vị trí của các loại tiền khác vẫn chưa biến mất, nhất là tiền có từ thời Tây Sơn vẫn được lưu hành cho tới năm 1816, khi Gia Long cho thu hồi và cấm thu hành tiền Tây Sơn. Các triều vua sau đó đều cho đúc tiền lấy hiệu riêng của mình như: Minh Mạng Thông Bảo, Thiệu Trị Thông Bảo, Tự Đức Thông Bảo, Tự Đức Bảo Sao, Đồng Khánh Thông Bảo, Duy Tân Thông Bảo… Trong mỗi triều vua lại cho đúc nhiều loại tiền khác nhau, trong mỗi loại tiền lại có nhiều kích cỡ và hình dáng khác nhau. Việc đúc tiền trở thành độc quyền của nhà nước, tư nhân không còn được phép đúc tiền như thời kì các chúa Nguyễn .

Các dụng cụ dùng để đo lường đều được quy định rõ hình dáng, kích thước, công năng, nhà nước chỉ chế tạo mẫu theo qui định sau đó gửi đi khắp các tỉnh thành tùy nghi chế tạo lấy, người dân vẫn được phép chế tạo các loại công cụ này nhưng phải theo thể thức được quy định chung.Cuối thế kỉ XIX, triều đình cho định lệ thống nhất lại các đơn vị đo lường trên toàn đất nước. Theo đó, đơn vị đo chiều dài được tính bằng dặm (≈ 720m), trượng (≈ 4m), thước (≈ 0,4m), tấc, phân; diện tích được đo bằng mẫu (acre) (3600 ÷ 4900m2), sào (square pore) (360 ÷ 490m2), thước (24 ÷ 32m2), tấc, phân (square foot), ly, hào, hốt; đong thóc tính bằng hộc (bushel ≈ 60 lít), bát (pint), thưng, thăng, vốc, nắm, lẻ - nhúm – que; trọng lượng tính bằng cân (catty), lạng (ounce) và tiền. Các vua Nguyễn còn cho thanh tra công việc đo lường và đong lường ở các địa phương; đường gần như các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Bình, Quảng Trị, điều phái viên là quan lục, thất phẩm cấp cho 30 quan tiền ; bát cửu phẩm thư lại cấp 20 quan.


(Còn nữa)


iQuốc sử quán triều Nguyễn (2007) (Tổ phiên dịch Viện Sử học phiên dịch),   Đại Nam thực lục. Tập II, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr 411.

iiQuốc sử quán triều Nguyễn (1992), Đại Nam nhất thống chí, tập 1, NXB Thuận Hóa Huế, tr 250.

iiiQuốc sử quán triều Nguyễn (1992), Đại Nam nhất thống chí, tập 1, NXB Thuận Hóa Huếtr 345.

ivQuốc sử quán triều Nguyễn (1992), Đại Nam nhất thống chí, tập 1, NXB Thuận Hóa Huế, tr 371.

vQuốc sử quán triều Nguyễn (1992), Đại Nam nhất thống chí, tập 1, NXB Thuận Hóa Huế, tr 372.

viQuốc sử quán triều Nguyễn (1992), Đại Nam nhất thống chí, tập 1, NXB Thuận Hóa Huế, tr 372.

viiQuốcsửquántriềuNguyễn, Đại Nam nhấtthốngchí, tập 1, NXB ThuậnHóa, Huế. 1992.

viiiLêQuangĐịnh (2003) (PhanĐăngdịch, chúgiảivàgiớithiệu), HoàngViệtnhấtthốngdưđịachí, NXB ThuậnHóa - TTNNVH ĐôngTây, Huế, tr 35.

ixLêQuangĐịnh (2003) (PhanĐăngdịch, chúgiảivàgiớithiệu), HoàngViệtnhấtthốngdưđịachí, NXB ThuậnHóa - TTNNVH ĐôngTây, Huế, tr 339.

xLêQuangĐịnh (2003) (PhanĐăngdịch, chúgiảivàgiớithiệu), HoàngViệtnhấtthốngdưđịachí, NXB ThuậnHóa - TTNNVH ĐôngTây, Huế, tr 340.

xiLêQuangĐịnh (2003) (PhanĐăngdịch, chúgiảivàgiớithiệu), HoàngViệtnhấtthốngdưđịachí, NXB ThuậnHóa - TTNNVH ĐôngTây, Huế, tr 343.

xiiLêQuangĐịnh (2003) (PhanĐăngdịch, chúgiảivàgiớithiệu), HoàngViệtnhấtthốngdưđịachí, NXB ThuậnHóa - TTNNVH ĐôngTây, Huế, tr 342.

xiiiQuốc sử quán triều Nguyễn (2007) (Tổ phiên dịch Viện Sử học phiên dịch),   Đại Nam thực lục. Tập II, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr 411.

Phạm Nhân Đức
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 247

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

18/04

25° - 27°

Mưa

19/04

24° - 26°

Mưa

20/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground