Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 17/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Viết về ngày ấy…

Năm 1965, Quảng Trị phá kìm kẹp ở các khu tập trung của Mỹ - ngụy, giải phóng nhiều vùng đồng bằng và trung du. Nhân dân vùng giải phóng phấn khởi, hăng hái theo cách mạng.

Tỉnh ủy Quảng Trị quyết định phải thành lập một đoàn văn công để đem lời ca, tiếng hát của cách mạng về phục vụ nhân dân vùng giải phóng. Giao ban tuyên huấn chịu trách nhiệm. Các anh Nguyễn Bá Cầm, Thu Hoàn về các xã tuyển chọn. Mới nghe tiếng, thì các con em cơ sở cách mạng đòi đi theo các anh lên rừng, để thoát cảnh ở nhà đi chăn trâu, mò ốc cực khổ. Các em tuổi từ mười bốn đến mười bảy, bây giờ chọn thanh sắc, em này được đi, các em khác không được đi, thì sợ ảnh hưởng tư tưởng vùng mới giải phóng. Có em nói: “Cháu đen và xấu thì cho cháu đi cầm đèn và kéo phông màn cũng được”. Vì vậy, các anh phải đưa hết ba mươi hai em lên chiến khu Ba Lòng, rồi nhờ đoàn văn công tổng cục chính trị chọn. Nếu em nào tạm được thì cho đi, nếu em nào tiếp thu nhạc lí chậm hoặc diễn đạt các tiểu phẩm yếu thì cho đi học y tá. Tuyển chọn trong mười ngày tạm được ba mươi em.

Tháng 4 – 1965, thì tổ chức cho đoàn đi ra đặc khu Vĩnh Linh học.

Trước khi đi, chú Trương Chí Công – Bí thư Tỉnh ủy, viết một bức thư gửi cho chú Hồ Sĩ Thản – Bí thư Vĩnh Linh. Chú trao bức thư cho tôi và dặn: “Cháu làm Trưởng đoàn dẫn các cháu ra Vĩnh Linh”.

Vĩnh Linh bây giờ đã có chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mĩ lan ra rồi. Cháu ra thưa với chú Hồ Sĩ Thản nhờ Vĩnh Linh đào tạo cho Quảng Trị một đoàn văn công, nếu thanh sắc và học lực yếu thì đào tạo tuyên truyền xung kích cũng tốt.

Đêm tổ chức đi, anh giao liên hướng dẫn lấy dây dù buộc cổ tay ba em thành một tổ, em lớn đi trước, nếu gặp địch phục kích thì chạy cả ba em, không sợ thất lạc. Đi theo đường ấp chiến lược, từ thôn Phú Thành, làng Cát, A Rồng, băng qua đường số 9, đến cầu Đầu Mầu, cầu Tân Lâm là đoạn đường Mĩ – ngụy thường hay phục kích, cho nên chú ý mật khẩu nghe giao liên hô: “Tiến!”, thì các em rút lui và nằm xuống, nghe hô: “Lùi!”, thì đi tiếp trong đêm mò mẫm vượt qua được đoạn đường nguy hiểm.

Nói như nhà thơ Thanh Hải:

Cách nhau chỉ mấy nhịp chèo,

Mà đi trăm núi ngàn đèo xuống đây.

Thật vậy, Vĩnh Linh và Quảng Trị cách nhau con sông Hiền Lương (vĩ tuyến 17) chỉ mấy nhịp chèo mà đoàn chúng tôi phải vượt đèo, lội suối, đi suốt mười hai ngày mới đến Vĩnh Linh.

Tôi trao lá thư của chú Công cho chú Hồ Sĩ Thản. Chú Thản đọc thư xong rồi nói với tôi: “Vĩnh Linh và Quảng Trị là con một nhà, chiến tranh phá hoại của giặc Mĩ lan ra, Vĩnh Linh dù có ăn rau ăn cháo cũng phải cố gắng đào tạo cho Quảng Trị một đoàn văn công để sớm về phục vụ nhân dân vùng giải phóng, chứ chưa đến nỗi phải nhờ ty Văn hóa Quảng Bình, hoặc ra bộ Văn hóa như chú Công gợi ý cháu ạ!”.

Đã có hai xe chờ sẵn đón chúng tôi, tất cả vào trong xe che phủ kín bạt “bí mật”, đưa chúng tôi đến nhà thờ Vĩnh Tân nghỉ. Ty Văn hóa Vĩnh Linh dự kiến nhà thờ công giáo của Vĩnh Tân và Vĩnh Quang không phải là ‘mục tiêu’ của Mỹ - ngụy chú ý đánh bom, nên cho đoàn yên tâm an nghỉ tại đây để học tập. Rút các thầy ở bộ Văn hóa vào dạy gồm: chú Cần dạy các nhạc cụ dân tộc (đàn tranh, đàn nhị, đàn bầu, đàn tỳ bà); cô Kim Oanh và cô Minh Tâm dạy các làn điệu dân ca Bình - Trị - Thiên; anh Minh và cô Thu Hồng dạy các điệu múa; cô Xuân Giao dạy thanh nhạc; nhạc sĩ Lê Anh ở ty Văn hóa thì dạy ghi-ta và đàn phong cầm; chú Đình Nghi đạo diễn vở kịch “Con gà mái chân chì” (tác giả của Xuân Hoàn). Vở ca kịch này rất nổi tiếng lúc bấy giờ, đài tiếng nói Việt Nam phát đi phát lại nhiều lần trong đêm. Thế là đoàn đã ổn định, sáng ăn ở nhà thờ rồi chia nhau từng tổ sơ tán về các xã Vĩnh Giang, Vĩnh Quang, ngồi dọc chiến hào của bờ tre để ôn tập, tối về ăn xong là tập trung hội trường để dàn dựng các tiết mục.

Từ ngày được ra Vĩnh Linh, ăn bát cơm của miền Bắc tình nghĩa, nhân dân ăn cơm độn sắn lát ngâm chua ba ngày, nhưng ưu tiên cho đoàn ăn cơm không độn sắn, nhân dân xem đoàn là hạt giống đỏ của Quảng Trị, nên nhường nhà, hầm cho đoàn ở khi đi sơ tán tránh máy bay B52 của Mĩ rải bom. Chỉ mới sáu tháng mà các em đã lột xác hoàn toàn, da dẻ hồng hào, vui tươi, chăm chỉ thi đua học giỏi để mau được vào miền Nam. Ty Văn hóa khen ngợi mới chỉ sáu tháng mà đoàn đã có hai chương trình biểu diễn, chia ra hai đội A và B. Nếu tình hình vào Nam thuận lợi thì biểu diễn tập trung cả đoàn. Nếu địch càn quét thì hai đội diễn hai nơi cho dễ cơ động. Thỉnh thoảng diễn thực tập cho ty Văn hóa xem, đánh giá chất lượng nghệ thuật biểu diễn để chọn thời cơ cho đoàn vào Nam. Tình hình phía nam sông Hiền Lương (huyện Gio Linh) địch ít đi càn quét, huyện ủy cử cán bộ ra xin ty văn hóa cho đoàn vượt sông ban đêm sang biểu diễn cho bộ đội và nhân dân huyện Gio Linh; ban ngày sơ tán giấu trang phục trong dân, tối đi biểu diễn, chỉ đơn giản che một tấm phông màn và một cây đèn măng sông vừa đủ ánh sáng, chứ ánh sáng nhiều sợ địch phát hiện sẽ nã pháo đến.

Năm 1967, nhân có Đại hội thi đua toàn quân, Tỉnh ủy điện ra Vĩnh Linh yêu cầu cho đoàn vào biểu diễn. Lần này vào chiến trường cán bộ giao liên ra trực tiếp phổ biến tình hình, địch rải chất độc hóa học, cây rừng cháy rụi, khô héo. Trước đây, các em đi ra mang trên người vòng ngụy trang bằng lá xanh, nay chiến trường ngày càng ác liệt, cây chết khô, lộ rõ đường mòn. Vì vậy, các em làm vòng ngụy trang cho hợp với màu cây khô để tránh máy bay địch phát hiện. Qua đoạn đường dài các khe suối bị chất độc da cam, không uống được, vậy mỗi em một bi đông nước phải uống rất tiết kiệm, cho đủ đi đường dài không có nước, mỗi vắt cơm to ăn được hai ngày. Về phục trang đạo cụ thì đã bố trí mấy anh giao liên giúp đỡ chuyển giao qua từng cung đoạn của trạm giao liên.

Đi suốt mười lăm ngày, đoàn đã đến trường đảng của tỉnh, nghỉ được năm ngày để lại sức, các chú trong tỉnh đến hỏi thăm sức khỏe và cho biết thời gian phục vụ đại hội chiến sĩ thi đua. Cái quan trọng nhất ở chiến trường trước tiên là các cháu phải đi gùi gạo, muối, dự trữ trong tháng, có ăn no mới biểu diễn được. Các cháu phục vụ đây xong rồi đi các bệnh viện, các trạm phẩu tiền phương, các đơn vị bộ đội, v.v… Ở chiến trường khao khát văn công như khao khát nước uống, các cháu cố gắng mà phục vụ cho tốt.

Đầu năm 1969, thì có quyết định thành lập khu Trị Thiên Huế lại một để dễ chỉ đạo thống nhất, cho nên đoàn văn công Quảng Trị phải sáp nhập thêm đội tuyên truyền của tỉnh Thừa Thiên, để chia ra thành sáu đội tuyên truyền xung kích cho sáu huyện (Phú Vang, Phú Lộc, Hương Trà, Triệu Phong, Hải Lăng và Quảng Hà) vì tình hình ác liệt không biểu diễn tập trung được.

Trong ban lãnh đạo có ba đồng chí thì đồng chí Miên trưởng đoàn phân về ban Tuyên truyền của Khu Trị Thiên Huế để theo dõi hoạt động sáu đội ở đồng bằng. Đồng chí Tùng phân về ban Tuyên huấn huyện Cam Lộ. Còn tôi (Thúy Liên), phân về tòa soạn báo “Quyết thắng” của Khu Trị Thiên Huế để theo dõi tin đọc chậm của thông tấn xã Việt Nam, và biên tập tin.

Sau chiến dịch mậu thân 1968 – 1969, địch càn quét chiếm lại vùng giải phóng, sáu đội tuyên truyền gặp nhiều khó khăn, hàng tuần tôi nhận thư từ đồng bằng gởi lên báo cáo, đội này có người hi sinh, đội khác có vài người bị địch bắt, v.v… Anh Miên trưởng đoàn xa gia đình mười lăm năm, nay ban Tuyên truyền bố trí đi công tác về đồng bằng, kết hợp ghé thăm gia đình thì bị mìn Cờ lây mo (mìn định hướng) của Mĩ phục kích hi sinh tại chỗ. Nước mắt tôi tuôn trào, lòng xót xa với đồng nghiệp!

Đặc biệt có em Lê Văn Trâm – đội trưởng đội tuyên truyền huyện Triệu Phong, là một diễn viên ca kịch, múa rất xuất sắc. Trong đợt chống càn của xã Triệu Trạch, đồng chí xã đội trưởng hi sinh thì xem như du kích xã “Rắn không có đầu”. Huyện quyết định Lê Văn Trâm tạm quyền làm xã đội trưởng, nếu có giặc đến thì cầm quân “chống càn” giặc rút trở lại yên bình thì tổ chức trong đội ca hát phục vụ nhân dân. Anh Trâm chỉ huy đánh vài trận, chiến đấu rất oanh liệt và anh dũng hi sinh! Trong sáu đội tuyên truyền có nhiều em là dũng sĩ diệt Mĩ.

Văn công văn nghệ cũng là vũ khí sắc bén làm nên lịch sử, tôi thí dụ: xã Hải Lâm thuộc huyện Hải Lăng, Quảng Trị trong kháng chiến chống Mĩ, xã này ở gần đường số 1 và cách sông nên cán bộ khó đi lại để vận động quần chúng, vả lại xã này sĩ quan binh lính ngụy và gián điệp ngầm cũng nhiều nên phong trào ì ạch, khí thế cách mạng không cao như các xã khác.

Huyện Hải Lăng táo bạo đưa ra quyết định cho đoàn văn công vào phục vụ một đêm. Ban Tuyên huấn phối hợp với xã Hải Lâm cho du kích và bộ đội địa phương chốt các điểm ở đường số 1. Các chị cơ sở và xã chuẩn bị gạo, muối, cơm vắt cho đoàn vào biểu diễn xong là rút đi liền. Du kích dẫn đoàn vượt sông vào ngồi ẩn giấu dọc bờ tre. Còn cán bộ xã, huyện vào nhà ông cụ có con thiếu tá ngụy đang ở Sài Gòn, các anh thưa: “Tối nay cụ cho chúng cháu mượn nhà để họp mặt trận”. Ông cụ vui vẻ nhận lời rồi các anh nói tiếp: “Cụ cho cháu tháo bốn cánh cửa nhà rường để móc cái màn cho rộng nhà, ngồi cho mát”. Cụ nói: “Rứa họp giữa sân và trong nhà đủ rồi, chớ tháo cửa làm chi? ”. Các anh trả lời: “Dạ họp đông cụ ạ!”. Cụ vui vẻ gật đầu. Du kích ra dẫn đoàn vào trong cái nhà bếp “hóa trang”. Khi móc màn, treo đèn măng sông sáng căn nhà trên, cụ xuống nhà bếp thấy son phấn đẹp, cụ gọi: “Mạ mi ơi! Xuống đây xem họbôi màuđẹp lắm, văn công cách mạng về diễn chứ không phải mặt trận họp mô mạ mi ơi!”. Các em thiếu nhi thì gọi nhau í óe: “Ơi cu, ơi bẹn vô đây coi văn công đẹp lắm, mau lên! Mau lên! ”.

Mở màn: Bài ca giải phóng miền Nam hùng tráng vang lên. Tiếp các điệu múa bướm, múa Chàm Rông, múa Rong Chiêng, y phục óng ánh sắc màu, bà con đầu ngồi ngoài sân sau lấn dần vào sát cửa.

Khi cô Bích Đào ngâm bài vè binh vận, tôi nhìn ra ngoài sân thấy vài chị lau nước mắt. Sau buổi biểu diễn, các chị tìm gặp Bích Đào: “Lần sau em về nhớ chép cho chị bài vè binh vận, tết này chồng chị về ăn tết, chị vận động anh ấy rã ngũ ở nhà!”.

Các chị cơ sở chuẩn bị hai thúng cam, hai soong cháo gà, gạo, cơm vắt, ăn vội vàng xong là rút liền. Đi từ hai giờ sáng đến năm giờ sáng là đến bìa rừng an toàn, đoàn móc võng nằm ngủ, rồi đi tiếp lên rừng xanh.

Kết quả sau lần biểu diễn đó, khí thế cách mạng ở đây lên cao. Ban kinh tế huyện đưa tiền Sài Gòn vào trong nhân dân, thu mua được năm tấn gạo và thực phẩm, thuốc tây, giấy bút, v.v… Huy động dân công cùi lên rừng. Ban Tuyên huấn huyện Hải Lăng điện lên Tuyên huấn Khu Trị Thiên Huế báo cáo: “Đoàn văn công vào diễn một đêm mà khí thế cách mạng lên cao hơn cán bộ nằm vùng mò mẫn vận động năm năm, chưa có số lượng gạo thực phẩm nuôi quân như vậy”.

Nhớ cách đây hai mươi năm ngày giải phóng Quảng Trị, Sở Văn hóa cho đoàn ba triệu để gặp mặt anh chị em trong đoàn. Chúng tôi ôm nhau vừa mừng vừa khóc, ba mươi người năm trước đã hi sinh chỉ còn lại mười bảy người, mà hầu hết là thương binh, thương tật tù đày tra tấn. Tuổi trẻ ra đi lúc các em mười bốn, mười bảy tuổi, nay đã thành ông nội, bà ngoại cả rồi. Riêng tôi năm nay đã bảy mươi tám tuổi, mắt mờ, tay run mà gắng “viết về ngày ấy” để cho tinh thần trẻ lại, nhớ về một thời của tuổi thanh xuân.

N.T.T.L

                                                            

                                                                          

 

NGUYỄN THỊ THÚY LIÊN
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 251

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

18/04

25° - 27°

Mưa

19/04

24° - 26°

Mưa

20/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground