Vua Hàm Nghi ghé làng tôi. Vua nghỉ lại đêm tại nhà tôi. Điều đó xảy ra một trăm năm về trước. Và nhà ấy là nhà của ông nội tôi. Thế nhưng tôi vẫn giữ câu vào đề giật gân mở đầu bài viết về một mẩu ký ức, nó là niềm tự hào của tuổi thơ và cũng là một nỗi canh cánh nơi lòng tôi trong gần suốt cuộc đời sống xa quê.
Một bài báo cũ: “Vua Hàm Nghi ghé làng tôi”
Cha tôi có ngôi nhà nhỏ trên bờ sông Nhùng, ở vào khoảng nửa chặng đường dài chừng mươi cây số trên con đường thiên lý từ thị xã Quảng Trị vào lỵ sở phủ Hải Lăng cũ (thôn Diên Sanh, nay thuộc xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, Quảng Trị).
Cha tôi thường kể: “Vườn mình xưa kia rộng lắm, nó trải từ bờ sông ra đến gần sát đường quan, cách đường có một dải ruộng rộc. Vì cảnh nhà sa sút, khoảnh vườn phải chia bốn xẻ ba, còn lại có thế này”. Cha lại kể: “Nhà mình xưa kia giàu lắm”. “Vì sao nhà mình nghèo đi?”. Cha thì thầm: “Vì vua đến rồi vua đi. Bất kỳ nhà ai, hễ vua ghé rồi vua đi thì không về nhà đó sẽ sa sút”. “Vua nào vậy?”. Trẻ thơ bao giờ cũng tò mò. Cha ghé sát vào tai tôi, tiếng thì thầm càng nhỏ hơn: “Đức Hàm Nghi”.
Hai tiếng Hàm Nghi đâu có ý nghĩa gì nhiều đối với chú bé lên bảy. Nhưng do thái độ trang trọng bí ẩn của cha, mặc dù còn rất nhỏ, tôi vẫn nhớ kỹ tên đức vua ấy cho đến ngày lớn khôn.
Những chi tiết khác chung quanh việc vua ghé nhà hấp dẫn tôi hơn. Nào là cả bức vườn rất rộng - một vườn cau - nằm đầy lính tráng. Nào là hai thớt tượng (voi), không đưa được vào trong vườn, phải để ngoài đường cái, xích vào gốc cây cổ thụ trước đền thờ họ Lê, gần quán mụ Thập Giụ bây giờ. Mụ Thập Giụ là tên một người đàn bà góa mở quán nước cạnh đường cái quan.
“Đức vua đi hia, đội mũ dát ngọc và mặc áo thêu rồng?”. Cha tôi lắc đầu: “Nào có ai được phép ngó mặt vua!”.
Cha tôi sinh đầu năm 1880. Lúc vua Hàm Nghi bỏ kinh thành Huế ra Quảng Bình (tháng 5 năm Ất Dậu 1885 - theo “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim) cha tôi đã 6 tuổi, đủ trí khôn để lưu vào ký ức nhiều điều nghe thấy lúc bấy giờ.
Cha tôi kể: Trong làng có nhiều người lần ấy theo vua Hàm Nghi đi cứu nước và không bao giờ trở về.
Cha ông Lý Bản là một. Nhà ông Lý (Lý cựu, Bản là tên người con đầu) cách nhà tôi một lối đi, nối đường cái quan đến bờ sông Nhùng, đó là cái ngõ dùng chung cho mấy gia đình.
Tôi có được mấy lần theo cha sang ăn kỵ bên nhà hàng xóm. Cha tôi nói nhỏ trước khi đi: “Hôm nay không đúng là ngày kỵ thật đâu. Không ai biết “ôông” mất ngày nào. Con cháu chỉ lấy ngày ông rời làng cùng với vua ra đi, lấy ngày đó để làm ngày giỗ, coi như ngày ông mất thôi”.
Lớn lên đi học, khi đã biết vua Hàm Nghi là ai, tôi lại hỏi cha tôi: “Tại sao vua Hàm Nghi ghé nhà mình?”. “Tại ông nội làm quan trong triều”.
Và cha tôi bắc thang, trèo lên mở lấy hòm sắc treo tận đòn tay trên gian thờ xuống cho tôi xem: Trong hòm sắc sơn son trang trí hình rồng ấp mây thếp vàng, có nhiều tờ sắc bằng giấy dó khổ rộng in nền hoa văn vàng nhạt. Chữ Nho viết chân phương. Tôi đang được cha tôi dạy chữ Hán qua bộ “Minh tâm bảo giám”, chưa biết nhiều nhưng cũng đã đọc được dòng bên phải các bản sắc, dòng này cao hơn các dòng chữ khác trong sắc phong, bản nào cũng bắt đầu: “Thừa thiên tri mệnh, hoàng đế chế viết”, và phân biệt được các niên hiệu ở dòng cuối dùng bên phải. Nhiều hơn cả là các sắc phong thời Tự Đức, cũng có mấy tờ niên hiệu Thành Thái. Những tờ sắc thời Tự Đức giấy dó dày, màu vàng sẫm (có lẽ ngả màu do thời gian), đóng mấy dấu triện vuông đỏ chóe, to nhỏ có khác nhau; sắc phong thời Thành Thái giấy mỏng hơn, màu vàng sáng, không đẹp bằng những tờ kia. Cha tôi giảng giải: “Ông nội1 đổ cử nhân năm Canh Ngọ 1870, cùng khóa với cụ Tống Duy Tân người Thanh Hóa, là vị khoa bảng đầu tiên trong làng. Ông nội có thời làm Tri huyện huyện nhà2 sau vào Huế làm quan, có lúc làm tới Đô ngự sử. Nổi tiếng về tính cương trực. Ba lần bị giáng chức vì tội can vua3, có lần bị đày đi làm “lính sơn phòng” ở miền núi. Hai lần được phục chức, về kinh. Được phục chức lần thứ ba sau khi cụ đã qua đời, vào triều vua Thành Thái, và cũng chỉ là một chức nhỏ: Chưởng ấn bộ Lễ, hàm tứ phẩm. Cha tôi được tập ấm (Ấm sinh) muộn màng nhờ chút lộc đó. Ở làng quê quen gọi cha tôi là ông Ấm Tùng (Tùng là tên người con cả), tộc trưởng dòng họ Phan làng Thượng Xá. Một ông bác tôi, tên Phan Thanh Thấu, lớn tuổi hơn cha tôi nhưng chỉ được tập Viên tử, bởi cụ là con bà thứ thất.
Xã Hải Thượng có truyền thống cách mạng. Thời chống Pháp, cả làng tản cư. Mặc dù địch đóng bốt đầu cầu Nhùng, án ngữ đường quốc lộ, các xóm thôn vẫn có cơ sở đảng, chính quyền, đội du kích. Một trong những “đường dây” an toàn của cán bộ đi về từ vùng biển lên chiến khu và ngược lại là qua làng Thượng Xá. Trong kháng chiến chống Mỹ, Hải Thượng sớm được tuyên dương Anh hùng các lực lượng vũ trang Quân khu Trị Thiên, và là quê của Anh hùng liệt sĩ Phan Thanh Chung nay có tượng đài kỷ niệm, của liệt sĩ Phan Thị Cam, bị địch giết khi còn rất trẻ...
Những ngày sống ở miền Bắc, mỗi lần nghĩ về làng quê là tôi lại nhớ chuyện vua Hàm Nghi ghé nhà. Tại cuốn “Việt Nam sử lược”, học giả Trần Trọng Kim có viết: “...Lúc bấy giờ (tháng 5 năm Ất Dậu, 1885), vương tôn công tử, người đi bộ, kẻ đi chân, dân gian thì trẻ cõng già, đàn bà giắt trẻ con, ai nấy tìm đường tránh khỏi chỗ binh đao.
Xa giá đến Trường Thi vào nghỉ được một lát, thì Tôn Thất Thuyết lại giục lên đường, nói rằng quân Pháp đã sắp đuổi tới. Tối ngày 23 tháng 5, xa giá vào nghỉ nhà một người bá hộ, sáng ngày 24 ra đi, đến tối mới tới thành Quảng Trị. Quan tuần phủ Trương Quang Đản ra rước xa giá vào Hành cung và đặt quân lính để phòng giữ…”.
Tôi hằng trăn trở: “Người bá hộ” ấy có đúng là cụ Phan Duy Tân ông nội mình?
(…) Ngày giải phóng miền Nam tháng 4 - 1975, tôi không được gặp cha tôi để hỏi. Cụ chờ con ba mươi năm, khi gần tới đích thì như một thân cây kiệt nhựa, không còn ráng được nữa. Nhưng tôi gặp một người cháu, con bà chị cả, nhà báo Lê Bân, ít lâu sau làm Tổng Thư ký tòa soạn báo Người lao động thành phố Hồ Chí Minh. Lê Bân tốt nghiệp khoa Văn Sử Viện đại học Huế trước tháng 4 năm 1975, hồi nhỏ sống với ông ngoại tại làng quê. Anh có biết chuyện vua Hàm Nghi ghé nhà, đúng như tôi được nghe cha tôi kể lại mấy chục năm trước. Anh nói thêm: “Ôông ngoại kể, khi ôông mon men lên nhà trên, định nhìn lén mặt vua thì bị lính canh cầm roi dọa, đuổi xuống nhà dưới ngay…”.
Vua Hàm Nghi ghé làng tôi!
Tôi dùng cái đầu đề ấy đăng bài lên tạp chí Sông Hương với ước mong những người viết văn và nhà làm sử tỉnh Bình Trị Thiên ta quan tâm đến một sự kiện4…
Một nỗi trăn trở mong được làm sáng tỏ
Về việc Vua Hàm Nghi và 3 bà Thái hậu cùng Tôn Thất Thuyết từ kinh thành Huế ra Quảng Trị ngày “thất thủ Kinh đô” năm 1885, nhà sử học Trần Trọng Kim đã viết như đoạn trích dẫn ở trên (Sách “Việt Nam sử lược”, in lần thứ 5, sửa chữa cẩn thận, Nhà xuất bản Tân Việt, Sài Gòn 1953, tr.553).
Gần đây, tại sách “Khúc tiêu đồng”, “Hồi ký của một vị quan triều Nguyễn” của tác giả Hà Ngại, được hiệu đính bởi nhà văn Nguyễn Văn Xuân (Đà Nẵng) và nhà văn Nguyễn Đắc Xuân (Thừa Thiên - Huế), xuất bản gần đây viết theo lời kể của ông nội vốn là “một người thi đỗ ba khoa Tú tài, sau có dự vào công cuộc Cần vương ở Quảng Nam gọi là Nghĩa Hội, đời vua Hàm Nghi”, như sau: “Vua và Thái hậu xa giá vừa đến Cửa Hữu, Nguyễn Văn Tường chực sẵn để xin hộ giá. Có chỉ truyền: “Tường nên ở lại lo việc nước”. Xa giá đến chùa Thiên Mụ, Tôn Thất Thuyết đến xin vua nghỉ một chút rồi tiếp tục đi ra Quảng Trị. Đêm ấy nghỉ tại nhà một Bá hộ. Chiều ngày 24 đến Quảng Trị, quan Tuần vũ Trương Quang Đản rước vào Hành cung tuần phòng cẩn mật...”5
Vị bá hộ ấy là ai?
Chúng tôi xin trình thêm dưới đây một vài cứ liệu, ước mong được các nhà sử học, các nhà nghiên cứu giúp tìm hiểu thêm về một vấn đề liên quan đến cuộc đời vua Hàm Nghi vào giai đoạn đau thương trong lịch sử dân tộc.
Làng Thượng Xá có con sông Nhùng chảy ngang, đổ nước vào sông Thạch Hãn về Cửa Việt, nay thuộc xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Theo sách “Ô Châu cận lục” của Dương Văn An (in năm 1555, đời nhà Mạc) làng Thượng Xá vốn có tên Hoàng Xá. Dân cư sớm từ phía Bắc vào khai hoang lập nghiệp. Đến triều Nguyễn, Thượng Xá đã là một “đại xã” đông dân, gồm hai giáp Thượng và Hạ, dân làng chủ yếu thuộc ba dòng họ: họ Lê, những cư dân đầu tiên từ Bắc vào, tiếp đến là họ Phan, vào sau vị tiền khai khẩn họ Lê năm đời, và sau nữa là một dòng họ Lê khác.
Gia phả ba họ đều viết chung: “Tự Bắc nhi lai”, không rõ quê gốc là đâu và khởi nghiệp lúc nào. Tư liệu (đã in thành sách) của họ Phan làng Diên Sanh (Kẻ Diên), cách họ Phan làng Thượng Xá chừng 5 cây số về phía Nam, ghi thời điểm định cư từ năm 1428. Có lẽ làng Thượng Xá cùng hình thành vào khoảng thời gian ấy chăng. Hai vị tiền khai khẩn họ Phan làng Diên Sanh và họ Phan làng Thượng Xá đều được triều đình sắc phong “Dực bảo Trung hưng tôn phổ linh thần”.
Tên Hoàng Xá đổi thành Thượng Xá do kỵ húy Đoan Quận công Nguyễn Hoàng, cũng như làng An Thái xưa gọi An Khang. Còn lại tất cả các thôn thuộc huyện Hải Lăng ngày nay đều vẫn giữ nguyên như chép tại sách “Ô Châu cận lục”.
Theo tộc phả của chúng tôi, “vị tiền khai khẩn họ Phan, Thượng Xá húy Chánh”. Đến đời thứ năm, cháu chắt sinh sôi đông đúc, phân thành năm hệ (tiếng quê gọi phái): Văn, Đình, Thanh, Khắc, Hữu. Các hậu duệ của cụ Phan Chánh nhiều người theo nghiệp võ. Nhờ công lao phò tá nhà Lê Trung hưng hoặc giúp chúa Nguyễn mở nước, có vị như cụ Phan Thanh Bài được “Đặc tấn phong Phụ quốc Thượng tướng quân”, nhiều vị mang hàm Cai hiệp, Phó quản cơ..., có vị được thăng Đề đốc. Cụ Phan Thanh Bân (đời thứ mười) được triều đình phong “Tướng quân thống chế”. Về khoa cử, chưa có ai đỗ đạt, dù huyện Hải Lăng là nơi có vị đại khoa đầu tiên xứ Đàng Trong: Tiến sĩ Bùi Dục Tài người làng Câu Nhi bên bờ sông Mỹ Chánh (nay thuộc xã Hải Tân).
Tiếp nối binh nghiệp, đến đời thứ 11, ông nội tôi là cụ Phan Thanh Tân, cháu gọi cụ Thống chế Phan Thanh Bân bằng bác ruột, mới chuyển sang nghiệp văn. Cụ đỗ cử nhân năm Canh Ngọ (1870), cùng khóa với cụ Tống Duy Tân người Thanh Hóa. (Khi đi thi, cụ lấy tên Phan Duy Tân). Là người đầu tiên tổng An Thái đỗ đạt, hàng tổng mừng đôi câu đối:
Thập bát xướng danh6 Quảng Trị, Hải Lăng, Thượng Xá
Tam trường liên trúng: Học sinh, Tú tài, Cử nhân.
Cụ Phan Thanh Tân tính tình cương trực, làm quan lận đận, nhiều lần bị giáng chức. Theo gia phả, cụ từng giữ Ngự sử, lĩnh chức Tham tri, ba lần bị giáng chức. Không rõ tác giả Trần Trọng Kim nhầm hay né tránh khi ông viết, vua Hàm Nghi từ Huế ra nghỉ lại nhà “một người bá hộ”. Theo tướng Cao Văn Khánh, ngày vua Hàm Nghi ghé nhà, cụ Phan Thanh Tân đã bị tước hết mọi phẩm hàm, may mà không phải bắt lên miền ngược làm lính biên phòng như hai lần trước, được bà con gọi “bá hộ” đã là trân trọng lắm rồi.
Khoảng mươi năm trước, mấy chị em chúng tôi có làm ngôi đền nhỏ trong khu vườn cũ tại làng quê làm nơi hương khói song thân. Các con, cháu, chắt về quây quần làm lễ. Tôi nói với một người quen: “Vua Hàm Nghi từng ghé lại đây”. Bà chị cả tôi năm ấy đã chín mươi ba tuổi, đính chính luôn: “Không phải chỗ ni. Trước kia kìa”. Chị chỉ vườn nhà phía trước, gần Quốc lộ 1. Số là khu vườn của ông nội tôi xưa vốn rộng, sau phân cho nhiều con, cho nên chỗ “Ngài Ngự” từng ghé nghỉ qua đêm 23 - 5 năm Ất Dậu ấy chính xác là ở phía gần đường cái quan, còn nhà cha tôi sát bờ sông Nhùng. Thì ra chị cũng biết chuyện Đức vua Hàm Nghi ghé nhà, cũng như chuyện nhiều bà con trong làng theo vua ra đi không bao giờ trở lại, nên nay cháu chắt nhiều nhà làm giỗ cùng một ngày.
Phải chăng do truyền thống thượng võ mà xã Hải Thượng, cũng như huyện Hải Lăng và tỉnh Quảng Trị đã chiến đấu kiên cường qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Như đã nói, Hải Thượng là xã Anh hùng các lực lượng vũ trang. Một hậu duệ chi Phan Thanh, làng Thượng Xá, là liệt sĩ Phan Thanh Chung, hiện được Nhà nước xây tượng đài kỷ niệm cạnh Quốc lộ 1, trên địa phận xã Hải Thượng. Hàng trăm người dân trong xã nay được hưởng trợ cấp của Nhà nước theo chính sách “người có công”.
Về việc vua Hàm Nghi nghỉ đêm tại nhà “người bá hộ”, ngoài các tư liệu như nhà sử học Trần Trọng Kim viết trong “Việt Nam sử lược” và cụ Hà Ngại ghi tại “Khúc tiêu đồng”, còn có những sử liệu nào khác nói về sự kiện ấy, khi nhà vua trên đường ra Tân Sở, xuống chiếu Cần Vương kêu gọi toàn dân chống ngoại xâm? P.Q




