Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 16/01/2021 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Về tác giả bài "Non nước ngàn năm ra đi"

Tôi trộm nghĩ bà công chúa Huyền Trân đời Trần, bị người đời nay gán cho bà là tác giả bài ca Huế điệu Nam Bình, “Nước non ngàn dặm ra đi…” tôi e sự thật chưa phải vậy. Tạp chí Cửa Việt số 10 năm 1991, từ tr.20 đến 76, linh mục Nguyễn Văn Ngọc viết về “Sự thành lập các làng cổ ở Quảng Trị”, thật là hấp dẫn và đầy đủ, tôi học thêm được rất nhiều về quê cha đất tổ

Tôi trộm nghĩ bà công chúa Huyền Trân đời Trần, bị người đời nay gán cho bà là tác giả bài ca Huế điệu Nam Bình, “Nước non ngàn dặm ra đi…” tôi e sự thật chưa phải vậy. Tạp chí Cửa Việt số 10 năm 1991, từ tr.20 đến 76, linh mục Nguyễn Văn Ngọc viết về “Sự thành lập các làng cổ ở Quảng Trị”, thật là hấp dẫn và đầy đủ, tôi học thêm được rất nhiều về quê cha đất tổ, linh mục nhắc bài Nam Bình “Nước non ngàn dặm…” và nói rằng theo lời cụ Cao Văn Chiếm cho biết, thì chính Huyền Trân công chúa đời Trần, mượn theo điệu hát Chàm, soạn bài ấy… và cũng trong lời chú thích của báo Cửa Việt ghi nơi sau bài của LM…tôi chép y nguyên văn lại đây: “Theo chúng tôi (C.V), giả thuyết này (về bài “nước non ngàn dặm…”), không có cơ sở thực tế, Nam Bình là một điệu nhạc Huế, chỉ có ca được giọng Huế, nên chắc phải xuất hiện sau, vì Huyền Trân vốn nói giọng Bắc (C.V)”.

Tôi đã đọc trọn bài, và tôi hoàn toàn đồng ý với lời chú thích của C.V, hôm nay, tôi xin tiếp lời bàn rộng thêm đôi chút ấy chẳng qua “tôi thêm mở rộng một cửa không đóng và đã mở toanh…” Vậy xin độc giả miễn đừng cười.

Và cũng đừng cười tôi, tuy nay tuổi tròn chín chục, mộng Vu sơn đã dứt, nhưng lòng xuân còn ngún như kẻ tuổi đôi mươi tràn trề, - Mỗi khi tôi gặp và nghe được một giọng ca đúng chữ như tôi hiểu, mỗi dấu sắc dấu huyền đều hóa ra dấu nặng, tỷ như “trăng khuyết”, thành “trăng khuyệt”, “má hồng da tuyết thành má hồng da tuyệt” v.v…thú thật, bất luận người ca nõn nà hay đã như hoa xế chiều - những lúc ấy hồn tôi như gửi đám mây xanh, khiến tôi nhớ Huế ôi là nhớ, và tôi đã được một đôi phút thoát trần, và như vậy đối với tôi, bản Nam Bình “Nước non ngàn dặm…” ca đúng giọng Huế, quả là một viên ngọc bích đáng trân trọng, và thử hỏi trên đời có được mấy bài ca du dương thoát trần như thế này?

Một đôi khi, tôi may gặp người ca sĩ có biệt tài, đã thay thế đi vài chữ, tỷ như bài của LM Ngọc, thì Theo bản của Văn Thanh, 1989, Sở Văn Hóa Bình Trị Thiên, (tôi đã được nghe), thì:

-  Câu 1: “nước non ngàn dặm ra đi, mối tình chi? (chữ “mối” đổi ra chữ “cái” “cái tình chi” nghe bình dân hơn)

- Câu 8: “Thấy chim Hồng nhạn ra đi, tình tha thiết, Bóng dương hoa quì” đổi lại là “Thấy chim Hồng nhạn bay đi (bay thế cho ra), tình lai láng…bóng dương hoa quì”, tình lai láng thay cho tình tha thiết, (tình tứ hơn)…

Theo tôi những biến đổi ấy tôi đều tha thứ, và nếu cho phép tôi nhớ lại nghề xưa, tôi đều cho điểm ưu cả hai, và bàn thêm rộng, vả chăng tiếng Việt là tiếng độc âm, người Việt là người tánh hay xí xóa tha thứ, cho nên mặc tình pha phách. (Nơi đoạn sau, tôi sẽ múa búa, nhắc lại một bài trong Nam, biến thể sẽ dựng chứng cho bài “Nước non ngàn dặm…” ắt không thể nào do bà Huyền Trân sáng tác được).

Chuyện đó để đó, nay nói qua việc hôn phối bà Huyền Trân.

Tội nghiệp thay cho bà, làm vật hy sinh.

Đây là một bài thi, vì hay, nên tôi chép lại, mặc dầu tác giả mang tiếng không được trung với vua với nước, thi rằng:

Công chúa Huyền Trân

Đổi chác khôn ngoan cũng nực cười

Vốn đà không mất lại thêm lời

Hai châu Ô Lý vuông ngàn dặm

Một gái Huyền Trân của mấy mươi

Lòng đỏ khen ai lo việc nước

Môi son phải giống mãi trên đời

Châu đi rồi lại châu về đó

Ngơ ngẩn trông theo mấy chú Hời

(Chép theo bản trong Văn Đàn Bảo Giám Trần Trung Viên và Hư Chu (Mặc Lâm xuất bản, tập 2, tr.2, năm 1976). Tác giả bài thi là Hoàng Cao Khải).

Thơ hay, độc địa, nhức xương, tôi xin nhường độc giả đọc và hiểu lấy. “Ngơ ngẩn mấy chú Hời”, tôi làm sao biết được? Duy tôi biết trai đời Trần (mèo đời nào cũng vậy, mất cục mỡ béo thì tiếc nhớ hùi hụi) vả chăng trai Hời nếu vì vua Chàm xa xỉ, ham miếng đất xéo ba góc mà làm mất hai châu “ngàn dặm”, đó là việc riêng của các trai Hời, còn trai đời Trần khóc bóng gió mấy câu tôi còn nhớ thuộc lòng đây xin nhắc lại để làm khuấy lấy mình, nào nói hát xa xôi: “Tiếc thay cây quế giữa rừng, ai cho thằng Mán, thằng Mường nó leo”, xít lại gần hơn, nào: “Tiếc thay hột gạo trắng ngần, thổi nồi đồng điếu lại vần than rơm”, nào câu khác: “Tiếc thân hột gạo tám soan, thổi nồi đồng điếu lại chan nước cà”. Tôi để mặc cho bà công chúa hy sinh, tôi khảo xét qua Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim (bản Tân Việt in lần thứ 5, tôi không đọc được sử chữ Hán), rồi tôi đọc lại bản chữ Pháp của Jean Boisselier, “La Staturie du Chapa” (về tạc tượng đá chàm), tôi mừng và thấy hai tác giả viết gần y nhau, tôi tóm tắt đại lược ra đây: “Năm 1301 (Tân Sửu) Trần Nhân Tông nhường ngôi cho Trần Anh Tông, để lên làm thượng hoàng, rồi khoác áo nhà thiền, sang chơi đất Chàm, la cà lâu hoắc và hứa gả một công chúa cho Mân vương, việc kéo dài sáu năm đến 1306, Huyền Trân làm hậu vua Chàm, hương lửa ba năm chưa nồng, ngôn ngữ dị đồng, phong tục không giống, bỗng 1308, vua Chàm áng giá, nước Chàm có tục: “hỏa thiêu” người vợ (sách Tây kể có một vua chàm tử, mười bốn bà, chết cháy… ghê tởm quá) vua Trần Anh Tông sai tướng Trần Khắc Chung, giả mượn tiếng viếng thăm, lén rước công chúa thoát khỏi lửa thiêu, (hai châu của Chàm, năm 1307, vua Anh Tông đã nhận và đổi Ô, Rí đổi làm Thuận Châu và Hóa Châu (V.N.S.L.tr.162), sách Pháp Boisselier kể tên vua Chàm dài nhằng khó nhớ, tôi đã từng làm “dâu” cho Tây, trường Viễn Đông Bác Cổ, nay da cổ tròn trầy, phép của trường có chứng tích mới tin còn nước ta, bên nước ta hễ thơ tục đều phao là của Cống Quỳnh, hễ thơ chớt nhả đều phao của bà Hồ Xuân Hương, không thấy một ai tranh luận, đến như bài “Nước non ngàn dặm”, theo tôi, phải chứng rằng điệu Nam Bình đã có từ đời Trần, thì bà Huyền Trân mới có thể phỏng theo và là tác giả được, nhưng xét về lời lẽ, tình tứ, tôi lại nghi và xin hỏi người lịch duyệt, Nam Bình điệu e đời Tự Đức đây thôi. Đời Tự Đức, các ông Hoàng Tùng Thiện, Tuy Lý, các bà công, thiếu chi người tài, (ông Nguyễn Khoa Vi chẳng hạn…) Nay tôi viết lại đây một chuyện trong Nam, về buổi phôi thai “hát cải lương”, cũng chưa đến nỗi lạc đề:

“Đọc Tam quốc, ai lại không biết có đến một lúc, bên thục, quân sư Khổng Minh, gặp buổi nguy cấp, binh của Tư Mã Ý kéo rần rần, mà trong thành, không người chống chế, cho nên Khổng Minh bày ra không thành kế - sai quân mở hoác cửa thành, không một bih tướng canh giữ, chỉ thấy một tên lính câm cầm chổi quét sơ sịa trước sân…, lúc tôi còn học trường tỉnh ở Sóc Trăng, quãng 1918-19, hát cải lương đang hình thành ở hạt Mỹ Tho, tôi không nhớ ắt, gánh Nam Đồng Bang, hoặc gánh thầy Nam Tú, đang phong trào ở Sài Gòn “tẩy chay China”, khách buôn Nam tranh mở quán tiệm giành với người Tàu, cùng một lúc, tôi ở Sóc Trăng, đêm nào cũng chạy tiền để đi xem gánh hát Tiều (Triều Châu), lúc ấy có đến ba gánh lớn, gánh ở Long Xuyên, Châu Đốc, sơn thùng đựng y phục đồ nghề màu đỏ, xưng Àng lán” (àng là hồng, màu đỏ, lán là vựa, thùng, rương), gánh ở Trà Vinh, thùng màu xanh, xưng “xe lán” (xe:thanh), còn tại Sóc Trăng, có gánh, thùng sơn đen, xưng “Ô lán”, (ô, xe, áng, đều là Thiên Địa Hội màu cờ đen, cờ xanh, cờ đỏ, trá hình, và cả ba gánh, đều thiện nghệ, thường diễn tuồng “không thành kế” linh động lắm, nay tôi không dám chắc bài đờn “Khổng minh tọa lầu” tác giả chính là ai, duy tôi nhớ mại mại thuở ấy, trong đám thầy tuồng, có ông Nguyễn Trọng Quyền, viết tuồng cho gánh bà Bảy Phùng Há, và ông Trương Duy Toản (hiệu là Mạnh Tự), hình như ông này có dựa theo bản “Khổng Minh tọa lầu” của hát Tiều, (tôi nhớ câu đờn đầu bài: “Tứng tửng, từng tưng”, vỏn vẹn mỗi câu có bốn chữ như vậy, và ở Mỹ Tho, đẻ ra bài:

Bài số 1 (đờn và hát):

“Kế Khổng Minh cao,

Tư Mã ý nghi (hai câu này hát 2 lần, bis)

Bốn cửa thành đều mở cửa ra (bis)

Tư Mã Ý đến, chẳng dám vào thành (bis)

Đồn binh ngoài hạ trại vừa xong (bis)

Lòng nghi ngại, rút binh trở lại (bis)

Về nửa đường, xảy gặp Triệu Vân (bis)

Tự Má Ý hết hồn!”

Vì bài đờn quá ngắn, câu hát phải nhồi đi nhồi lại (bis) và đó là nhại thằng câm Tiều quét chổi mời Tư Mã vào thành, trong khi quân sư Khổng Minh ung dung một mình ngồi đàn trên mặt thành bỏ trống.

Bài số 2 nhan là “Bánh tôm khô chiên” nhắc theo điệu “Kế Khổng Minh cao”. Nhắc lại, năm 1918, trận Âu Châu đệ nhất thế chiến vừa dứt, tại Sài gòn xảy ra phong trào “Tẩy chay China”, bản hát Tây Madelon và Marseillaise thịnh hành, ngoài Nam vịn theo hai bản ấy, hát “Đồng lòng cùng nhau ai nấy” (điệu Marseillaise), hoặc là “Đồng lòng cùng nhau, Tẩy chay China (điệu Madelon), trong lúc ấy tại tỉnh Mỹ Tho, lại có bản “Bánh tôm khô chiên”, tôi chỉ nhớ mấy câu đầu, mấy câu sau tôi quên mất, và hát như vậy:

“Bánh tôm khô chiên,

Dầu chà quảy chiên, (hai câu hát rặp làm hai lần, thiên hạ cười rần).

Nó là đồ các chú đem qua! (thiên hạ cười bể rạp). Bao nhiêu ấy đủ ăn khách, nhứt là khi kép Ba Du hát, vừa duyên dáng chọc cười, vừa thỏa lòng khán giả và thính giả có mặt tại rạp hôm ấy, Kép Ba Du sau đó lên đường ra bắc tập kết, câu hát còn lại, đánh dấu một phong trào bồng bột toan cỗi ách phách, nhưng mượn tuồng tích Tàu để tránh mắt tai bọn cú nịnh Tây, và tôi xin giải thích: đời Tống bên Trung Quốc, bị binh Phiên Ngột Truật kéo qua cướp nước, vì Tần Cối (thừa tướng) nghe lời vợ là vua Vương thị, cả hai theo Phiên, sàm tấu với vua Tống, ám hại tướng tài là Nhạc Phi, Phi bị giết, nhà Tống mất đất phương Bắc chạy về phương Nam, dân chúng phẫn uất thì đã quá muộn, nên bày ra chiên dầu vợ chồng Tần Cối cho đỡ bực tức, và câu hát đúng ra là: “Du tạc Cối” (du là dầu phộng, tạc là đục gỗ, hiểu ở đây là chiên… và cái bánh là hai miếng bột mì chiên cặp, tượng trưng cho vợ chồng Cối…cho đến ngày nay, hát trại và sai, nghe là “dầu chà quỷ (quải) (du tạc qui) và ngày nay nhiều người sáng điểm tâm “Du tạc Cối” mà nào ngờ!

Ấy đó, từ “không thành kế”, “kế Khổng Minh cao! “mà trở nên” “Bánh tôm khô chiên, nó là đồ bên Tàu, các chú đem qua…”, lòng dân, ý dân, đời nào như đời nấy, xưa như nay, phải chìu lòng dân thì mới được yên, mà trong nầy nào có nói bản hát “Kế Khổng Minh…” và bài “Tôm Khô Chiên” là đã có từ đời Tam quốc!

Bài “Nước non ngàn dặm ra đi” nên nói “Nỗi lòng Công chúa Huyền Trân” hơn là “do Huyền Trân sáng tác”.


V.H.S

Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 2 tháng 11/1994

Mới nhất

Quê nhà của Đất

12/01/2021 lúc 10:15

TẢN VĂN - Bắt đầu từ một ngày mưa thay sương mai rơi xuống làm mềm mặt đất, tôi đón mặt trời trong nỗi nhớ, cũng từ đâu ùa về, những mầm xanh chen bật trước mắt, leng teng nẩy đua nhau lên như lo nỗi một mai không có chỗ cho mình góp mặt. Tôi nghe tiếng mưa rơi xuyên không đậu xuống hạt vi lau xào xạc bến bờ đầu bãi.

Múa đồng náp làng Hà Trung

12/01/2021 lúc 10:01

Làng Hà Trung thuộc xã Gio Châu, huyện Gio Linh. Phía đông giáp làng Lại An (xã Gio Mỹ), phía tây giáp làng Đại Hòa (xã Gio Sơn), phía nam giáp làng Hà Thanh (xã Gio Châu), phía bắc giáp làng Hà Thượng (xã Gio Châu). Đây là một trong những ngôi

Đọc bài viết cuối cùng nhớ trang viết đầu tiên

11/01/2021 lúc 17:43

Mới đây tôi đọc bài bút ký Đakrông - xứ của đại bàng của cố nhà văn Xuân Đức đăng trang trọng ở tạp chí Cửa Việt số 311(tháng 8/2020). Nơi cuối bài Ban biên tập có dòng ghi chú "Bài viết được tác giả hoàn thiện 4 tiếng trước khi đột ngột qua đời ngày 20/6/2020".

Đồng chí Võ Văn Thưởng nêu 7 nhiệm vụ báo chí cần làm tốt trong năm 2021

06/01/2021 lúc 08:43

Phát biểu kết luận Hội nghị báo chí toàn quốc tổng kết công tác năm 2020, triển khai nhiệm vụ năm 2021, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương nhấn mạnh 7 nhiệm vụ, nhóm nhiệm vụ trọng tâm mà các cơ quan báo chí cần làm tốt trong thời gian tới.

Dự thảo
tư tưởng Hồ Chí Minh
Du Lịch Quảng Trị

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

17/01

25° - 27°

Mưa

18/01

24° - 26°

Mưa

19/01

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground