|
K |
hi bóng nắng đổ về chiều, hàng sấu thôi vẻ ưu tư trầm mặc, cành lá bắt đầu phe phẩy động cựa rồi hây hẩy theo làn gó, từ trong những lùm cây cao, bắt đầu văng vẳng tiếng cu chuyền. Thoạt, tiếng chom rời rạc, lẻ tẻ. Dần, những âm thanh cúc cu, cúc cu từng đôi, từng đôi đối đáp râm ran. Tiếng chim thúc dục đổ hồi. Chiếc đĩa mặt trời chói chang trên tít không trung chừng cũng nghe thấy tiếng chim, xích mau lên phía núi. Người dân địa phương cuốc cỏ trên những vườn sắn, vườn chè đã quen nghe tiếng chim gáy, dửng dưng mặc kệ. Đám trẻ lông bông lần theo những tiếng chim nhòm ngó rình rập. Và có những nguời sống tha hương đang nao lòng lắng nghe chim cu gáy.
Lão Vạn ngừng tay kéo mũi lạt tre đan ngãng lên nhìn mông lung ra ánh nắng. Bây giờ lão mới nhận biết còn có cả tiếng ve ngân. Những con ve chỉ nghe tiếng lanh lảnh mà khó thấy hình sao cứ mùa hè lại đến vây quanh túp nhà lão mà kêu than! Tiếng sầu thương còn lay động tâm can con người sâu thắm xa xôi hơn cả bóng nắng xế chiều và tiếng con chim cu gáy. Một khúc độc tấu đủ khuynh đảo tấm can trường, một giàn giao âm sức truyền cảm to lớn khác nào biển rộng sông sâu, trời cao đất dày, khiến con người phải lên bổng xuống trầm, ngồi đứng không yên với bao nỗi niềm khơi gợi! Lão Vạn đâu có là người văn hoa, mà bản giao hòa âm sắc nơi núi rừng sơ tán này vẫn thường tác động vào cõi linh hồn của lão như thế đấy.
Một tay cầm dùi đục, một tay vẫn cầm nan tre, lão Vạn cứ ngồi như bức tượng thẫn thờ. Lão nhớ. Lão nhớ ngẩn ngơ! Bóng chiều, tiếng ve, tiếng chim cu chuyền là cả mớ tiềm thức quê hương trong lòng lão. Ôi cái làng quê bé nhỏ chạy dài theo con đường Bảy Mươi! Trên triền đất ba-zan thoai thoải quanh năm cây lá tốt tươi đã từ bao đời ông cha nối tiếp vòng tay dựng xây, sinh sống. Khu vườn của lão khá rộng lớn và rất yên tỉnh nằm biệt lập sau lưng làng. Chỉ có nhà lão quay mặt về Nam, ngó ra choi ruộng và nối tiếp bạt ngàn những vườn đồi trải dài hai cánh. Vẫn mơ hồ nghe âm vang sóng vỗ sông Hiền Lương. Nơi vùng đất bán sơn bán địa này có khá nhiều khu vườn biệt lập. Thiên nhiên bao la, dân cư thưa thớt, con người càng gắn bó thân thiết với vạn vật. Vào những ngày hè cháy nắng khu vườn nhà lão Vạn đầy ắp tiếng ve. Đủ các giống chim bay về quần tụ. Con sáo mỏ vàng đậu trên cành bứa, bầy vẹt lông xanh mỏ đỏ vặt trái giữa vòm lá đa, chim diều hâu nghiêng ngó đàn gà con, chim chích nhảy nhót chuyền cành, chim chào mào luyến thoáng… Ngày ngày, vừa mở mắt đã nghe tiếng chim cu gù. Đi cuốc sắn, đi bẻ ngô, xuống ruộng, lên vườn… đều nghe chim cu gáy. Nhưng với lão Vạn, vào lúc xế chiều, tiếng chim cu mới bắt đầu thực sự. Trong ngọn gió nồm nam hây hẩy, hưng phấn lên men, những đôi chim cu tha thiết muốn xích lại gần nhau. Tiếng gọi thăm dò, tiếng kêu hăm hở, tiếng cù cục ăn ý gật đầu, tiếng đá chọi những chú cu đựa răn đe, hăm dọa lẫn nhau… Mặc xã hội chim cu cứ tha hồ dùng tiếng gáy thổ lộ bao nhiêu tình ý, lão Vạn chỉ cảm nhận rõ rệt một điều: tất cả đều say sưa, tất cả đều vui vầy, hòa hợp… Chiều quê thanh bình, chiều quê yên ả, chiều quê êm đềm nhè nhẹ nâng cánh hồn của lão lên tận cõi chơi vơi. Sự thỏa nguyện quê hương ngày nào, nay trở thành nỗi khát khao cháy bỏng. Thà rằng đừng có gì nhắc nhở cả, lão Vạn sẽ cũng như hàng vạn bà con nơi đầu sóng ngọn gió đã được đưa ra giây chỉ việc chí thú làm ăn chờ ngày giải phóng trở về. Tiếng chim cu (bé nhỏ thôi) sao có thể chiều chiều cứ đánh thức con sóng lòng quằn quại đã ngủ yên, sao có thể cứ chiều chiều lay động tận sâu xa nỗi niềm quê hương đã cố nén đè của lão? Tiếng chim cu nơi đất khách quê người, tận chốn núi rừng sơ tán đất Tân Kỳ khác hẳn tiếng chim đất trời thân quen quanh khu vườn nhà lão; tiếng đều đều buồn bã, tiếng rền rĩ nao nao, tiếng bấc tiếng chì… nghe sao khắc khoải âu sầu, nghe sao da diết tái tê… Nó đào bới, nó khoan xoáy, nó đâu là biểu trung của không gian yên lành thư thái! Nó cứ như những tiếng nổ tâm tưởng bục bùng, bục bùng…
Phía trước cửa xuất hiện một ông già tướng mạo. Lưỡi rựa trong tay, một nhát ông phất bay cành hóp ngáng đường rồi chấm chúi bước vào. Lột mê nón "lính thú" xuống đầu, dựng cây rựa vào vách, kéo chiếc ghế đẩu ngồi bên hiên thềm, khỏi khách sáo, khỏi chờ lão Vạn mời chào, nêu luôn một lời tâm sự:
- Mấy con cu "cáy" (1) sao ác quá ông! Đôi mày lão Vạn rung rinh co giật, môi mấp máy như muốn đáp câu gì mà lão Vạn vẫn im lặng. Bởi chắc lão thừa biết tính người bạn già sau lời nói của mình, không muốn nghe ai cả. Đây là ông Hợp người hàng xóm tâm đắc của lão. Từ thưở còn để chõm hai người đã chơi thân với nhau. Ông Hợp thua lão Vạn năm tuổi, nhưng người dân quân gan góc thời chống Pháp ấy, nay vẫn còn phong độ lắm. Ông sống rất nội tâm. Nói là làm. "Bụng cứ rốn". Từ Vĩnh Linh khói lửa tha nhau ra đất Tân Kỳ, hai ông già vẫn sống cạnh nhau, tối lửa tắt đèn có nhau, trang trải nỗi niềm cùng nhau.
Hai người vẫn ngồi yên giữa chiều tha hương nghe rộn rã bốn bề tiếng chim cu gáy. Có cái gì nhức nhối, ông Hợp như không chịu nỗi nữa nhưng cũng chỉ cất tiếng ngập ngừng:
- Ông Vạn này, tôi tính… ừ… à… tôi tính…
- Ông tính gì?
- Tôi tính làm một chuyến quay về! Đôi mắt mờ đục của lão Vạn mở to ngó thẳng vào ông Hợp. Lão ngỡ mình mình đã va phải trán vào tường. Mãi hồi lâu lão mới phát thành câu:
- "Giớ già" "giớ" quê răng tui không "giớ"!(2) Mình già nua vướng bận con cái không đánh được giặc, đã ra đây còn nói quay về! Hồi đánh Pháp tui với ông làm dân quân ở vùng địch hậu, bà con ra chiến khu, cũng "giớ" rồi đòi hồi cư. Chả là mình "cưởi" thư bảo họ rằng: "tản cư cũng là kháng chiến" đó thôi! Vả lại dân Tân Kỳ - Nghệ An ăn ở với mình đâu có đến nỗi nào! Họ còn thiếu đói chết cha, mà mọi thứ phải chắt bóp lo trước cho mình. Nói "giư" ông là trái tình trái cảm với con em ở Vĩnh Linh, là không phải đạo với dân địa phương đấy ông ạ.
Ông Hợp đánh một tiếng thở dài, thủng thẳng đứng lên, đội nón, cầm rựa lặng lẽ bước ra sân. Lão Vạn với theo:
- Có đi chặt rào thì canh chừng đám bò thả rong "phất" lá sắn hộ tui với hé!
Thêm hai buổi chiều đôi bạ già đến ngồi với nhau nghe chim cu gáy. Ngày thứ ba, đúng ngọ, quá bữa cơm trưa bà Hợp tất tả chạy qua nhà lão Vạn. Thấy bà Hợp đi tìm ông già cuống cuồng, lão Vạn biết việc gì tất đã xảy ra. Lão Vạn nói theo kế "hoãn binh":
- Không lo, không lo. Tui biết ông ta ở đâu rồi. Cùng lắm là chiều tối ông ta về thôi. Bà Hợp mếu máo quay về. Lão Vạn gọi thằng cháu nội đang học cấp ba tới bảo:
- Chiều ni cháu cáo thầy nghỉ buổi lao động. Cháu đạp xe gấp xuống Lạt (Thị trấn huyện Tận Kỳ) tìm cho khắp. Chắc ông Hợp còn ngồi đón xe dọc đường thôi. Cháu bảo ông quay về ngay, bà bị trúng gió đang cấp cứu. Thằng cháu nội sồng sộc lao xe đi. Lão Vạn ngồi bắt mặt ngó ra. Lòng lão xốn xang. Chỉ có lão biết sự tình ông Hợp.
Cnagf về chiều, tiếng chim cu càng rộn ràng khoan nhặt. Giọng hót trong suốt, giọng gù trầm đục, cành cao nhún nhảy, cành thấp rủ rê, nhịp năm nhịp ba, khều khều mời mọc… Lão Vạn bỏ mặc, lấy mê thúng ra đan tiếp. Lão cố gõ đùi đan lóc cóc cho vang át tiếng chim. Trong tiềm thức lão Vạn, tiếng chim cu như tiếng gọi quê hương. Chính những tiếng chim đã khơi bươi nỗi nhớ. Cái ông Hợp lắm đầu óc tưởng tượng kia đã không thể nguôi quên được những vạt lúa mẫy vàng, những triền đồi trải rộng sắn khoai, những khu vườn tiêu chè, mít, cà phê… sầm uất, những đồn điền dầu sở, những khoảnh đất hoang mọc cỏ gianh, những cội vông đồng già nua, những cây đa trùm bóng mát cho các ngã ba đường, những hàng sấu ve kêu, những cụm bứa lá cành vạm vỡ… tất tất dậy tiếng chim cu. Ôi cái xứ sở quên hương yêu dấu ngàn đời, giờ đây đang bị lật xáo cả lên; mọi thứ đang tung tóe, nát vụn tan tành, đang biến dần thành tro bụi vì bom đạn. Chiến tranh! Mày là chiến tranh. Chiến tranh này rồi sẽ đến một ngày bọn giặc Mỹ xâm lược kia phải đến tội ác. Lão Vạn biết ông Hợp đã không muốn rời quê ngay khi Vĩnh Linh có chủ trương sơ tán trẻ em, ông già bà lão. "Chấp hành mệnh lệnh" ông phải "gương mẫu" ra đi. Ông bà chỉ có duy nhất một thằng con trai. Nó giữ chức xã dội trưởng của cái xã nằm nơi cực kỳ ác liệt này, có ngĩa nó sẽ trông giữ nhiệm vụ làm người nối dõi tông đường cho ông nữa. Hai đứa em gái dân quân của nó tuổi tác còn non nớt quá, không biết có đủ kinh qua để tránh trở với mưa bom bão đạn đến đâu. Và chắc hẳn ngoài cái cớ "con cu" cáy "ác quá"…, sự lo nghĩ về những đứa con đã xui giục hành động "tự do vô kỷ luật' của ông. Tại sao ông không nghĩ quay về Vĩnh Linh lúc này, ông chỉ làm thêm rối trí cho chúng nó! Bà Hợp cứ qua về ảo nảo, lão Vạn chẳng còn lòng dạ nào để ngồi đan. Lão vứt đùi đứng lên. Lão đi ra con đường xuôi về phía Lạt. Lóng ngóng, hồi hộp. Núi non đã tím sẫm lại dưới ánh nắng nhạt nhẽo mặt trời. Kia rồi, thằng cháu nội của lão từ Lạt đã quay xe về. Nó về không. Lão Vạn cầm chắc ông Hợp đã bon rồi.
Không thể làm yên lòng bà Hợp và hàng xóm bằng cách nói dối, lão Vạn buộc quay sang an ủi mọi người: "Ông Hợp "giớ" quê quá thì về. Vài bữa nửa tháng rồi ông sẽ quay ra. Cứ tin chắc ông Hợp sẽ quay ra…"
Gần hai tháng sau, có tin ông Hợp. Có anh bộ đội lái xe từ tuyến lửa cầm đến cho lão Vạn một bức thư, một tờ giấy đầy chữ nguệc ngoạc trần truồng. Lão Vạn chưa dám gọi bà Hợp, lẩy bẩy trao thư cho cháu đọc:
- Đọc. Đọc con! Đọc mau! Đọc mau! Đọc coi thử đã. Nói sau.
- Vâng, vâng cháu đọc đây: "Bà nó ơi tui rất "giớ" bà "giớ" ông bạn già lão Vạn của tu, đừng trách giận tui lắm hé tui không trốn thì ai cho tui đi, tui về tới Lạt năn nỉ "giảy" lên được một cái xe chở lương khô mành một mạch ba ngày vô thấu khỏe cả bà và ông ạ. Con cái mừng rồi la, la chán thì thôi, ác liệt hơn mình tưởng "giều". Chừ chúng không cho tui ra nữa. Chúng bảo đã vô thì ở lại mà làm lão dân quân. Mừng quá chừ tui ở riêng một hầm chử A kề địa đạo cạnh kho. Hàng ngày tui cân gạo cho chúng nó nấu, có bữa cơm vừa bắc lên pháo Cồn Tiên Dốc Miếu bắn trúng đổ cả thì lại ăn lương khô. Khổ thì khổ mà đại "bui"(3), báo động B52 rồi, không viết được thêm giấy ngắn tình dài "giất định" chiến thắng gặp lại "giau".Bà nó ơi lo giữ sức khỏe hí, chúc ông Vạn khỏe. Tôi dừng búi ký tên: Hợp"
Đôi hàng mi lão Vạn hấp háy, hấp háy, rồi ướm tứa và đọng giọt hai hạt lăn tròn. Bảy mươi hai tuổi rồi, sao lão lại ra đời truwocs ông Hợp năm năm để thua sức ông Hợp! Không! Giá thử còn sức bươn vượt được như ông Hợp, chân phương thế, lão Vạn chắc chẳng bao giờ nên làm cái việc "tày trời" như ông. Ngày kháng chiến chống Pháp, chính lão đã thuộc lòng câu: "tản cư cũng là kháng chiến"…
N.T.H
_____________________
(1) Gáy - tiếng địa phương
(2) Nhớ nhà, nhớ quê - tiếng địa phương
(3) Vui - tiếng địa phương




