|
C |
hiếc xe cà tàng của tòa soạn lại giở chứng cứ khùng khục, khùng khục trên đoạn đường dằn sốc lởm chởm đá sỏi ngoằn ngòeo quanh thung lũng vùng núi Tân Biên. Cả bốn bề núi đá lẫn mây mù mịt mùng che phủ. Tiếng Quang càu nhàu: “Điệu này ăn cơm khỉ cả lũ, xe với chả cộ”. Quả thật, chiếc xe nhập vào thời lính Mỹ đặt chân đến Việt Nam vừa ngốn xăng, vừa cũ kỹ cộng thêm bác tài xế già là nỗi ám ảnh của nhóm phóng viên chúng tôi mỗi khi đi công tác miền núi. Đi ba ngày thì báo gia đình cả tuần kẻo lỡ nó nằm ì ra đấy thì chẳng biết đâu mà lần. Xe đang ôm vòng cua ngon trớn, chạy phăng phăng lúc cả bọn sướng ru mong về đến thị trấn thì nó lại khùng khục, khùng khục như giật cục rồi tắt nghẹn để tấp vào lề. Thái nhảy xuống nhìn dáo dác lúc tôi nhìn chú Đình tài xế đang mở nắp capô kiểm tra máy. Lát sau, ông nhìn Quang lắc đầu: “Gãy êtrô rồi...”. Quang thở ra gần như chen trong nước mắt. Nó đưa tay chỉ xóm nhà gần bên: “Thôi, đẩy lại đó ở tạm tối nay, mai hãy tính.”.
Xóm nhà thưa thớt nằm sát trục lộ bên rẫy chuối dọc sườn đồi hiu quạnh. Khi biết chúng tôi xin ở nhờ, chủ nhà đã thực lòng thu xếp và nhận tiền để lo bữa ăn chiều. Cơm nước xong xuôi thì trời sụp tối, cả bọn ngồi quanh bếp lửa tán gẫu lúc bên ngoài trăng sáng vằng vặc huyền ảo. Quang đẩy nhẹ ly rượu sang chú Đình, nheo mắt cười “Nào, làm cạn cho ấm. Cuối năm còn ngồi trên này thì... vui rồi!”. Lúc tôi và Thái đang tranh luận về vạn vật hữu linh, kéo sang chuyện ma cà rồng, ma lai rút ruột rờn rợn, ma xó thì thào. Rượu càng uống, nói càng hăng, anh Quang còn kể chuyện đường rừng lúc đi lính bên K. Chú Đình vẫn ngồi nghe im lặng mãi gần khuya mới góp chuyện, sau khi hút liền một hơi cho hết điếu thuốc cháy dở và nhấp tí rượu, chú nói: “Kể cho vui thôi nghe, tôi miễn bàn cãi với mấy chú...”
... Tôi thì có nhiều nghề, đi nhiều nơi, giờ ngồi ở rừng thì kể chuyện rừng bởi đã từng đi thu mua gỗ lúc nhà nước còn dễ dãi. Của rừng lúc đó nhiều lắm, từng đoàn xe Reo móc cáp kéo gỗ vào thùng, quàng xích nêm chặt, tuôn ào qua trãng đến ngã ba Sương Khói cách chỗ ta ngồi gần 30 cây số phía dãy núi lúc chiều Quang chỉ, để nghỉ đêm chờ đường dây móc nối mà vượt trạm. Từng chiếc pha đèn sáng choang, rùng rùng nhấn hết ga xả khói ầm ĩ thoát trạm vào giờ cho phép. Nói vậy, cũng có nhiều cơ cực. Tôi và vài người được phân vào tổ khai thác để đến các bản mua lại của dân làm gỗ có sẵn. Đủ chuyến thì đoàn xe vào mất khoảng vài ngày hoặc cả tuần trong rừng nghe chim kêu vượn hú. Nước đem sẵn không đủ thì ra suối múc vào để nấu, gặp dân anh chị đào đãi vàng thì vừa cười vừa coi chừng, sốt rét bủng beo da xanh tái nhưng lúc không trúng “vòm” dễ bị xin đểu, anh hùng nào giang san nấy, không cho theo yêu cầu nó gọi cả bầy đến thì toi đời, mà cho thì đói rã họng bởi xe vào mới có thực phẩm. Gặp dân đi trầm thì phất tay qua loa, kỵ ồn, kỵ máu, kỵ ngãi nên đường ai nấy đi, gặp dân săn thú thì tối đó, y hẹn thế nào cũng có thịt rừng vừa ăn vừa tán gẫu lai rai bên đống lửa mặc sương rơi xuống thấm đầy vai áo.
Sau rốt, chúng tôi đặt hẳn dân bản khai thác với giá rẻ rề nhưng chi phí vượt trạm lại cao đến chóng mặt vì có thêm từ ngữ mới gán cho dân đi gỗ: “bọn phá rừng”. Tôi đặt chân đến bản Mèo tìm cách mở đường cho xe thông vào. Phải nói, cỡ ông chủ tôi nắm cả trăm lính thợ hay ông Chủ tịch phường có vài ngàn dân không bằng một góc Trưởng bản. “Vua làng” nói sao y vậy kể cả kiểm lâm, gác rừng cũng chờn. Nhưng ông thích tôi, cũng ngộ: “Tránh voi chẳng xấu mặt nào” tôi đâu dám ho he. Chỉ he hé tò mò sao lại gọi bản Mèo vì đâu phải dân tộc Mèo, Mông ngoài Bắc. Có điều ở đây thì nhiều mèo, nhiều vô số đến nỗi mèo rừng hay mèo nhà cũng khó phân biệt. Nó đi từng bầy lang thang ở vực suối, nằm sưởi nắng trên nhà sàn, chạng cây, bãi tranh. Ban đêm rượt đuổi ầm ĩ, gào lên từng hồi khoắc khoải rờn rợn. Chúng thấp thoáng vờn nhau dưới ánh trăng khuya, những cặp mắt xanh lét ma quái lởn vởn khắp chốn. Trong giấc ngủ chập chờn, nhiều lúc tôi phải choàng dậy vì tiếng rượt đuổi soàn soạt, tiếng rên rỉ gầm gừ trong cơn động dục ở đoạn cao trào dưới chân nhà sàn giữa rừng sâu heo hút.
Chú Đình ngừng kể, bật quẹt châm thuốc, ánh sáng bừng lên hắt vào khuôn mặt già trước tuổi, chú phà khói nhìn mọi người im lặng rồi chậm rãi kể tiếp:
... Và rồi, bên bếp lửa ấm, Trưởng bản Mèo vừa bập thuốc qua dọc tẩu dài ngoẵng, vừa đưa tay xoa nhẹ dọc xuống lưng, con mèo lai giống mèo rừng có bộ lông vằn sọc điểm đen pha trắng đang nằm lim dim mắt, bụng khẽ rung rung theo nhịp thở chợt ngừng bặt khi có làn gió từ đại ngàn len lỏi lọt vào vách ván làm chao ngọn lửa. Nó ngẩng phắt lên, hai tai vểnh ngược nghe ngóng, cặp mắt bừng sáng cùng hai chân trước chồm đến căng cứng. Trưởng bản lại đập tay lên mình nó, rồi nhìn tôi: “Mày ngạc nhiên khi bản này mang tên bản Mèo? ”. Tôi nhẹ gật. Ông tiếp: “Mày biết sao bản Mèo thích mày không?”. Tôi lắc đầu đưa mắt nhìn ngọn lửa đượm củi khô cháy rần rật, ông nói: “Khách vào bản này thì nhiều, nhất là bọn đi gỗ. Có lần, bầy mèo của làng chạy tứ tán vào rừng sâu, có con đã không trở về. Linh cảm của nó cho biết bọn người đó xấu bụng, không tốt. Riêng mày thì không. Vì ở đây đã từng xảy ra chuyện...”
Săn hoài thì mèo cũng hết, dân bản phớt lờ mọi chuyện để lo nương rẫy. Thằng Thành về xuôi mang lên đủ vật lạ và chúng đề nghị dân làng giúp chúng săn bắt, bủa vây. Vậy là cuộc săn diễn ra ồn ào từ bản đến các triền thung lũng mịt mù sương khói, gộp đá chang chang nóng nẫy dưới nắng, vực suối nước tuôn rì rào ngày đêm. Buổi tối đèn quét sáng trên các chạng cây, cung nỏ bật phừng phực trong tiếng “ miao, ngào... ngào” gầm thét trước khi giãy chết. Ban ngày từng đụn khói bốc lên ở các đám cỏ tranh, khe đá xua tuột từng con ra ngoài để thi nhau rượt bắt náo loạn.
Một lần từ triền đá, cả đám thợ săn dồn đuổi chúng chạy xuống vực nơi có con suối chảy ngang. Cả bầy lớn bé vằn vện nhảy loi choi, búng mình vọt lên trãng liền bị bắn gục nên quay người chạy ngược trở lại. Gặp nước đang tuôn réo, gầm gào chúng càng hoảng loạn. Có con, phóng ào lên các mỏm đá lô nhô nơi lòng suối gặp rêu trơn trượt lăn tòm xuống nước bị cuốn đi phăng phăng trong tiếng reo hò cùng những bước chân nện thình thịch xô đến, tiếng thúc hối của thằng Thành: “Bắn, bắn lẹ tụi mày...” chợt sững lại khi giữa bầy mèo rừng xuất hiện một con có bộ lông trắng muốt đang nhe răng, nghếch miệng đỏ rực nhìn đám người rồi vểnh tai nghe ngóng. Bất chợt nó co mình lao hẳn lên tảng đá gần bờ bám rêu trơn trượt, theo đà phóng nó vụt qua hết tảng đá này sang tảng đá khác và những con còn lại vội tuôn theo nó, vài con rơi xuống lòng suối còn bao nhiêu sang bờ bên kia để lao vút vào rừng. Thằng Thành miệng sùi bọt mép, mắt long sòng sọc, giơ khẩu súng hết đạn gào theo: “Con mèo trắng, con bạch miêu hoang kia, để rồi xem, tao sẽ bắt được mày!”. Hôm đó, mọi người hoan hỉ vác từng xâu mèo sũng nước nhỏ giọt hòa máu hồng hồng ra về lúc thằng Thành lầm lũi bước theo miệng không ngớt lẩm bẩm cùng hai gã dưới xuôi.
Chú Đình ngừng kể. Mọi người vẫn im lặng lúc bên ngoài sương rơi lộp độp trên từng tán lá, gió heo hút từ thung lũng tuôn về rì rào, trăng chếch dần về tây trong tiếng cú rúc từng tràng. Thái lẩm bẩm: “Quái, mèo trắng làm gì có vùng này...”, Quang trầm giọng: “Biết đâu là sự lộn gien...”, tôi thì nhướng mắt nhìn người kể lúc chú Đình cười cười: “Thì tôi đã nói miễn bàn cãi mà...”:
... Đêm ấy cả bản đốt lửa nướng thịt mèo rừng, mùi thơm cứ lừng lựng theo khói bốc lên nghi ngút, những chai rượu dưới xuôi sắp đống, khua vỏ loảng xoảng. Cả khu rừng hầu như tĩnh lặng chỉ còn những bầy đom đóm lập lòe sáng tắt trong các bụi cây, nhường cho dân bản Mèo ngập đầu vào rượu. Tiếng thằng Thành ngồi bên đống lửa khàn khàn “Chao, bộ lông mới đẹp làm sao!”. Cả ngày hôm sau nó lang thang vào rừng bỏ mặc mọi người lùng sục khắp chốn đem về vài chú mèo con đang gào khản tiếng. Thấy chúng, thằng Thành như khùng hẳn lên, nó trở báng súng nện thẳng vào đầu từng con bẹp gí rồi sai mang ra suối vứt bỏ.
Chiều hôm sau rừng lại chuyển mưa ngút ngàn, nửa đêm ngừng hẳn thì tiếng mèo kêu vòng vọng rồi ập đến thét gào. Bầy mèo lùng sục khắp bản, chạy tứ tản vào từng căn nhà sàn. Cả bản nhốn nháo thắp đuốc sáng bừng và vừa bước xuống thang đã gặp những đôi mắt đỏ rực. Tiếng thằng Thành hô lớn: “Lấy súng nhanh lên”. Tiếng nổ chát chúa xé toạc màn đêm thì cả lũ mèo đã lặn nhanh vào bóng tối, mọi người quay lại trong ánh lửa bập bùng của các ngọn đuốc chợt thấy con bạch miêu đứng sát ngay trên bậc thang ngôi nhà trưởng bản. Nó đưa cặp mắt nhìn mọi người, cái đầu to lớn khẽ lắc, hai con mắt sáng lóe quắc lên cùng cú nhảy êm ru nó vào hẳn trong nhà. Thằng Thành hô mọi người bủa vây rồi phóng thẳng lên bậc thang đạp cửa xông vào. Trong ánh đuốc rực sáng, con mèo trắng áp sát người xuống đà gỗ rồi trườn dần sang đà bên kia vừa gầm gừ lúc cả hai đối mặt với nhau, quan sát kẻ thù của nhau trong đêm. Thằng Thành gương súng, ngón tay đã đưa hẳn vào cò từ từ siết lấy, đúng lúc đầu nòng vừa rung nhẹ thì con mèo hoang lông trắng nhảy vọt với cặp mắt tóe lửa trong tiếng nổ đanh cùng tia chớp trắng long loáng qua đầu để phóng thẳng qua phía cửa sổ biến mất vào màn đêm.
Thằng Thành hậm hực suốt, hình như số tiền cho bộ lông ấy đắt lắm thì phải, hay đối thủ đầu tiên trong đời nó mới gặp mặt. Nó lại lang thang vào rừng, luồn qua từng bụi rậm rồi lội hẳn qua suối để tìm kiếm. Và nó cũng được gặp. Nhưng gặp ngay trong bản. Chiều ấy mưa tầm tã, mưa như chẳng được mưa, mọi người phải đốt lửa lúc hai thằng dưới xuôi đang xếp lại các tấm da mèo rừng để ngày mai đi về. Thằng Thành vẫn im lặng đốt thuốc liên tục rồi chợt nhìn ra phía cửa sổ lúc mưa ngớt hạt để giật nẫy mình. Con bạch miêu đã ngồi đó từ khi nào đang gương mắt chằm chằm lúc thằng Thành chụp vội cây súng treo nơi cột phóng liền ra ngoài và chỉ có vài người lao theo nhìn cảnh con bạch miêu chạy dích dắc, có đoạn nó ngừng lại giương mắt nhìn rồi phóng vụt vào gốc cây, bụi cỏ khi thằng Thành gương súng lấy điểm ngắm. Chiều dần tắt, bóng đen cao lớn và bóng trắng bé nhỏ thoăn thoắt rượt đuổi dọc triền đá, qua khe, rồi đến vực suối. Hình như trong gió ngàn, tiếng cười đắc thắng của thằng Thành mỗi lúc mỗi to hơn, vọng hơn khi đến gần bờ nước, con bạch miêu hơi chững lại như lo sợ nước réo, như chờ, đợi kẻ thù đến gần hơn nữa và ngóng một điều gì...
Quả đúng, điều nó chờ đợi đã đến. Trong tiếng rùng rùng của đất chuyển, tiếng xô dạt những bụi cây phía trên cùng tiếng đổ gãy. Con bạch miêu đã phóng vội lên các tảng đá lấp liếm mặt nước. Một tảng, hai tảng, ba tảng rồi trượt rồi ngoi lên lúc thằng Thành quay lại, nước lũ sau mưa sẽ tràn tới cuốn phăng những gì cản nó. Mặc mọi người lên tiếng réo gọi, mặc cho con mèo hoang lông trắng đã bám được vào đá, đập đuôi lao như tên bắn phóng thẳng vào rừng thì thằng Thành vẫn cố bám đến lúc hoảng hốt xoay người trở về thì đã quá muộn. Dòng nước sôi réo sùng sục tràn tới nhấn chìm các vật cản, kéo phăng phăng đến con thác cao vợi phía dưới đang tuôn đổ ầm ầm.
Lúc này thì cả bọn tôi đã nín lặng dỏng tai nghe chú Đình kể. Thằng Thái có máu “phóng sự” nhổm người hỏi: “Sao nữa chú?”, Quang gắt “Thì thằng đó chết chứ sao!”, chú Đình cười cười, gật gù kể:
...Trưởng bản cho biết thằng Thành đã chết, nhưng dân bản Mèo cũng gánh một tai họa khủng khiếp. Năm đó nạn đói ập đến do mất mùa bởi lũ chuột, thỏ, chồn, nhím sinh sôi nẩy nở khắp cánh rừng, nơi nương rẫy, trong gộp đá, ngoài bãi tranh. Chúng chạy hàng đàn thản nhiên vì đâu còn mèo rừng ăn thịt. Nương rẫy bị phá tan hoang, ban đêm chúng tràn vào bản cắn phá, bầy heo cũng không thoát cái chết, bị moi ruột lòng thòng kéo lê vào trãng, gà ẩn náu tận đọt cao, chúng lôi xuống nhai xương rau ráu đến chó cũng cụp đuôi hoảng sợ ban đêm vào ngủ với người. Giăng bẫy, đốt lửa cũng không xuể, lớp chết thì ít, lớp sống vẫn cứ ồ ạt tràn đến như dòng thác sôi réo, ầm ĩ của loại bốn chân. Cuối cùng, cả bản phải di dời sang bên kia suối. Nơi con bạch miêu đã vượt thoát kéo theo bầy đàn của chúng lúc ban đầu. Lúc đó, Trưởng bản cùng vài người đến các bản lân cận xin cái ăn và trao cho họ những con chó ốm gầy trơ xương để lấy mèo đem về. Cả bản lại nuôi mèo, chăm sóc nó hơn nuôi con.
Hơn nửa năm sau, sau những trận mưa rừng đằng đẵng thì những ánh nắng lấp lánh tỏa xuống cho mùa xuân về, cây lá đâm chồi nẩy lộc, nương rẫy sau mùa đốt rừng, vạt gốc, chẻ đá đã gieo trồng tươi tốt thì nỗi lo lại ập đến, lần nầy tai họa như lần trước chắc chắn cả bản chết đói. Một buổi sáng, con Trưởng bản ra suối lấy nước đã vội chạy về báo cáo cho mọi người, con mèo hoang lông trắng xuất hiện phía gộp đá dưới bụi sim rừng. Cả bản nháo nhào chạy đến kinh ngạc, dưới nắng ban mai nó và cả bầy con nằm sưởi trên tảng đá bằng, nghe động đã chồm nửa người ngước nhìn rồi bình thản đập đuôi qua lại cho lũ con vờn theo, đùa giỡn. Nó gầy hơn xưa, nhưng bộ lông trắng muốt in đậm trên mặt đá mốc xám bởi rêu và đàn con thì vằn vện đủ kiểu.
Chiều ngày sau, từ rẫy trở về, lúc ngang qua cây trâm già bị sét đánh cụt ngọn thì Trưởng bản thấy trên chạng ba xuất hiện con mèo hoang lông trắng, nó thoáng nhìn rồi ưỡn lưng, giơ vuốt cào nhẹ lớp vỏ sần sùi xong nhẹ nhàng chui vào hốc cây. Đêm đó, mọi người thả hết mèo nuôi ra ngoài và lần thấy xuất hiện trở lại những con mèo rừng ở các nương rẫy, gộp đá, triền khe. Đêm đêm cả bản lại nghe tiếng mèo đi lại, đùa giỡn dưới chân nhà sàn.
Giọng chú Đình trầm hẳn, ông nhìn ra phía ngoài khi sương mờ che kín, đã khuất dần ánh trăng phía đỉnh Madelắc xa xa:
... Tôi nhớ, lúc Trưởng bản đứng lên đi lại bên cửa sổ nhìn hút về thung lũng đang chìm vào đêm tối mờ mịt. Chợt tôi nghe dưới chân mình, ở mặt đất tiếp giáp nhà sàn tiếng mèo kêu khàn khàn để con mèo Trưởng bản đang nằm lim dim chợt ngẩng phắt lên, nó gừ... gừ rồi lao mình ra ngoài. Ông ta quay lại, trầm giọng:
- Lâu rồi, qua lâu rồi, nhưng khi nhớ đến như mới ngày hôm qua. Anh có lạ không? Người ta gọi bản tôi là bản Mèo là vậy. Chỉ toàn mèo không một con chó. Người lạ vào bản, chúng tôi sẽ tiếp đón tử tế nếu đàn mèo không phát cuồng.
Chú Đình ngừng lời xem như chấm dứt câu chuyện. Thái khẽ khàng hỏi thêm: “Thế chú có quay lại bản Mèo lần nào?”- Chú lắc đầu, nói nhỏ:
- Tôi không còn đến bản Mèo khi mùa khai thác năm ấy chấm dứt, Trưởng bản không chấp nhận việc đốn gỗ tiếp tục, ông sợ việc tàn phá làm đàn mèo bỏ đi và tôi cũng bỏ nghề vì không thể làm ăn lâu dài được. à, mà thôi, gần sáng rồi để tôi ra xe sửa bộ phận hỏng hóc. Các chú cứ ngủ, mai ta lại về...
H.T.T




