|
''C |
him kơnia bay tới nghiêng cánh chào Đakrông...'' nhạc sĩ Tố Hải thật giỏi, bởi ai nhìn dòng sông Đakrông mà không muốn thốt lên tiếng hát từ trái tim mình. Dù là những ngày mưa như trút, dòng sông đỏ ngầu phù sa nước dâng tràn, ầm ào cuộn chảy về đất bạn, về phía dòng sông Mêkông, hoặc khi nắng hè đổ lửa, nóng ong ong ngột ngạt tưởng như khô cong cả lá rừng bởi ràn rạt rất gió Lào.
Đã bốn mùa mưa nắng rồi Trần Ngọc không nhớ bao nhiêu lần mình đã xuyên rung, ngược xuôi trên Đường 9 huyền thoại. Song dù nắng, dù mưa khi chạm mặt với dòng sông Đakrông thì Ngọc và công nhân trong đội lại hát:'' Chim Kơ nia bay tới...'! Nhưng dõi mắt lên bầu trời cao rộng trong xanh giữa núi ngàn mênh mông vẫn không một lần được nhìn thấy cánh chim yêu thương... .
Mỗi lần ngồi nghỉ giải lao, hay ăn vội bữa cơm trưa công trường dưới tán cây rung không đủ che bóng mát, Ngọc có một cảm giác rất lạ, lòng anh cứ thầm hát: '' Mẹ già cuốc đất trồng khoai nuôi con đánh giặc tháng ngày...!' Mảnh đất khắc nghiệt và những bà mẹ thuỷ chung, thương tiếc người anh ruột đã hy sinh và nỗi đau của mẹ. Những năm tháng làm công nhân nhà máy Điện Hà Nội anh khao khát được trở về.
Rồi Ngọc được về với quê hương, nhưng không được nắm bàn tay chai sần, nhăn nheo của mẹ, không được nhìn thấy bàn chân đen đúa cả đời người vùi trong cát nóng, không được thấy dòng sông Bến Hải êm đềm trong xanh giữa hai bờ Hiền Lương với câu hò dịu dặt, thôi thúc nối đôi bờ cho hàng triệu con tim, không được tìm dấu vết xương thịt trong từng nắm đất của o du kích nhỏ với lời nói nhỏ nhẹ thân thương trong gió biển chiều: Anh đi hai năm em đợi?
Trần Ngọc phải cùng đơn vị hành quân xuyên dọc Trường Sơn, vượt qua đầu nguồn dòng sông quê hương vào với chiến trường Đường 9 Nam Lào. Đồi 500 là trận đánh một thắng mười của đời anh. Vậy mà bây giờ anh không xác định được nó nằm ở đâu. Nó bị chìm lấp giữa bạt ngàn núi rừng đang hồi sinh mà anh cùng đơn vị phải dùng rựa phát từng nhánh cây, bụi gai và lau sậy phóng tuyến.
Vậy đó, đường dây điện chỉ được nhìn thẳng, đi thẳng, dù phía trước là đồng lầy, rung rậm, núi cao, vực thẳm hay dòng sông chảy xiết. Dù đá như gang, như thép, từng hố móng phải được đào lên đúng kích thước, chỗ đã đóng cọc đánh dấu , xuống lòng sông sâu, bám từng bậc đá chuyển lên từng xô nước, trộn, xách từng xô xi măng, chui rung đến từng hố để đổ móng cột. Cột điện cao thế phải được dựng lên, kéo, căng đường giây. Và dòng điện phải đi đến đích cuối cùng. Đó là sự vất vả của anh và những người thợ điện.
Dòng điện kéo dài đi muôn nơi, ánh sáng được bừng lên trong xa xăm những làng quê hẻo lánh, là niềm vui rộng mở trong gian lao đẫm mồ hôi và nước mắt.
Lần này đưa lưới điện ngược Trường Sơn lên vùng kinh tế mở Lao Bảo, sang tỉnh Sa Vẳn Nạ Khẹt và vùng lân cận của nước bạn Lào, Trần Ngọc ẩn dấu một nỗi niềm riêng mà ngoài Thảo ra, không ai biết được...
***
Sau chiến dịch Đường 9-Nam Lào, Ngọc được tặng huân chương chiến công, được đề bạt làm trung đội trưởng. Song, điều buồn nhất là không được tiếp tục chiến đấu trên quê hương Quảng Trị, không được tiến dần xuống đồng bằng để dò tìm tin tức người mẹ thân yêu, để được bước chân trên những đồi cát trắng nóng như rang và ngắm nhìn mênh mông biển xanh ngàn trùng sóng gọi. Anh được điều về mặt trận XYZ, trở thành chiến sĩ tình nguyện quân trên đất bạn. Sau này là Sư đoàn 968 trú quân trên vùng đất huyện Lào Ngam thuộc tỉnh Saravan, Nam Lào.
Nếu ở Quảng Trị rừng núi nhấp nhô, mỗi bước đi phải leo lên, trèo xuống , thì ở đây là bạt ngàn rừng cây khộp, bằng phẳng đến lạ kỳ. Mỗi bước đi lúc đầu cứ như muốn chạy. Khí hậu ở đây thật khắc nghiệt, hai mùa mưa nắng rõ rệt. Sang tháng tư sau tết '' Bun hốt nậm '' là mưa suốt cho đến tháng mười, lúc đầu là những ngày dài sáng mưa chiều nắng. Rồi đến sáng nắng chiều mưa, tiếp theo là đêm nào cũng mưa. Mưa từng cơn trắng rừng, ầm ào, dữ dội. Sự ăn ở, đi lại vô cùng khó khăn, mặt đất lúc nào cũng ngập bùn, lầy lội Sông suối không cầu phà, khiêng chuyển thương binh, gùi gạo là nỗi nhọc nhằn của người lính. Sợ nhất là muỗi , nhiều như trấu vãi, lì lợm bám theo người, khi đi cố vung vẩy hai tay xua đuổi, nhưng muỗi vẫn bám được, cắn tím đỏ cả mu bàn tay. Rồi những cơn sốt tưởng như vắt kiệt sức người, ai cũng gầy guộc, da xanh rớt nhăn nheo và rụng tóc. Cậu Mới quê Gio Linh đang đứng với Ngọc mặt bỗng đỏ phừng phừng run rẩy rồi vật ra chết ngay. Dù chưa có những trận đánh nhưng từng trung đội, tiểu đội vẫn có sự đau buồn chia ly. Những nấm mồ hiu quạnh phủ lá rơi đầy. Từ tháng mười một đến tháng ba năm sau là mùa nắng, mặt đất, đường đất cứng rít khô nhanh, sông suối cũng dần cạn nước, rau quả không có. Giữa mùa nắng lá khộp to tròn từ xanh chuyển sang màu vàng, sang đỏ rồi buông cây lìa cành. Cái nắng chói chang được thể chụp xuống rừng cây không còn lá, nóng hừng hực, ngột ngạt, người lính tưởng như hết hát, hết cười nổi. Song là mùa ta bung ra, địch co lại. Ngược lại mùa mưa là mùa địch có thế mạnh, chủ động mở các trận tấn công càn quét. Và kỷ niệm sâu sắc, nỗi buồn thẳm sâu đeo đẳng suốt đời Ngọc là cái bản Bốn Nhà.
Vâng! Cánh lính không ai nhớ được tên bản, quen gọi là Bản Bốn Nhà.
***
Đó là năm 1972, có lẽ là lần đầu tiên ta mở chiến dịch trong mùa mưa. Lần này đánh vào Không Xê Đôn gần Lào Ngay. Trung đoàn 39 của Ngọc là mũi chủ công đánh chiếm được đỉnh Phù Khống, một cứ điểm rất quan trọng, khống chế cả một vùng rộng lớn. Bởi vậy, địch không thể chịu mất. Chúng dùng lực lớn hơn ta nhiều lần mở trận càn mang tên ''Sư tử đen!" quyết chiếm lại cho bằng được. Cuộc chiến đấu giành giật diễn ra ác liệt ngày này qua ngày khác, số lượng thương vong ngày càng tăng. Trung đoàn và đỉnh phù Khống bị bao vây. Không còn đường đưa lực lượng vào chi viện. Lương thực, vũ khí cũng không tiếp tế lên được. Gay go nhất là không có đường đưa thương binh về tiểu đoàn quân y Sư đoàn để có đủ thuốc men, điều kiện cứu chữa kịp thời. Trần Ngọc được lệnh dẫn trung đội trinh sát tìm cách xuyên thủng vòng vây mở hành lang nối với Sư đoàn để đưa thương binh ra. Hai ngày vượt qua từng cánh rừng, từng cơn sốt rét, ém mình trong mưa lạnh và muỗi dày đặc trong rừng khộp xa lạ. Song, trung đội của Ngọc cũng bị địch phát hiện truy đánh vào buổi chiều ngày hôm sau. Không còn con đường nào khác. Anh quyết định cùng hai chiến sĩ bám lại đánh chặn địch và lệnh cho trung đội quay lại đỉnh Phù Khống. Cả ba khéo léo di chuyển thu hút địch về phía mình, nhưng trận đánh không cân sức, hai chiến sĩ lần lượt hy sinh, Ngọc bị thương vẫn cố di chuyển đánh nhử chúng, rồi cơn sốt rét ập tới anh lịm đi. Khi tỉnh dậy cơn mưa chiều đã tạnh, bọn địch sợ đêm tối rút đi, bốn bề vắng lặng đến rợn người, cổ họng khô đắng vì đói và khát, Ngọc trườn tới liếm từng giọt nước còn đọng lại trong các khe võ cây khộp. Đầu nhức ong ong nhưng anh vẫn tỉnh táo để suy nghĩ và quyết định phải rời khỏi nơi này trong đêm, đê phòng sáng mai địch quay lại. Và phải tiếp tục xuyên vòng vây, hy vọng tìm đường về được với Sư đoàn. Súng khoác qua vai anh trườn lên trên đất bùn nhão nhoét từng thước một, khát, anh lại liếm gốc cây khộp, rồi ngất lịm, tỉnh dậy lại trườn lên phía trước lòng luôn thầm thì với mẹ : Mẹ ơi! Con về với mẹ đây, kẻ thù không bắt được con đâu, thương binh đang chờ con tìm đường đưa họ thoát vòng vây, mạng sống của anh em quí lắm mẹ ạ! Quảng Trị quê mình mùa này chắc nắng nóng hung rồi phải không mẹ? Cố sống để chờ con nghe mẹ!.
Đói anh nhặt những con cua rừng gần nhất cố nín nhịn sự tanh tưởi mà nhai nuốt từng chút một. Một đêm, một ngày, rồi một đêm nữa... Trong cơn mê Ngọc thấy mẹ ngồi bên cạnh sờ trán, vuốt tóc mình, bàn tay mẹ không nhăn nheo chai sần mà mềm mại, mát và dịu êm. Hình như bàn tay thần dược của mẹ làm cho anh khoẻ ra. Anh từ từ mở mắt, cái nắng yếu buổi sáng cũng làm anh chói mắt. Ngọc cố định thần, rồi nhận ra người ngồi bên cạnh mình không phải mẹ mà là cô gái Lào còn quá trẻ:
Úi! Anh bộ đội tỉnh rồi. Mình sợ quá.
Đôi mắt nâu to nhìn thẳng , nhìn chăm chú vào mắt Ngọc, ánh mắt rất lạ như cái nhìn của o du kích nhỏ năm nào.
Đó là Bun Phay, cô gái đi nhặt cua. Mưa đầu mùa cua rừng nhiều vô kể , không biết từ đâu mà chúng bò ra lổm ngổm khắp nơi , chỉ có nhặt chứ không phải tìm bắt từng con như đồng quê Quảng Trị.
Lúc đầu tưởng người chết Bun Phay bỏ chạy. Rồi chợt nghĩ hay là '' Bộ đội tình nguyện'' bị thương, bị lạc rừng, hơn mười ngày nay đánh nhau to bên Không Xê Đôn, ngày đêm tiếng bom, tiếng súng lớn vọng về đây không ngớt... Thương lắm không thể bỏ '' Bộ đội tình nguyện'' một mình nằm lại trong rừng, Bun Phay quay lại...
Cô nắm tay Ngọc:
- Bộ đội nằm chờ nghe? Mình về bản gọi người ra đem bộ đội về.
Chừng hai giờ sau, Bun Phay quay lại với hai người đàn ông mang theo võng và đòn khiêng, sau này anh biết người trung niên là chú Sỉ Phon, người tóc đã có nhiều sợi bạc hơi gầy yếu là trưởng bản, cha của Bun Phay. Ông có tên Bun Coong, họ Kẹo Ma Ni.
Việc đầu tiên khi về đến bản là Bun Phay nhóm lửa nướng cua, gỡ từng chút thịt nhón cho Ngọc ăn. Ngọc xúc động quá khi nhìn thấy dáng ngồi bệt hai chân nghiêng cùng một phía lật ra phía sau, hai bàn chân xếp lên nhau rất nết na, hai ngón tay nhẹ nhàng, ánh mắt thân thương của Bun Phay. Ăn chừng mười con cua thì già Bun Coong leo lên cây dừa cao ngất nghểu hái trái xuống lấy nước chăm vào trái bầu khô cho Ngọc uống, từng ngụm nước dừa ngọt thanh, mát lạnh, đúng ra là từ nhỏ đến lớn anh chưa một lần được uống. Nước dừa sao mà ngon quá thể. Thịt cua nướng, nước dừa giúp sức khoẻ anh hồi phục rất nhanh.
Thật là lạ, gọi là Bản nhưng ở đây chỉ có bốn mái nhà sàn, mỗi nhà chừng hai mươi mét vuông, mái lợp tranh, không phải là tranh cắt cả bụi rồi đánh thành tấm như ở quê nhà . Ở đây, bà con tuốt bỏ hết lá chỉ lấy cọng bện thành tấm dày, cần chuyển nhà tháo dỡ khiêng đi rất tiện. Cả bản chưa tới hai mươi nhân khẩu, mỗi gia đình chỉ có một người đàn ông trụ cột làm tất cả mọi việc nặng nhọc kiếm sống cho cả nhà, còn lại là đàn bà, trẻ con. Các món ăn không nấu luộc, chỉ có nướng, cua nướng, gà nướng, thịt heo nướng... Đồ xôi không đậy vung, chỉ xốc trở hai lần. Xôi chín chia ra từng tuýp, người lớn tuýp lớn, trẻ con tuýp nhỡ và tuýp nhỏ, tuỳ theo lứa tuổi, sức ăn. Tuýp đựng xôi đan bằng lồ ô, dưới nhỏ, trên to, có nắp đậy, đáy kết với một thanh lồ ô vót mỏng, uốn tròn như khu chén, khu tộ. Đến bữa ăn, mỗi người một tuýp xôi, một bầu khô đựng nước ngồi quây quần, nắm xôi chấm thức ăn mặn đựng trong cái chén củ kỷ đặt ở giữa, vừa ăn vừa uống nước trong bầu, rành mạch, đạm bạc mà hạnh phúc. Đèn thắp ban đêm và đuốc đi rừng bà con dùng mủ của cây khộp. Từ ngày xa mẹ và quê hương, lần đầu tiên Trần Ngọc cảm nhận mình được sống trong một mái ấm gia đình. Nhất là tình cảm mà Bun Phay dành cho anh.
Vết thương ở bắp chân còn sưng tấy, bước đi đau lắm. Nhưng anh không thể nấn ná được. Biết rằng đường về Sư đoàn đã an toàn, anh quyết định tìm con đường khác quay lại Phù Khống. Ông Bun Coong bảo:
- Có đấy, nhưng phải có khuông vênh (người làm nhiệm vụ dẫn đường) đưa đi vòng tránh bọn phỉ phục kích, phải mất tới ba ngày.
Ngọc lưu luyến chia tay Bun Phay theo ông Bun Coong dẫn đường quay ngược lại tìm đến bản gần nhất. Bun Phay ngấn nước mắt:
- Bộ đội Ngọc đừng quên Bun Phay nghe?
- Ứ? Anh sẽ quay lại tìm Bun Phay mà.
Ngọc biết rằng mình quá yêu Bun Phay.
Trên đường đi, thấy mặt Ngọc tái ngắt, mồ hôi rịn ướt trán già Bun Coong bảo:
- Để tao cõng bộ đội, mày đau quá bụng tao không yên. Rồi con Bun Phay nó giận tao không biết thương mày.
Anh cảm động ứa nước mắt, nhưng không dám để ông cõng. Vừa đi vừa nghỉ, cơn mưa chiều đã lâu hai người mới đến được bản gần nhất. Ngày hôm sau lại đi...May quá, gặp được đơn vị bạn đang tổ chức đường chuyển thương ra.
Vậy là bản Bốn Nhà trở thành trạm cuối cùng tiếp nhận thương binh và chuyển tới Đại đội phẫu thuật trung chuyển mới được thành lập tại bản Xa Nơm Nọt trong khu rừng phía đông chừng ba giờ đi đường. Vì chỉ có bốn người đàn ông trụ cột, nên cứ hai người một cáng thương, trưởng bản đã già yếu cũng phải đảm nhận một đầu cáng. Họ cứ như con thoi đưa mỗi lần hai thương binh ra khỏi vùng nguy hiểm. Mỗi ngày có khi phải đi hàng chục chuyến, gặp thương binh nặng phải đi luôn suốt đêm. Vậy mà ngày hôm sau vẫn không nghỉ được.
Những ngày dưỡng thương và giúp đội phẫu trung chuyển, trong bản có một cháu trai chừng ba tháng tuổi lên cơn đau bụng dữ dội, thằng nhỏ quặn đau tím tái, uống thuốc lá gì cũng không khỏi. Những người đàn ông chuyển thương không còn bụng dạ nào cáng thương binh. Ngọc phải về trạm bảo cáo tình hình, bác sĩ quân y trẻ Lê Quý Hữu được cử đến ngay bản Bốn Nhà. Nhìn sắc diện cháu bé, anh biết là căn bệnh lồng ruột. Song ở đây không có đủ điều kiện phẫu thuật, nếu đưa về Tiểu đoàn quân y Sư đoàn phải mất tới ba ngày, cháu bé sẽ chết. Bác sĩ Hữu giải thích cho gia đình biết và anh thực hiện phương pháp nong ruột. Cháu bé được cứu sống, Hữu và Ngọc trở thành ân nhân của bản. Được bản mời uống rượu mừng, cứ tưởng có thức ăn nhắm rượu như bên ta. Song, chỉ có một hủ rượu, một cái chén đặt ở giữa, sáu người ngồi xung quanh. Chú Văn Đa Chít rót rượu đầy chén, hai tay trịnh trọng nâng lên nói:
- Rượu này do tôi nấu. Tôi xin uống trước.
Rồi chú uống một hơi cạn chén. Rượu cứ trót đầy , uống xoay vòng đến lược bác sĩ Hữu và Ngọc , hai anh nói thật không quen uống rượu suông đầy chén như thế này, xin phép được uống ít để tỏ lòng cám ơn bà con. Mọi người vui vẻ đồng tình. Tiệc rượu tàn mà niềm vui không tắt... Bởi vậy mà tình yêu giữa Ngọc và Bun Phay cũng lên đến cực điểm. Đêm hôm ấy, không còn kiềm chế được mình Ngọc đã làm cái việc vượt qua giới hạn trong tình yêu tha thiết, nồng cháy và khao khát của hai người. Sáng hôm sau cả bản rất vui, biết được hạnh phúc mà đêm hôm qua Bun Phay đã tận hưởng của đầu đời con gái. Song, Trần Ngọc bị triệu về đơn vị , bị kỷ luật khai trừ khỏi Đảng, cách chức trung đội trưởng. Trong nỗi buồn sâu thẳm, Ngọc càng yêu Bun Phay da diết. Cái tình yêu mà đời người đâu dể có được. Tình yêu có cả sự mê đắm, ham muốn, tin cậy và hàm ơn!
Sau chiến dịch Trần Ngọc tìm cách quay lại bản Bốn Nhà, nhưng nhà của Bun Phay, nhà của chú Sỉ Thon chỉ còn tro than nằm trên đất lạnh, hai nhà kia còn lại mấy lỗ cột cùng mấy cây dừa trong bản buồn heo hắt!
Bun Phay ơi! Em ở đâu? Em có còn sống để chờ anh không? Có phải bọn biệt kích đã triệt phá bản Bốn Nhà thân yêu của chúng mình không? Anh biết tìm em ở đâu hở em!?
***
Ngày trở về, Trần Ngọc thắp nén nhang qui trước mộ mẹ, nấm mồ cát trắng buồn thiu nép bên những gốc phi lao cằn cỗi lơ thơ.
- Mẹ ơi? Con đã trở về với mẹ đây! Mẹ đừng quá đau buồn về con nghe mẹ! Ngọc thì thầm.
Rồi anh tìm đến Điện lực. Kỷ niệm về chiến thắng Đồi 500, xuất thân từ công nhân điện đèn Hà Nội anh được thu nhận ngay, vào Đội xây dựng đường dây.
Những ngày ở Hà Nội lưới điện không phát triển , chỉ quản lý điện đèn, sửa chữa, khôi phục lưới điện bị bom Mỹ đánh đứt, gãy, dập nát, loanh quanh trong thành phố, nếu đi xa hơn chút là Gia Lâm , Đông Anh. Còn bây giờ các công trình lưới điện xếp chồng lên nhau. Và địa hình, khí hậu Quảng Trị đúng là hội tụ đủ muôn nỗi nhọc nhằn của người công nhân xây dựng lưới điện cao thế.
Một lần đi công trường xa, Ngọc cùng đội xây dựng phải ở nhờ nhà dân. Cô Thảo con chủ nhà có nước da trắng, tóc dài, hàm răng trắng đều, đôi mắt to đen láy, bạo dạn, tinh nghịch. Đặc biệt Thảo có tài nói chuyện tiếu lâm rất hay, con gái mà nói chuyện tiếu lâm hay là có một không hai đó. Tối đến sau một ngày phơi mình ngoài công trường nắng như đổ lửa, anh em lại quây quần trước cái sân nhỏ, nghe Thảo kể chuyện tiếu lâm. Trái tim tưởng như nguội lạnh Ngọc cảm thấy vui và mê cái duyên nói tiếu lâm của em.. Còn Thảo thường chú ý đến anh công nhân đã ngoài tuổi ba mươi, từng trải, da rám nắng, khoẻ mạnh có đôi mắt sáng đượm buồn. Một đêm trăng, bên giếng nước em hỏi vì sao anh buồn. Biết lòng em chân thành Ngọc không dấu chuyện tình của mình. Không ngờ Thảo nhìn thẳng vào mắt Ngọc nói:
- Em làm Bun Phay của anh nghe!
Khi lưới điện từ Đông Hà cắt ngang dãy trường Sơn qua Lao Bảo nối Đen Sa Vẵn tới các huyện Sê Pol, Mường Vĩnh, Tà Ôi, Khăm Muội và cửa khẩu Mường Lay trên đất bạn Lào được xây dựng xong thì Trần Ngọc mới hiểu rằng chim Kơ nia không có thật. Kơnia là chim thần huyền thoại mang lửa đến cho người. Lòng anh rộn vui:'' ờ! Những người thợ đường dây cũng là chim Kơnia bên dòng Đak Krông?''.
Và đêm nay, vùng kinh tế mở Lao Bảo đèn điện sáng rực rỡ cả một vùng núi rừng Lào-Việt trong niềm vui sướng vô biên của mọi người. Thảo khoác tay , nép vào vai Ngọc lặng lẽ đi trên con đường đất đỏ của nước bạn trong tiếng nhạc từ casset rộn rã cả hai miền biên giới, em biết chồng mình đang nghĩ về Bun Phay và bản Bốn Nhà?
Trời khuya, sương giăng đầy, quàng tay sau eo lưng vợ nhìn ánh điện sáng khắp nơi lòng Trần Ngọc thổn thức thầm gọi:
- Bun Phay ơi! Em ở đâu??
H.V.H




