Chiều. Mưa chùng chình rơi. Cái lạnh tràn vào nhà qua khe cửa. Hà nhấm đôi môi khô, bê bát cháo còn nóng hổi đến đặt cạnh giường rồi hắt sang tôi một cái lườm đáng yêu: “Anh cứ cậy sức, chẳng bao giờ chịu nghe lời”. Tôi mặc Hà gắt, cười tủm tỉm đón những thìa cháo được múc lên rất gọn gàng từ Hà. Cô ấy chăm sóc tôi như cách mẹ tôi đã làm ngày bà còn sống.
Lần ốm đầu tiên cách đây đã hai mươi mấy năm về trước. Khi ấy tôi vừa tròn hai mươi, cái tuổi đôi mươi phơi phới sức trẻ, nhiệt huyết đầy mình, lúc nào cũng đau đáu giấc mộng được thoát ra khỏi lũy tre làng dài tăm tắp. Vậy mà không hiểu sao, hôm ấy từ Ủy ban về, trong lòng thấy buồn bã, tôi nện mấy gáo nước giếng mát lạnh từ trên đầu xuống rồi vào giường nằm. Cơm trưa dọn xong, mẹ gọi mãi không thấy tôi trả lời. Mẹ chạy đến bên giường, thấy con trai mồ hôi nhễ nhại nằm co ro giữa trưa hè gắt nắng. Mắt bà rưng rưng.
Là một thằng thanh niên trai tráng, tôi chán cái cảnh suốt ngày ăn cơm rồi kéo nhau ra bờ đê tán tếu qua ngày. Trong khi bạn bè tôi, đứa đi nghĩa vụ, đứa đi làm công nhân hết cả. Trời cho tôi sức khỏe, từ khi lọt lòng chưa hề phải đụng đến viên thuốc nào. Ấy thế mà lần nào đi khám nghĩa vụ tôi cũng bị trượt. Lần này tôi ốm thật, mẹ sốt sắng đi bộ lên trạm xá giục cô Loan trạm trưởng về khám cho tôi. Thuốc kê một khay to cả thuốc bổ và thuốc bệnh. Mẹ chạy đi mua cho tôi đủ thứ bánh kẹo, trái cây, đổi món cháo này cháo nọ hì hục từ sáng đến tối nhưng tôi chẳng buồn ăn. Thương mẹ, tôi cố gượng dậy húp tí cháo nhưng rồi cũng nôn ra. Lúc mẹ vội vã cúi xuống nhặt nhạnh, dọn dẹp, tôi muốn lao xuống giường đỡ mẹ đứng dậy nhưng cơ thể tôi không nghe lời.
- Mẹ ơi. Mẹ ngồi đây với con, đừng làm nữa!
Mẹ sờ trán tôi, chậm rãi:
- Mẹ biết con buồn, con giận mẹ vì đã ngăn cản con đi nghĩa vụ. Nhưng mẹ biết làm sao đây con ơi!
Mẹ vén tà áo chấm lên gò má gầy. Những giọt nước mắt không ngừng chảy. Tôi cố gượng dậy ôm chặt lấy mẹ.
- Mẹ đừng khóc nữa. Mỗi khi nhìn ảnh bố, mẹ lại khóc. Lúc ấy, con thực lòng không biết làm sao an ủi mẹ. Bây giờ cho con đi bộ đội mẹ cũng khóc. Ngày xưa, mẹ từng nói hy sinh vì lý tưởng là sự hy sinh bất tử mà. Bố đã bao giờ chết trong trái tim mẹ con ta đâu. Với lại, giờ là thời bình, con đi vài năm con lại về. Con muốn rèn luyện mình, muốn cống hiến cho quê hương. Chẳng lẽ mẹ cứ muốn con không lớn nổi, suốt ngày bắt mẹ hầu hạ thế này sao?
Mẹ dường như đã xuôi theo nhưng trong lòng vẫn buồn. Tôi biết mẹ sợ xa tôi, mẹ thương tôi còn hơn bản thân mẹ.
Không biết do may mắn hay do ông trời sắp đặt cho tôi được nhận nhiệm vụ tòng quân đến Quảng Trị, quê hương nơi mẹ đã sinh ra và lớn lên, nơi bố tôi đã anh dũng chiến đấu trong những ngày chiến tranh khói lửa. Ngày ấy, mẹ là dân công tiếp viện đi tiếp tế cho mặt trận Thượng Lào. Mọi người gọi mẹ là Út Thơ. Út Thơ sinh ra tại thị trấn Đông Hà. Cái tên cũng giống như con người Út Thơ, một người con gái Quảng Trị nhỏ nhắn, chân chất, mộc mạc nên ai cũng quý, cũng thương. Bởi thế, ba lô của Út Thơ bao giờ cũng nhẹ hơn người khác, chỉ có vài gói bông băng, một ít thuốc và tư trang. Các anh bộ đội đi qua cứ trêu đùa làm đôi má Út Thơ đỏ ửng, không sao đối đáp được như các chị kia. Rồi họ cùng nhau cười, Út Thơ cũng thẹn thùng cười theo. Tiếng hát lại ngân vang giữa núi rừng: Hò ơi…! Đèo cao thì mặc đèo cao/ Ta lên đến đỉnh ta cao hơn đèo.
Cứ như thế, họ băng qua lửa đạn chiến tranh với một tinh thần lạc quan, yêu đời, bỏ lại sau lưng những khó nhọc, vất vả. Một hôm, đơn vị Út Thơ đang hành quân thì bắt gặp một anh bộ đội vệ quốc đoàn bị lên cơn sốt phải nằm lại bên đường. Đơn vị cử Út Thơ ở lại chăm sóc chờ các đơn vị chủ lực rồi về địa điểm tập kết sau. Trời tối dần, chỉ có hai người giữa núi rừng hoang vu, đột nhiên Út Thơ òa khóc. Dỗ dành kiểu gì Út Thơ cũng không nín. Bỗng nhiên anh bộ đội cất cao bài hát Cùng nhau đi hồng binh. Anh có vẻ rất mệt nhưng vẫn hát, đôi mắt anh cũng hát, tỏa sáng giữa núi rừng âm u trập trùng. Có lẽ những câu hát của anh bộ đội đang xanh ngắt vì sốt rét kia đã lau khô những giọt nước mắt của Út Thơ từ lúc nào. Sau khi câu hát cuối cùng tan vào làn sương mỏng thì cũng là lúc hai đôi mắt của họ bắt gặp nhau. Khuôn mặt anh bộ đội cũng hồng hào hơn nhờ có thức ăn và thuốc uống hay tại thứ thần dược mà người ta gọi là tình yêu trong lửa đạn. Về đơn vị, một năm sau Út Thơ và anh bộ đội vệ quốc đoàn bị sốt rét ấy được cấp trên tổ chức cho một lễ cưới nhỏ vào buổi chiều chủ nhật trong rừng. Đám cưới không lợn, không gà, chỉ có lương khô, nước trà, đàn ghi ta và những câu hát thiết tha, những lời chúc chân thành của anh em làm quà. Mẹ tôi bảo, giữa hoàn cảnh ấy, được như thế đã là quá hạnh phúc rồi. Vài tháng sau, mẹ mang thai tôi và được đơn vị cho về quê chồng - xứ Nghệ sinh sống. Rồi lần chia tay bịn rịn hôm đó cũng là lần gặp gỡ cuối cùng.
Sau ngày giải phóng, người ta báo tin bố tôi đã hy sinh ở mặt trận Đông Hà, Quảng Trị. Tôi vẫn chưa được gặp bố lần nào, chỉ biết bố qua những lời mẹ kể, nhưng khi nghe tin bố đã hy sinh tôi òa khóc nức nở. Mẹ ôm tôi vào lòng, không khóc. Có lẽ những giọt nước mắt đã chảy vào trong, hóa thành rêu phủ kín trái tim mẹ. Rồi những đêm trở trời không ngủ được, mẹ lại dậy châm đèn thắp hương và đứng nhìn ảnh bố hàng tiếng đồng hồ. Những giọt nước mắt lăn dài trên gò má.
* * *
Ngày lên đường tòng quân, tôi nắm lấy tay mẹ, nói toàn chuyện tếu táo cho mẹ tôi quên đi nỗi buồn. Hà đứng lấp ló ở cổng Ủy ban, tay cầm một gói quà. Tôi chạy ra kéo tay Hà vào ngồi cạnh mẹ. Mẹ coi Hà như con cái trong nhà vì chúng tôi chơi thân từ nhỏ. Thân đến mức tôi chẳng hề biết mình có thích Hà hay không và ngược lại Hà có tình cảm đặc biệt gì không. Chỉ khi xe lăn bánh, bóng mẹ và Hà khuất xa, tôi mới mở gói quà của Hà ra và trông thấy một lá thư gấp hình trái tim rất đẹp. Ngoài ra còn có mấy gói kẹo và ít đồ dùng cá nhân. Trong thư, Hà thổ lộ đã mến tôi từ rất lâu. Lúc đọc những dòng chữ sạch sẽ, ý tình ấy, hình ảnh nhỏ nhắn, khuôn mặt bầu bĩnh của Hà hiện ra làm trái tim tôi thổn thức, nhớ thương. Chúng tôi thường xuyên viết thư cho nhau. Hà cũng hay qua lại đỡ đần công việc và trò chuyện cho mẹ tôi đỡ buồn.
Lần phép đầu tiên, tôi rạo rực đến nỗi mấy đêm liền không ngủ được. Tôi ghé chợ Đông Hà mua cho Hà một con búp bê tóc vàng hoe, miệng đỏ chót, mắt xanh nhấp nháy. Hà thích may vá, cô ấy sẽ may những chiếc váy cho con búp bê. Tôi cũng mua một ít bánh bột sắn, đặc sản của người Quảng Trị. Đợt phép đó, tôi và Hà chính thức đi vào mối quan hệ yêu đương. Tôi hẹn Hà hết nghĩa vụ trở về hai đứa sẽ làm lễ cưới. Hà thẹn thùng gật đầu. Những lá thư sau đó càng ngọt ngào hơn.
Một buổi sáng chủ nhật như bao ngày, tôi đang rút lại quai dép rồi tính ra hòm thư gửi thư về cho Hà thì đột nhiên có báo động chiến đấu. Một phút sau, cả đại đội đã nai nịt gọn gàng, súng đạn đầy đủ, tập hợp ngay ngắn chờ chỉ thị cấp trên. Tình hình là có một băng nhóm buôn lậu thuốc phiện và đồ cổ đang chuẩn bị tuồn ra nước ngoài. Chúng có sáu tên được trang bị vũ khí đầy đủ và hiện đại. Ngoài ra, chúng còn có đường dây liên lạc với bọn trùm ở trong thị xã và các lực lượng yểm trợ bổ sung khi cần thiết. Lệnh của ban chỉ huy là phải nhanh chóng bắt sống, bắt gọn và thu đủ tang vật của bọn chúng. Nếu chúng chống trả, ta có quyền bắn bỏ. Trong cuộc giao chiến hôm đó, lực lượng ta có hai người bị thương. Tôi bị một mảnh đạn găm vào tay trái, cưa đứt một bàn tay. Còn đồng chí kia bị thương ở mặt và cổ. Dạo đó mẹ tôi đêm nào cũng lo lắng mất ngủ, Hà phải sang ngủ cùng cho bà đỡ buồn. Cuối thư, bao giờ Hà cũng viết thêm một câu: “Anh có làm sao em vẫn mãi yêu anh. Em yêu anh, yêu những người lính dũng cảm!”
Ngày hoàn thành nghĩa vụ trở về, tôi đứng trên cầu Đông Hà nhìn xuống dòng sông Hiếu trong xanh, những con thuyền trôi êm trên mặt nước lấp loáng ánh nắng ban mai. Chợ Đông Hà như một đoàn tàu sừng sững đang vươn mình muốn lao ra biển lớn. Đông Hà thật đẹp, hiền hòa song cũng đầy nội lực. Nơi đây, bố tôi - anh bộ đội vệ quốc đoàn đã dũng cảm ngã xuống. Máu của bố cũng như bao người lính khác đã nhuốm đỏ dòng sông Hiếu trong những ngày mịt mù bom đạn. Để rồi sông Hiếu vùng vẫy, cuộn mình và ngày càng xanh trong hơn tắm táp cho mảnh đất Đông Hà thêm đẹp và nên thơ.
Chào Đông Hà, tôi trở về xứ Nghệ quê cha. Cánh đồng quê vừa mới gặt xong vẫn còn vấn vương mùi lúa mới dìu dịu trên những con đường làng. Hà đứng đón tôi ở con đê, đội chiếc nón thắt quai màu tím. Mái tóc đen buông dài thoang thoảng hương bưởi thơm ngất ngây.
Lễ cưới của chúng tôi diễn ra sau đó hai tháng. Mặc dù là cảnh mẹ góa con côi nhưng đám cưới được cho là đông vui nhất làng hồi đó. Anh em chú bác, hàng xóm láng giềng, còn có anh em bạn bè cùng đi nghĩa vụ và cả chỉ huy cũ của tôi cũng lặn lội đến chung vui. Tôi chững chạc trong màu áo lính, Hà dịu dàng trong chiếc áo dài màu hồng phấn thướt tha. Chúng tôi trao nhau nụ hôn trước sự chứng kiến của bao người. Những cụ già răng đen cười lung linh dưới nắng.
* * *
- Bố đã đỡ hơn chưa hả mẹ? Mẹ chuyển máy cho con nói chuyện với bố một lát!
- Con gái muốn hỏi thăm bố này.
Tôi quay mặt vào trong, đưa tay ra hiệu từ chối. Hà biết tính tôi, lúc ốm đau không muốn làm người khác bận lòng, nhất là con cái.
- Bố ngủ rồi con ạ. Mai mẹ bảo bố gọi lại cho con nhé!
Tắt máy, Hà quay sang gắt:
- Con gái có hiếu với bố mẹ, biết tin bố ốm, sốt sắng gọi về. Nghe mẹ bảo bố chỉ bị cảm nhẹ, nó chưa yên tâm muốn nói chuyện bằng được với bố. Anh làm thế con nó càng không thể yên tâm làm việc. Đúng là bướng hết sức.
Ngày tôi đặt tên cho con gái, Hà cũng nói thế: “Anh bướng vừa vừa thôi. Hết tên rồi hay sao mà anh đặt tên con gái là Đông?” Tôi kệ Hà bực bội. Tự nhiên tôi thích đặt tên con như vậy, thế là đặt bút viết vào tờ giấy khai sinh không chút đắn đo. Cũng xem như một cái duyên trời định, tốt nghiệp đại học, Đông chọn thành phố Đông Hà làm nơi lập nghiệp. Một thành phố còn rất trẻ. Đó là nơi bà nội nó đã sinh ra và lớn lên, nơi ông nội đã anh dũng hy sinh giải phóng quê hương và cũng là nơi bố nó đã có những tháng ngày đẹp nhất, vinh quang nhất của tuổi trẻ. Hay đó là nơi gắn với cái tên của hai mẹ con. Hoặc là tất cả những lý do kia dẫn đường cho nó tìm đến Đông Hà như một sự mặc định của cuộc đời nó.
Đông và nhóm bạn góp cổ phần thành lập một công ty bất động sản và đã đi vào hoạt động hơn nửa năm. Mọi thứ đều vận hành khá suôn sẻ. Với sự đào tạo chuyên sâu trên giảng đường đại học, kỹ năng thực tế chuyên nghiệp và tác phong công nghiệp hiện đại, bọn trẻ đã thu hút được rất nhiều đơn hàng đầu tư. Nhìn cái cách con bé làm việc quần quật cả tuần không biết mệt mỏi, chủ nhật còn đi làm tình nguyện, tôi biết nó đang đi đúng trên con đường đã chọn và hạnh phúc nó nhận được đến từ những điều nó cho đi mỗi ngày.
Tôi mở máy tính, có email của con gái gửi:
“Hôm nay chúng con lên miền núi phía tây bố ạ! Theo kế hoạch, chúng con sẽ xuất phát lúc sáu giờ và bảy giờ ba mươi đến tận các bản làng, sau đó tập kết tại trường học để phân phát sách vở, đồ dùng học tập, quần áo ấm cho các em học sinh đón một cái Tết thật vui. Nhưng vì mưa to, đường vào bản có chỗ bị lầy nên gần trưa xe của con mới đến nơi bố ạ! Lúc con giữ chắc tay lái rồi rì xe qua vũng lầy, cố gắng để xe không bị mất thăng bằng mà vẫn thoát được, bỗng nhiên con nhớ đến lời bố mẹ kể về hình ảnh các cô chú lái xe tiếp vận lương thực, vũ khí cho bộ đội ta thời kháng chiến chống Mỹ, hy sinh rồi mà tay vẫn bám chắc cần lái, gỡ mãi không ra. Nghĩ đến đó, con càng quyết tâm hơn để đưa được xe thoát khỏi vũng lầy đến nhanh với các em nhỏ ngóng mong. Hình ảnh các cô bé, cậu bé mặt mũi lem luốc, áo quần nhếch nhác đang hát líu lo như đàn chim nhỏ theo tiếng vỗ nhịp của thầy giáo trông thật đáng yêu. Những đôi mắt to tròn, trong sáng như những giọt sương long lanh của một sớm ban mai yên ả, trong lành. Tối chúng con trở về, tiếng hát lại vang vang trên xe xua tan đi lạnh giá, vất vả. Thành phố trẻ đón chúng con với những con đường thênh thang thẳng tắp, ánh đèn lung linh rực rỡ và những bài ca đón chào năm mới. Dọc hè phố, những chậu mai, đào, cúc vàng trải dài như tấm lụa bồng bềnh, dịu dàng hương sắc ngày xuân”.
N.D.H




