1.
Từ làng tôi có hai lối lên phố huyện. Một lối thong dong đường liên xã chừng bảy cây số, một lối qua bến đò sông Lăng tắt ngang làng Vông gần được nửa đường. Dọc hai bên lối xuống bến xanh rợp bờ tre dây. Giống tre dây thân nhỏ dóng dài từng khóm kết thành bờ cao vút, không một tầm cấp dông bão nào đủ sức mạnh quật đổ bờ tre dây. Làng lấy thứ cây nhỏ bé mà kiêu hùng đặt tên cho bến- bến đò Tre. Đi lối luỵ đó thường là các bà các thím đi chợ huyện mỗi tháng ba phiên ngày bảy, những người có việc sang làng bạn lên phố huyện và mấy đứa học trò cấp ba không có hoặc không muốn nhờ mượn xe đạp.
Bây giờ người làng tôi vẫn kể chuyện này:
Một đêm trăng muộn bờ bên vọng sang tiếng gọi đò. Ông Lân xuống đò gấp gáp tay chèo. Tiếng gọi vống sang khẩn thiết mà con đò áp bờ gặp bến vắng tanh. Bến làng chưa từng có chuyện đùa đò nên ông Lân giữ chèo chờ khách. Bất ngờ lưng chừng dốc bến ré lên tiếng khóc trẻ con. Ông Lân chạy lên thấy đứa trẻ nằm trong lòng chiếc thúng có dây ràng miệng buộc chặt vào bờ tre. Thì ra kẻ bỏ con vẫn còn một chút lương tâm. Sợi dây ràng giữ đứa trẻ khỏi giãy lăn và tiếng gọi đò khẩn thiết hàm ý đánh động gửi gắm ông Lân bế đứa trẻ xuống đò tay rung nựng tay chèo gấp. Đến giữa sông đứa trẻ khóc giãy lăn, rúc ngực ông lái đòi bú. Ông Lân dừng tay chèo vỗ về đứa trẻ.
- Cơ duyên sắp đặt cho ta được gặp con. Con chờ ta ở bờ tre, ta đặt tên cho con là Trúc. Nửa dòng sông rộng nữa mới đến bờ. Con ăn tạm giọt nước sông ta uống từ bé. Con bằng lòng cho ta làm bố thì ăn thì nín ngay nhé.
Ông Lân vốc nước giữa dòng cho bé Trúc ăn ba giọt. Bé Trúc nín ngay, tóp tép ngon lành ba giọt nước.
Chỉ hôm sau khắp làng Quảng xôn xao chuyện bé con trong thúng. Có người chê trách ông Lân vợ chết chưa được hai giỗ mà đã léng phéng. Đi lại với người ta rồi chạy làng nên người ta hận đem trả hậu quả. Mấy bà có ý chờ ông Lân đoạn tang vợ thì mai mối cho đám này đám kia khi vỡ ra chuyện trả con thì chép miệng “may mà...”. Những người hiểu tính nết ông Lân thì cho rằng ở hiền gặp lành, ông giời có mắt. Ông Lân đi bộ đội mười năm ở chiến trường. Sau ngày đất nước thống nhất ông về quê làm chồng cô bạn thuở cắt cỏ chăn trâu. Mấy năm sau, vâng lời mẹ già vợ chồng ông tiếp việc đò giang. Bà Lân ba lần mang thai không đậu. Rồi sau một chuyến đò chở khách thập phương về hội làng bà đột ngột bỏ chồng bỏ bến. Các bác sĩ bảo căn bệnh nan y ấy thường đổ vào con tim những người thường cả nghĩ. Sống hiền thác linh bà Lân dẫn dắt người đàn bà trót dại đem đứa trẻ đến bến đò cho chồng được làm bố. Bé Trúc đang khóc giãy nín ngay là nhờ dòng sữa lời ru trộn trong giọt nước sông Lăng.
2.
Tôi thi đỗ vào trường cấp ba và trở thành kẻ thường xuyên phải luỵ đò.
Buổi đầu tiên lên trường huyện. Trưa tròn tôi xuống bến thấy chị Trúc đứng bên bờ tre cuối dốc nhìn lên như chờ ai. Một thoáng ngại ngùng níu tôi chậm bước. Chị Trúc học trên tôi hai lớp được lên thẳng cấp ba nhưng chị thôi học. Từ năm kia chị Trúc đã là tay chèo chính. Hơn thế chị đã thành thiếu nữ. Cả làng khen chị đẹp nhất ngũ làng vùng cửa sông Lăng. Dáng chị thắt đáy lưng ong, mái tóc dài đen óng ả, dưới cặp mày cong nuột là đôi mắt đen láy biết cười biết nói những lời vô thanh. Nụ cười của chị có màu hồng của đôi môi và màu sáng nuột nà của hàm răng đều tắp hạt na.
Chị em xuống đò. Ra đến giữa sông chị Trúc nụ chèo dừng đó.
- Chúc mừng Công nhé. Ba năm nữa là thành cậu tú. Nhanh lắm.
Tôi đỏ mặt nhìn dòng sông nước lửng. Là chị Trúc động viên thằng bạn như đứa em từ thuở cấp một. Cùng khối nhiều đứa học rất giỏi nhưng vì hoàn cảnh không thể học lên nữa. Cả làng chỉ có bảy đứa thi cấp ba, bốn đứa đỗ, tôi đứng cuối bảng. Con đò áp bờ, chị Trúc cắm vội con sào lên bờ cùng tôi.
- Từ mai ngày nào chị cũng chờ đưa Công sang sông miễn phí. Đừng có ngại.
“Đừng có ngại” thật dịu dàng ấm áp. Giây lát ánh mắt chị Trúc gọi về những ngày lớp ba lớp bốn. Tôi rán lại cụng trán chị Trúc.
- Thật nhé.
Chị Trúc cười búng mũi tôi.
- Ai thèm đùa chứ. Chỉ sợ có xe đạp Công quên lối này.
Tôi ép chị Trúc ngoéo tay:
- Có xe đạp cũng cứ luỵ đò. Còn không tin thì ngoéo tay cam kết.
Phải nhiều tháng sau đó tôi mới thú thật với chị Trúc rằng cú ngoéo tay buổi trưa ấy chỉ là ngoéo đại thôi. Vào đầu kỳ hai lớp mười một nếu mẹ vay được tiền mua xe đạp thì có thằng còn lâu mới nhớ đến ngoéo tay. Còn chị Trúc cười, dừng đò giữa dòng. Ánh mắt chị gọi tôi lại cùng ngồi trên bệ khoang lái. Như là giao ước, mỗi khi tôi đi học về sớm gặp lúc bến vắng chị Trúc nhanh thoắt tay chèo và bất ngờ dừng đò. Chị em ngồi trên khoang lái chuyện lan man. Có khi chị em im lặng nhìn sông nước bờ bãi.
- Cho qua cú ngoéo ấy nhé - Tôi nhắc lại lời thú nhận lúc con đò đang quay mũi.
- Thật thà thú nhận thì cho qua một nửa. Nửa còn lại phải chờ xem.
- Sao chỉ một nửa? Còn chờ xem gì chứ?
Chị Trúc chỉ mảng hoa súng trước mũi con đò:
- Cậu tú giỏi đoán lắm cơ mà. Mảng hoa súng trôi bến bờ lau thì Công phải trả lời. Bắt đầu đi.
Tôi đoán ngay rằng vì thế này, vì thế kia. Không lời đoán nào được chị Trúc gật đầu. Mảng hoa súng sắp trôi qua bờ lau. Tôi liều đoán lần chót.
- Vì nửa chưa thật tin, nửa thích nặng mình nên giữ lại một nửa. Thì cứ giữ cho khoẻ.
Chị Trúc cười, bờ vai ngả dựa vào tôi.
- Thì ra cậu tú cũng “triệu phú tự ái” Từ mai Công nghỉ hè rồi. Công mang lên những gì mà con đò đằm hơn mọi ngày. Cậu tú đột xuất chậm hiểu nên tội gì không giữ lại. Mà giữ lại một nửa là qúa ít đấy.
Bị chê là chậm hiểu, tự ái nhưng được vui được khâm phục cô lái đò thông minh hóm hỉnh. Tôi kết thúc năm học chẳng đến nỗi nào. Bốn đứa cùng làng, đứa ở phố huyện với anh chị phải thi lại hai môn, hai đứa “con nhà” đi xe máy bị lưu ban. Tôi nghĩ ra trò đùa, đặt cặp sách lên đùi chị Trúc, khẽ ấn tay:
- Trời thương đứa quanh năm mưa nắng luỵ đò nên ép thầy cô cho nó đạt trung bình khá. Ông trời còn báo mộng dặn nó còn chỉ được lấy phần trung, phần khá tặng cô lái đò bến Tre. Như thế chưa đủ xí xóa nửa cú ngoéo tay thì chị cứ giữ cả. Xóa nửa để nửa thì cùng cô đơn, tội nghiệp hai nửa.
Chị Trúc cười bằng đôi mắt, mái đầu hơi lả tựa bờ vai và bàn tay chị ấp lên bàn tay tôi trên mặt chiếc cặp học trò. Giây lát im lặng tôi nhận ra nơi chị Trúc, từ mái tóc, khắp cơ thể toả ra mùi thơm lá cây vọng cách. Cây vọng cách mọc ở bờ sông, trồng ở cầu ao bốn mùa xanh rợp. Người làng tôi hay dùng lá vọng cách để xoa tắm gội đầu. Chiếc lá nhỏ hình quân “cơ” để lại mùi thơm quyến rũ, không lẫn với bất kỳ thứ mỹ phẩm nào. Tuổi lớp năm lớp sáu tôi vít cành cho chị Trúc hái hoa tắm. Đã xa rồi thuở tắm chung, ôm nhau té nước ngụp lặn, xoa chung nẹn lá xanh xanh... Xa thật rồi nhưng thảng hoặc lại như nhìn thấy cầm gửi được mùi thơm chiếc lá hình quân cơ...
Bất ngờ có tiếng gọi đò. Có gì như miễn cưỡng, chị Trúc đứng lên vồi vội tay chèo. Tôi ôm cặp sách đứng trên mũi con đò nhìn vu vơ. Tầm nhìn thế nào cũng không còn xa tôi mới sực nhớ con đò cắm sào giữa dòng từ lúc vàng mặt trời cho đến lúc này bóng tối đang trờ tới. Bâng khuâng tôi nhìn xuống dòng sông và phát hiện ra một điều thú vị: Khi bóng đêm ập xuống dòng sông chỉ hơi tối lại rồi sáng lên bàng bạc uốn lượn như dải lụa bay bay đến vô cùng. Hình như mỗi khi yên ả dòng sông tự chiếu sáng bằng mênh mang sóng nước bờ bãi.
3.
Chuyện phong thanh hóa ra là có thật. Có người có xe máy hẳn hoi mà vẫn thích luỵ đò. Người ấy là anh Bảo, phó chủ tịch xã. “Anh ấy đi công việc. Xe máy hỏng, đi lối này cho tiện”. Đấy là lời chị Trúc. Tôi không ngố đến nỗi tin xe máy hỏng những ngần ấy tháng.
Thứ bảy cuối giờ sinh hoạt lớp, trời đổ mưa rào. Cơn mưa không lớn nhưng bong bóng phập phồng. Có gì thúc ép tôi trấn mưa đi. Tối mờ dốc bến tôi mới cất tiếng gọi đò. Con đò cách bờ đúng một bước chân và nụ cười hồng sáng đón tôi lên. Bến vắng. Và chị Trúc chầm chậm tay chèo. Đấy là tính hiệu báo trước con đò sẽ cắm sào giữa dòng. Tôi không đủ kiên nhẫn chờ. Tôi bước mạnh từ trên mũi xuống lòng đò sấn lại khoang lái. Con đò tròng trành. Chị Trúc nụ chèo giữ thăng bằng con đò. Kệ chị với mái chèo.
- Từ mai em không hỏi nữa. Mà chị cũng thôi đi nhé.
Tay chèo khựng lỡ nhịp, chị Trúc ngơ ngác:
- Hỏi gì thôi gì lạ vậy Công?
Tôi xốc lại quai chiếc cặp trật khỏi vai vì bước chân mạnh vội.
- Lạ gì chứ! Đơn giản là em không muốn nghe những lời nói khác đi sự thật đã và đang đến. Thế thôi.
Chị Trúc nhìn quanh hai phía bến. Có gì nghe như tiếng thở dài lẫn vào tiếng mái chèo khoả vội. Đến giữa sông chị Trúc gác chèo rút sào cắm đò.
- Chị xin lỗi Công. Chẳng cứ anh Bảo mà còn khối người giả vờ có việc qua sông. Người ta ngỏ lời nhưng chị chưa nhận lời ai. Nhận lời ai chị sẽ vần ý Công.
- Thật nhé.
- Chị đã nói dối Công bao giờ đâu.
Tôi gỡ cặp sách huơ trước mặt chị Trúc:
- Ê xì bà chị! Thế ai vừa xin lỗi “xe máy hỏng”. Vỡ tổ con chuồn chuồn nhé.
Chị Trúc vẫn đăm đăm nhìn về phía hạ hữu. Có một mảng hoa súng lững lờ trôi.
- Công này.
- Gì a - Tôi vội chia tay mảng hoa súng có chùm nụ hoa phải ba bốn hôm nữa mới nở.
- Chị nghĩ, ước gì... Mà thôi
Tôi kịp giữ bàn tay chị Trúc toan nhổ con sào. Con trai mười sáu tuổi chưa thể là trai tráng nhưng đã bỏ lại phía sau rất nhiều thói tính trẻ con, đã ít nhiều biết rung động và mất ngủ, biết nên nói gì và nói vào lúc nào với người khác giới... Mảng hoa súng đã trôi khỏi tầm mắt. Tôi nhìn dòng sông điểm mắt chị Trúc đang đăm đăm. Chị Trúc khẽ cựa bàn tay nhưng tôi không buông.
- Chị..Trúc.. Đừng nhận lời ai nhé.
- Vì sao đừng?
- Không biết. Nhưng xin chị đừng...
Chị thề đi.
- Chị hiểu rồi. Nhưng không thể... Không được đâu.
Những lời tiếp rối lặng đứt đoạn lẫn vào tiếng sóng tiếng gió. Nhưng tôi hiểu hết. Tôi rút lên con sào cắm sâu vớ lấy mái chèo. Từ năm lớp mười chỉ sau mấy bận chị Trúc làm cô giáo tôi đã thành thục tay chèo. Tôi hùng hục tay chèo như chạy trốn cuộc rượt đuổi của bọn thuỷ tặc. Con đò áp bờ. Tôi buông trả mái chèo phóc lên bờ.
- Công. Chờ chị...
Tiếng chị Trúc nghèn nghẹn đuổi theo. Tôi lặng thinh rảo bước. Tôi nhớ đến lời rủ trọ học của thằng bạn cùng lớp. Tôi đã từ chối nhưng ngày mai nói lại cũng chẳng sao. Nếu chỗ ấy hết tôi tìm chỗ khác. Lời ánh mắt bảo tôi đừng trọ học thì lời của miệng buộc tôi nghĩ khác đi. Tôi nghĩ lung tung... Khi tâm tưởng vừa trở về với bến đò một buổi chiều có cơn mưa bất chợt thì phía sau dộc lên tiếng bước chân vồi vội. Tôi bươn bước dài.
- Công này - Chị Trúc vượt lên và dừng lại - Ngày mai chủ nhật Công được nghĩ chứ?
Đang cơn nghĩ lung tôi nói đại:
- Từ mai không có chủ nhật nào nữa. Học ràn. Có khi phải ở trọ để học.
- Ừ nhỉ. Chị quên Công đã sang kỳ hai năm cuối. Sắp thành cậu tú rồi nhé.
- Có là tú gì thì cũng chẳng bằng ai.
- Công thì. Có chuyện muốn nói thì Công vội lên bờ. Hay là Công...
Loá lên ánh đèn xe máy. Chị Trúc bối rối đứt lời. Người xe kia là Bảo chứ còn ai khác! Tôi chào chị, xốc cặp sách rảo bước.
4.
Đi học nghề tôi ít gặp chị Trúc. Nguyên do vì việc học, cũng còn vì muốn cho nhạt đi mớ ý nghĩ lung tung. Có một lần tôi nhận được thư chị Trúc báo tin lấy chồng. Đoạn cuối lá thư ngắn có vài dòng nét chữ hơi khác đi “Ngày cưới chưa định nhưng nội trong tháng tới. Mà tháng này, tháng tới thì Công bận học nhỉ...” Tôi cất lá thư, tự hào là gã trai có bản lĩnh. Tôi không vui và không buồn. Có những kỷ niệm với chị Trúc với bến đò tre ùa về rồi ào đi vô cùng nhanh thoắt không đủ sức gây mệt cái đầu gã trai bản lĩnh. Chỉ có điều tôi khâm phục chị Trúc đã gửi trọn lời nguyền. Sau ngày bác Lân mất chị vẫn giữ việc đò giang. Và hơn thế “Chỉ làm vợ người đàn ông nào về sống với bến sông này”. Đây là lời chị Trúc nói với tôi trên con đò cắm sào giữa dòng sông chiều nước ròng. Rồi cơn mưa bất chợt. Chị Trúc nhanh tay chèo, thủ thỉ khuyên tôi gắng học cho giỏi thi cho đỗ thuận bước đường đời...
Với Bảo, tôi nể ông anh họ đến vài đêm khó ngủ. Bảo là con trai duy nhất của ông trưởng họ dòng họ Tô danh tiếng. Bảo là cán bộ hàng chủ chốt trẻ nhất làng, có tên trong bảng “nguồn” của huyện. Bảo đi ở rể ắt không tránh khỏi điều này tiếng nọ. Dù dư luận thế nào và có đánh đổi cả “ghế” Bảo vẫn được nhiều hơn mất. Chị Trúc nức tiếng nết na, đẹp nhường ấy cơ mà.
* * *
Chiều muộn. Tôi xuống đến lưng dốc bến vừa lúc con đò áp bờ tiễn khách. Vẫn như mọi lần nụ cười và ánh mắt chị Trúc dắt tôi xuống đò. Tôi càng tiếc cái kế hoạch tôi chuẩn bị trong đêm trước ngày về. Tôi sẽ bịt mũi đổi giọng gọi đò rồi nấp vào bờ tre. Con đò áp bờ, chị Trúc nụ chèo dướn cặp mi cong đôi mắt đen thẳm nhìn lên dốc bến, ngọt lời mời khách sang sông. Chờ khi chị chau mày quay mũi con đò tôi mới “ơi lên” chạy ra.
Tôi đứng trên khoang mũi mong con đò chóng đến giữa dòng. Trong đợt đi thực tập tôi làm thêm được món tiền. Tôi chia đôi, nửa mua quà biếu mẹ, nửa mua tặng phẩm đám cưới. Tháng trước ngày chín chị Trúc là cô dâu, tôi không về được. Dòng sông Lăng sẽ là chứng nhận món quà trao muộn.
Lướt ra được vào tầm sào chị Trúc buông thông mái chèo. Giây lát ngơ ngác tôi sấn lại trước mặt chị Trúc. Con đò tròng trành. Tôi mặc kệ con đò.
- Chị Trúc. Làm sao thế?
Chị Trúc đưa tay gạt lọn tóc gió thổi xoà bên má.
- Không làm sao. Chỉ không có ngày cưới.
- Bảo không chịu ở rể, từ hôn.
- Còn tệ hơn thế. Chị không dấu Công nhưng để hôm khác.
Tôi không đủ bình tĩnh để chờ hôm khác. Cả khi chị Trúc đỏ hoe đôi mắt tôi vẫn không thôi hỏi ép. Chị Trúc níu vai tôi ngồi trên bệ khoang lái. đăm đăm nhìn dòng sông. Hình như dòng sông đã giúp chị kìm những giọt nước mắt.
- Năm hôm trước ngày cưới, cũng lúc chiều muộn thế này có cô gái qua đò. Lên nửa chừng dốc bến cô ta quay lại. Thấy sự khác thường chị hỏi chuyện. Cô ta kể có người yêu tên là Bảo người làng Quảng. Sau buổi tối cô báo tin có thai hắn ta mất hút. Liều lòng sang sông tìm đến nhà anh ta nhưng rồi cô ta vừa sợ vừa xấu hổ đành quay lại. Chị mời cô ta vào nhà nói chuyện rồi phóng xe đến nhà Bảo. Sắp đến ngã ba thì gặp hắn. Đến bây giờ chị vẫn không biết cái gì đã giúp kìm được cái tát vào mặt thằng Sở Khanh, bình tĩnh đi cùng hắn. Bước lên hiên chị bảo hắn, tôi đã là một giờ anh đừng để có đứa trẻ thứ hai phải nằm bờ tre. Vợ con anh đang ở trong nhà tôi. Anh vào gặp cô ấy thu xếp cho êm thấm. Nếu trái lời tôi sẽ hô gọi dân làng.
Chị Trúc vịn mái chèo đứng lên. Từ lúc nào con đò quay ngang sắp dạt vào bờ lau. Trở hướng con đò rồi chị Trúc mới sang tay chèo cho tôi và ngồi xuống xà ngang lòng đò. Tôi cầm chèo mắt không rời khỏi chị Trúc. Ngồi giữa lòng đò không phải là cô gái đang đau nỗi hận tình mà là nàng tiên nữ thuỷ cung lên sống cõi người. Nàng làm cho rộn vui bến đò lối hẻo, khuya sớm nắng mưa không ai phải lỡ độ đường. Nàng âm thầm gánh chịu lừa lọc nhường chồng cứu một kiếp người... Giờ tiên nữ ngồi giữa lòng đò buồn ắp đầy đôi mắt. Tôi lỡ mấy nhịp chèo. Con đò đằm lạ.
Ngày còn rất mảnh. Chỉ mấy nhịp chèo nữa là con đò đến “điểm neo học trò”. Đấy là lời chị Trúc nói ngày nào. Mỗi khi tôi tan học về sớm hoặc ra chơi gặp lúc bến vắng con đò cắm sào giữa dòng sông rộng. Và chuyện chị chuyện em.
- Hình như có khách- Chị Trúc thảng thốt.
Không phải hình như mà rất rõ tiếng gọi đò. Tôi nụ chèo một tay, một tay mở túi xách lấy gói quà bọc giấy hồng. Tôi đứng thẳng người ném gói quà xuống sông. Một tiếng bụp vọt lên mấy tia nước.
- Công...Chị có lỗi. Chị.
Tôi chặn lời chị Trúc.
- Không riêng chị buồn hận. Chuyện đã qua cho trôi tuột đi.
Tôi bạt mạnh mái chèo hướng mũi con đò về bến.
5.
Đấy là buổi tối cuối mùa hạ. Tôi ra chào chị Trúc để sáng mai ngược sông Lăng. Nơi tôi đến nhận việc là trạm bơm Bắc Lăng cách bến đò Tre hơn một trăm cây số bờ đê về phía thượng lưu. Tôi đã thực tập ở đấy hai tháng. Trạm bơm hạng trung đời “tám mươi”, lo việc nước non cho bảy xã “rốn nước” vùng trũng. Tôi thế chỗ bác thợ về hưu.
Bến vắng. Con đò cắm sào không đúng “điểm neo học trò” nhưng vừa tầm cho bờ tre rì rào vọng hoà vào ì oạp sóng vỗ mạn thuyền. Kiểm tra lại độ chắc của con sào, tôi xuống ngồi bên cạnh chị Trúc trên tấm ván giữa lòng đò.
- Lần đầu cắm sào chỗ này. Ngày mai đi, thì phải có điểm đỗ mới chỗ nhớ mới chứ! Phải không chị?
- Công thì. Mà sao vội thế. Hay là Công có hẹn chứ gì. Chắc là xinh lắm. Chúc mừng kép nha.
- Sao là kép?
- Con sào! Chúc mừng công trở thành người thợ. Mừng có người mong đến phải vội vàng. Kép thế.
Cảm giác buồn buồn bên má tôi đưa tay lên chạm phải những sợi tóc bay sang, bay sang mũi lá cây vọng cách dìu dịu quyến rũ. Như là có ý bay sang để tôi cầm được cả lọn tóc. Lọn tóc căng căng rồi chùng lại. Chị Trúc nhích người, bờ vai tựa vào bờ vai tôi.
- Lâu lắm rồi chị mới được thanh thản như lúc này.
- Vâng.
- Sao vâng. Có hẹn thì cứ đi. Nhớ đưa về cho làng chấm điểm nhé. Hứa đi.
Tôi buông trả lọn tóc đang căng ra và thú thật với chị Trúc. Thằng bạn nhỏ như đứa em của chị đã hơn một lần yêu và cả hơn một lần trở thành kỷ niệm cay đắng và ngọt ngào.
- Vì Công hay vì các cô?
- Hoàn toàn vì em. Mối tình đầu đơn phương trở thành nỗi ám ảnh. Còn hơn cả ma ám.
- Lãng mạn qúa nhỉ. Công đơn phương từ khi nào? Người ta là ai? Ở đâu?
Nói nghe nào!
- Không được!
- Sao không?
- Vì không được.
Đằm hơn mũi lá cây từ mái tóc, từ đâu đó nữa. Đột nhiên chị Trúc ôm ghì lấy tôi. Tôi hoang mang mềm oặt đi. Cánh tay chị càng riết róng áp chặt vòng ngực căng mẩy, áp chặt cặp môi nóng thơm. Trong hoang mang lả oặt tôi mơ hồ nhớ ra có một đêm trong mơ tôi được cánh tay riết róng được môi mềm lưỡi ướt ngực căng cuốn ủ trong mùi thơm lá cây vọng cách. Nỗi nhớ mơ hồ xua dẹp hoang mang. Tôi vùng theo cánh tay riết róng, cuồng nhiệt với môi nóng lưỡi mềm. Tôi rúc mặt vào vòng ngực căng rức. Cô gái từng hơn một lần với tôi trong mơ xoài ra trên tấm ván giữa làng đò. Cả một khối nóng thơm quyến rũ, chờ đợi. Tôi sắp ấp lên khối thơm phập phồng thì chị Trúc ngồi lên. Chị thong thả búi lại mái tóc chưa kịp xổ hết.
- Chị đền Công đấy. Không thể vừa lòng. Nhưng không thể khác được. Tha lỗi cho chị. Chị em mình về thôi.
Bàn tay chìa ra và “chị em mình...” nhẹ nhàng mà dứt khoát. Tôi nắm bàn tay chị đứng lên, cúi mặt để chị cài giúp hàng khuy áo bật tung. Chị Trúc bước lên khoang lái, cầm mái chèo khẽ khàng.
- Công rút sào lên đi. Nghe nào.
6.
Một buổi tối xem ti vi tôi vui buồn lẫn lộn. Vui cái tin tuyến huyện lộ mở qua làng tôi, làng nên thị tứ, bến đò tre là điểm bắc cây cầu lớn. Buồn nỗi đường lớn “ăn” hết bờ tre kiêu hùng bến nước với làng cây vọng cách. Tôi chẳng bao giờ còn được cất tiếng gọi đò, chẳng còn được nhanh chậm mái chèo, cắm xuống con sào...
Bất ngờ chị Trúc lên thăm tôi. Mẹ tôi cũng có quà gửi cho, những chùm nhãn vườn nhà. Thế mà đã tròn một mùa quả chín. Cây nhãn lồng góc vườn, chặp này năm ngoái tôi trảy chùm quả mọng mang xuống bến. Đò neo tới khuya.
Anh Từ, trưởng trạm chỉ túi quà vỗ vai tôi nhìn chị Trúc.
- Cô Trúc mang quà “hối lộ” để anh em mình hút cạn nước sông Lăng “bắt về” kỷ niệm. Xin nhường cả cho cậu Công, cô Trúc ạ.
Chị Trúc thoáng đỏ mặt. Tôi lập tức chúc mừng chị Trúc về những điều được biết qua thư của em gái và bạn bè. Trước khi cây cầu bắc qua, người chờ đò bến tre được đền bù công lao ba thế hệ nhọc nhằn đò giang. Chị Trúc được tuyển đi học công nhân giao thông. Còn chưa hết khóa học chị Trúc đã có nơi nhận về. Đó là đội giao thông, trụ sở đang xây trên bến Tre phía làng Vông. Trong lá thư gần nhất cô em tôi tiết lộ chị Trúc đã đưa anh đội trưởng đến trình diện mẹ.
- Chị nhận hết những lời chúc mừng- Chị Trúc nói, nhìn xoáy vào tôi - Còn Công, sao lâu lâu chưa về.
Tôi nói dại:
- Vì còn thua chị. Chưa có người đưa về cho chị “chấm điểm” nên chưa dám về. Còn vì hết lũ đến hạn. Rồi mưa.
- Công thì...Chỉ thoáng ấp úng chị Trúc dứt khoát - Gắng như chị bảo đi nhé. Chị lên để Công đừng lười về nữa, hiểu chưa.
Một phần ngày còn lại đằng đẵng. Máy nghĩ ca, tôi nhao lên bờ đê. Sông Lăng vừa qua cơn lũ lớn đang êm lại dòng trôi. Có một chiều sau lũ chị Trúc cắm sào “điểm neo học trò”
- Có chuyện gì thế Công?
Anh Từ ngồi xuống bên cạnh tôi. Liền hai cái vỗ vai thay cho việc nhắc lại câu hỏi dồn. Tôi im lặng.
Dòng sông đang êm lại cho tôi hối hả những vớt lên. Đấy là buổi sáng trời mưa đường trơn mẹ đưa tôi đến trường. Hai mẹ con vừa ra ngõ thì gặp chị Trúc. Chị chào mẹ, cầm tay tôi: “Cô cứ về đi họp. Để cháu đưa em đến trường. Hai đứa cùng lối mà...”. Nhà tôi ở ven đường, chị Trúc dưới bến lên phải qua ngõ nhà tôi. Đi bên nhau, chị Trúc thủ thỉ: “Từ mai...nhé”. “Từ mai...như một mệnh lệnh, tôi chờ đi cùng chị suốt từ năm tôi lớp một đến năm lớp chín chị Trúc thôi học. Đang xuôi về kia chiếc cặp đựng mấy cục đá, chiếc thước kẻ vót nhọn hai đầu. Đấy là “vũ khí” để tôi “chiến đấu” với mấy đứa hay hát vè chọc. Từ năm lớp ba tôi đã là đối tượng của bài vè. “Vè vẻ vè ve. Vợ to chồng bé. Lẳng lặng mà nghe...” Một lần cuộc chiến diễn ra ngoài bãi thả trâu. Chị Trúc bất ngờ lao đến kéo tôi vào lều vó lấy khăn buộc tóc lau máu mũi “Từ mai kệ chúng nó...”. “Chị thích vè à..”. “Vè vè gió bay. Còn hơn là đánh nhau...”
...Tôi “vớt” lên bến vắng, con nước lửng...Tôi vớt lên mảnh trăng non. “Gắng mà học hành rồi đi đây đó Công ạ...” “Còn chị...”. “Rồi Công sẽ hiểu... Đang trôi về cho tôi vớt lên... Tôi vớt lên nhiều lắm những tháng ngày đã qua. Tôi vớt lên được cả con đò cắm sào giữa dòng, vớt lên cả lượm gió thổi bay lọn tóc thơm lựng mùi lá cây vọng cách... Tôi “vớt” lên được nhiều lắm...chỉ không sao “vớt” lên được gói giấy hồng. Gói giấy hồng lềnh bềnh khi xa khi gần. Một ảo ảnh buốt nhói. Không chịu nổi, tôi đứng phắt lên bươn chưa trọn bước, anh Từ kéo phắt lại ấn xoay mặt ra phía dòng sông.
- Tao tin sớm muộn chú mày sẽ hiểu ra. Cho dù đã thế nào thì Trúc với mày vẫn ở bến Tre. Mãi mãi bến Tre là bắt đầu và kết thúc. Ai cố vượt qua, cố khác đi người ấy sẽ mất nhiều hơn được. Ở điểm này Trúc thông minh hơn mày. Cho nên Trúc thanh thản và sẽ có cuộc sống rất đẹp. Cứ chờ xem.
Có lẽ anh Từ đúng. Chị Trúc, hơn cả sự trông chờ, tôi cầu nguyện.
T.V.T




