Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 21/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Bình minh Vijaya

 “Khi thần giết con rồng lớn đầu tiên

Và lừa được những tên quỷ quái

Là cao xanh, là bình minh và mặt trời sống lại

Và khi đó không còn nữa kẻ thù”1

 

“Maharaja sẽ là một chiến binh vĩ đại của Indra!”

Vị Rsy ở Kalan nhìn vào mắt quốc vương Champa, ôn tồn nói những lời huyễn diệu tựa như những lời thốt ra từ trên đỉnh Meru. Tự sâu thẳm tâm trí vị đạo sỹ Bà-la-môn, những hình dung xa xôi về sự thịnh vượng của một vương quốc đang xô chảy bao nhiêu tín điều thô ráp. Thần Siva nắm lấy tóc quốc vương họ Chế, thổi vào đấy một ngọn lửa mang hình thanh kiếm.

Chế Bồng Nga hiên ngang đứng trước đền thờ, một tay chỉ lên cao, mắt hướng lên vòm tháp đặc sẫm bóng tối và thấy mình – một Maharaja cưỡi trên ngọn sóng viễn chinh đến những vùng đất hứa, nơi ngài có thể thỏa mãn sự tham lam của một đế vương thèm khát chiến công.

- Ta có sức mạnh của các vị thần, Indra sinh ra ta, Siva sẽ chở che ta. Ta là vua của các vị vua trong thế giới này! Ta là Maharajadhiraja2.

Ngài trở về cung điện chuẩn bị cho những cuộc tiến công mới vào lãnh thổ Đại Việt để cố chứng minh chân lí đầy chết chóc và điêu tàn kia của lịch sử.

* * *

Buổi sáng ở kinh đô Vijaya3

La Ngai đầu nặng trĩu chuyện quốc sự, chậm rãi đi vào hoàng cung mịt mùng sương sớm. Phía đông một con mắt đỏ huyễn hoặc soi lên bước chân chinh tướng những vết hằn âu lo nặng nhọc. Đám lính cận vệ ở đại cung cúi đầu lễ phép chào viên đại tướng. Quốc vương đã dậy, ngài ngồi bên một chiếc bàn trong khuôn viên đình tạ, mắt đăm đăm nhìn ra bãi thao quân. Ngài thích được ngắm nhìn những chiến binh của mình thi diễn múa gươm, bắn tên, cưỡi voi trước bãi tập. Ngài vỗ tay thán phục trước những ngón võ điêu tuyệt, những đường gươm ngọt lưỡi. Từng đoàn xe trâu, xe ngựa xếp hàng, từng chuồng voi, chuồng hổ im lìm chực chờ trống lệnh và chỉ cần ngài hô một tiếng tất cả sẽ đứng dậy, biến thành một cơn gió chướng gai góc. Quốc vương nắm trong tay sức mạnh vô địch của một dũng sĩ được sự trợ giúp của thần linh và ngài đã tin như thế.

La Ngai thi lễ trước Maharaja rồi ngồi bên hầu chuyện. Khuôn mặt quốc vương hiện rõ triệu chứng thiếu ngủ, ẩn khuất đằng sau đôi mắt trũng anh tướng. La Ngai ngại phải đối diện với Maharaja khi ngài buồn tẻ và bực bội. Đặc điểm đáng sợ lớn nhất có lẽ là ở bộ râu hùm xồm xoàm rễ tre, sắc nhọn như lưỡi gươm của ngài. Quốc vương hôm nay mặc áo bào bằng lụa màu xanh, trên đính hoa bằng vàng tinh xảo. Tấm áo được cài lại bằng những dải lụa nhỏ. Ở cổ ngài lộ ra tấm áo lót dệt bằng cây cát bối nguyên màu trắng, sợi mịn và được viền tua bằng vàng. Một chiếc đai nạm vàng trang trí những vòng hoa nai ở ngang lưng, bên trái dắt một thanh gươm nhỏ cũng nạm vàng ánh lên vẻ uy nghi của một đấng quân vương thích cuộc sống trận mạc. Ngài đang sờ tay lên bộ giáp trụ đang treo trên giá đỡ. Mỗi khi ra trận Chế Bồng Nga thích dùng bộ giáp an toàn này. Ở ngài tụ hội được sự giàu có, phồn hoa nhất của một vương quốc phảng phất sự huy hoàng không chỉ là khoảnh khắc.

La Ngai cúi đầu trước quốc vương hỏi:

“Thưa Maharaja vĩ đại, các chiến binh của vương quốc lại tiếp tục chuẩn bị chiến đấu trong nay mai?”

Chế Bồng Nga tỏ vẻ khó chịu trước câu hỏi trái ý nhưng rồi điềm nhiên trả lời: “Hỡi senapati4 đáng mến của ta, cuộc đời ta đã nguyện nằm trên con rắn và nâng thế giới bằng bốn cánh tay. Cách duy nhất để tái lập lại trật tự của một vương quốc thịnh vượng phải là những cuộc chiến mang lại nhiều của cải và danh dự. Một vị vua và một quân đội ăn rồi chỉ biết cưỡi trên bụng đàn bà là một lũ chó điên của Siva”.

“Nhưng chúng ta đã viễn chinh sáu lần ra đất Đại Việt. Thắng cũng có nhưng thua cũng không ít. Năm nay vương quốc chưa thật sự sung mãn để có thể tiến hành chiến tranh thưa Maharaja ”.

Quốc vương cười nhạt: “Ngươi quên là ta đã đặt chân đến Thăng Long bốn lần rồi ư? Vào Thăng Long dễ như đi chợ, trong khi một vị vua Trần bỏ mạng ở đất Vijaya đây. Ta đã chuẩn bị tất cả rồi. Tháng Pilan tha pluh5 ta sẽ xuất quân chinh chiến. Ta chỉ có thể trở về khi đã đốt trụi được thành Thăng Long.”

La Ngai im lặng. Cuộc chiến tranh với Đại Việt kéo dài gần 30 năm bất phân thắng bại khiến vương quốc Champa không khi nào được bình yên. Chế Bồng Nga quá coi trọng sự cướp phá hơn là chiếm đóng nên những cuộc viễn chinh chỉ mang về của cải hơn là sự tái xác lập sự cường thịnh của Champa trước đây. La Ngai buột miệng: “Đạo quân chúng ta sẽ ở lại Thăng Long chứ thưa Maharaja vĩ đại?”

Chế Bồng Nga vuốt râu hả hê: “Ta sẽ chiến thắng, sẽ cướp tất cả để biến Vijaya thành một Thăng Long đô hội như thế có phải thích hơn không. Mau về chuẩn bị đi La Ngai, ngươi sẽ là một agrasenapati6 của ta đấy! Hãy tận hưởng con đàn bà của ngươi đi trước khi chinh chiến xa xôi”

* * *

La Ngai một mình cưỡi ngựa đi ra biển. Nắng sáng vẫn còn trong, hắt nhẹ những tia nắng lên đáy mắt chàng. La Ngai đứng ở một mỏm đá gần kề sát biển, sóng vỗ vào đá, bọt tung lên trắng xóa dưới chân tráng sĩ. Chàng trầm ngâm, đôi mắt đăm chiêu dõi theo những con sóng hung dữ đang tiến vào bờ. Những con sóng - những lớp chiến binh cuồn cuộn nộ khí đang xung trận, tiến công ồ ạt vào đối phương - bãi cát vàng rực trong nắng sớm. Sóng vẫn cứ lao vào bờ, hết đợt này đến đợt khác, tan rồi hợp, hợp rồi tan, hung dữ rồi lắng dịu nhưng vẫn cứ tiến mãi vào như bị điều khiển bởi một mệnh lệnh bất khả kháng của một đấng tối cao ẩn dưới đáy sâu của đại dương. Có lẽ đâu sóng là những đạo quân Champa, mỗi bọt sóng là một chiến binh, bờ cát dài là Đại Việt… Nghĩ đến đó chàng thấy nhói trong lòng. La Ngai là một chiến binh Champa, ngày mai chàng xuất chinh. Hôm nay chàng đứng trước biển, chỉ để nghe… một lời minh triết của quá khứ nghìn cội nằm đâu đó dưới những con sóng bạc đầu thâm niệm.

* * *

Indra của cải nhiều vô cùng

hãy ban cho chúng tôi ngàn ngàn bò ngựa đẹp

Indra có sức mạnh vô cùng

hãy giúp chúng tôi dẹp tan phường quấy rối7

Những chiến binh Champa cầu nguyện trước khi xuất quân tại bãi thao diễn. Họ đọc nhại theo lời vị Rsy đến từ đền thờ sau mỗi câu nói của ông ta. Lời nguyện cầu phả vào không trung, rừng rực ngọn lửa muốn thiêu rụi những đám mây xốp. Bầu trời thắc thỏm nắng mai quang đãng tự dưng tối sầm. “Hãy giúp chúng tôi dẹp tan phường quấy rối. Hãy loại cho hết quân làm hại chúng tôi”. Rsy sậm mặt, những chiến binh đứng thộn ra. Chế Bồng Nga thấy điềm quái liền băng băng đi lên đài cao định bụng an lòng tướng sĩ:

- Vị vua yếu cần phải giữ hòa bình, còn vị vua mạnh thì phải tiến hành chiến tranh. Ta là một vị vua thừa lệnh của các vị thần, ta có đủ sức mạnh để chiến thắng. Hãy nâng gươm mình lên đi hỡi các chiến binh, vinh quang đang chờ ta phía trước!

Họ Chế rút gươm ra khua lên trời xả một nhát vào những đám mây u ám đang chực bám trên vinh quang của người.

Tùng… tùng… tùng…

Brù… brù… brù…

Tù và, kèn trống nổi lên, bầu trời vẫn tối, đám chiến binh giậm chân múa gươm, bụi tung mịt mù.

Hôm ấy, kinh đô Vijaya ngập đầy tiếng khóc của những người đàn bà.

Tùng… tùng… tùng…

Brù… brù… brù…

Những lưỡi gươm, ngọn giáo lăm lăm hành quân đi ra phía biển. Sóng gầm thét dưới những mái dầm.

Chế Bồng Nga và đoàn quân viễn chinh lưu hình trên mặt nước, soi lên đó sự vũ dũng của một dân tộc tiến lên những đỉnh son lịch sử.

* * *

Tháng 10 năm Kỉ Tỵ (1389), Chế Bồng Nga mang quân đánh Thanh Hóa, đoàn quân viễn chinh chủ yếu là thủy quân từ biển từ từ tiến vào hướng Cổ Vô.

Tin thám báo quân Trần cho biết, giặc Chiêm Thành di chuyển chủ yếu bằng thuyền từ biển vào, men theo sông, đi đến đâu vung gươm, múa kiếm, đốt nhà, cướp của đến đó. Dân vùng xứ Thanh - Nghệ rơi vào cảnh lầm than, tang tóc, phần lớn phải chạy lên núi trú ẩn để tránh giặc, quan binh đồn trú đánh không lại, kẻ chết trận, người giữ đồn lũy nơm nớp lo sợ.

Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông sai Lê Quý Ly8 lãnh chức Hải Tây đô thống chế đi dẹp giặc. Quý Ly cầm cự được hai mươi ngày thì mắc kế, ba quân đại bại, có tới bảy mươi tướng chết trận vì vậy họ Lê vội rút về Thăng Long chỉ để vài tùy tướng giữ trận. Thượng hoàng mất ăn mất ngủ mấy đêm liền, đã bốn lần vị vua già bị quân Chế Bồng Nga làm đảo điên cơ đồ. Thượng hoàng và Chế Bồng Nga là hai vị vua của hai nước đều lên ngôi cùng một khoảng thời gian và cùng đối địch với nhau gần ba mươi năm chinh chiến liên miên. Trần Nghệ Tông bản tính nhu nhược, lại không có tài thao lược an bang nên để chuyện quốc sự bị ngoại thích lũng đoạn. Thượng hoàng biết mình già yếu nên chỉ trông chờ vào chư tướng hậu sinh mà đứng đầu là Lê Quý Ly. Cơ nghiệp nhà Trần đến chỗ suy vi, Nghệ Tông như ngọn đèn leo lắt trước gió. Bởi vậy, mỗi lần giặc Chiêm ra, Nghệ Tông hoang mang lắm, sợ phải rơi vào cái họa sát thân trong chiến nạn mà em mình là vua Trần Duệ Tông anh tài cũng phải trả giá. Thượng hoàng ngày vò võ, đêm không yên giấc không biết phải làm gì để đưa đất nước qua cơn tai ương vạ kiếp này. Vị vua già truyền chỉ chọn trong đám tướng tá triều đình có ai đủ tài thì hãy ra ngăn giặc. Chiếu ban đã lâu mà sân chầu vẫn chưa thấy một tướng nào đủ tài ra lãnh nhiệm. Nghệ Tông nhìn lên chiếc ngai lắc đầu ngao ngán: “Trẫm không giữ nổi cơ đồ nữa rồi”. Nói xong nước mắt giàn giụa, rồi ngài quỳ xuống đất, mắt hướng về tiên miếu cầu khấn: “Xin liệt tổ liệt tông các tiên vương, hãy cho con một chút hi vọng, giang sơn không thể để tan hoang thế này”. Thượng hoàng vừa khấn vừa dập đầu xuống đất, máu rươm đầy trán.

Đêm ấy, Thượng hoàng mệt mỏi ngủ bệt giữa điện chầu. Ngài mơ thấy mình đi vào một rừng trúc, xung quanh mây trắng tụ đầy. Ngài bắt gặp một thiền sư già đang tĩnh tọa trên ngọn trúc, Nghệ Tông thấy dung mạo lạ thường tôn kính quỳ xuống thi lễ. Thi lễ xong Thượng hoàng định bỏ đi. Thiền sư khi ấy mới cười khà, nói rằng: “Ngươi đang sầu khổ vì việc nước, cái lo ấy đáng khen. Hiềm một nỗi là ngươi bất tài quá nên mới để cơ sự ra thế này. Ta đã lên cung trời Đao Lợi rồi nhưng nhìn cảnh nước không yên. Ta biết rằng trong muôn người phò ngươi vẫn không thiếu hổ tướng đâu. Ngày mai ai gặp ngươi trước tiên thì đó chính là hổ tướng vậy. Ngươi liệu mà làm tròn bổn phận, đây là lần cuối cùng mệnh trời phò trợ ngươi”. Nói xong thì thiền sư biến mất. Thượng hoàng ngây người ra… miên man.

Nghệ Tông tỉnh giấc vừa lúc canh năm. Ngài đi ra phía cửa đông Tử Cấm Thành thì có một vị tướng mang giáp quân Long Tiệp đang gác cửa chạy tới yết kiến: “Thưa, Thượng hoàng đi đâu giờ này?”. Vị Điện tiền chỉ huy sứ trẻ măng, mặt mày cương nghị khom mình trước Thượng hoàng, sương khuya còn bám đầy trên giáp trụ. Lúc vị tướng đứng thẳng người, thân hình cao lớn, mạnh mẽ, mắt sáng như sao, chân mày rậm mà thanh, cả thân hình toát lên vẻ đĩnh đạc, anh tướng. Thượng hoàng mới hỏi: “Khanh đây tên là gì?”. “Thưa Thượng hoàng, thần tên là Trần Khát Chân, phụ trách cấm binh ở khu vực này”. “Khanh có sợ đánh giặc không?”. “Liệt tổ của thần là tướng quân Trần Bình Trọng thà bị rơi đầu còn hơn là theo bọn giặc Thát. Thần là bậc hậu sinh không lí gì lại làm hoen danh tiên tổ. Thần xin nguyện được ra sa trường để phụng sự vương nghiệp”.

Thượng hoàng mặt mày rạng rỡ, vội đến nắm lấy tay Trần Khát Chân nói vang động Tử Cấm Thành: “Hổ tướng của ta đây rồi! Hổ tướng của ta đây rồi!”

Khi ấy Trần Khát Chân mới chỉ 19 tuổi, một võ tướng mạt kỳ dòng dõi nhà Trần đang cố chấn hưng hào khí Đông A - một thời lẫy lừng trận mạc.

* * *

Sáng hôm sau, Trần Khát Chân lên ngựa vào thành. Mưa bay trên những mái nhà cổ, thấm ướt áo bào tráng sĩ. Đội quân Long Tiệp đã xếp sẵn ở cửa Nam. Vị tướng trẻ quỳ xuống bái yết Thượng hoàng. Trần Nghệ Tông run run nắm lấy tay, đặt vào đó niềm hy vọng lớn lao: “Giang sơn nhờ cả vào tướng quân đây. Đừng để hào khí Đông A của chúng ta lụn bại!”. Trần Nghệ Tông quay đi chua xót rỉ lệ ra khóe mắt, vua tôi từ biệt mà lòng trí buồn bã, rối bời. Đích thân Thượng hoàng đánh trống tiễn quân. Con rồng ở điện Thiên An chuyển mình, phà một luồng hưng khí vào mạch đất đã ngã màu xám.

Trần Khát Chân thét vang: “Quyết lấy máu tế xã tắc, theo chính đạo mà phá cường địch, đem lấy thái bình cho muôn dân. Tiến lên nào hỡi các tráng sĩ thiên đô!”

Đoàn quân Long Tiệp dồn dập tiến bước ra tiền tuyến, khí thế rộn ràng. Bước chân rầm rập theo tiếng trống thúc quân, ngựa hí vang trời mai, hừng đông le lói, hơi sương nhạt nhòa. Đoàn quân dần xa kinh thành, nơi đó biết bao mẹ già tiễn con, vợ tiễn chồng, con tiễn cha… ngậm ngùi lau nước mắt. Trần Khát Chân gồng mình nắm thật chặt thanh đao trong tay, cố lấp đi những cảm xúc đang rực lên trong người chàng. Tay còn lại chàng sờ vào ngực nơi có chiếc tượng phật bằng ngọc châu mẹ đeo cho chàng từ lúc còn nhỏ. Ánh mắt của cô đào cầm ca trên tháp lâu vọng nguyệt nhìn người chinh tướng cưỡi ngựa rời thành, màu buồn rười rượi. Mới hôm qua còn ngồi nghe nàng đánh đàn, thưởng rượu giờ đây chàng đã vội ra sa trường. Nàng đóng cửa, bước vào gian trong. Có giọt nước ứa ra, rơi lấp lửng trong đốm lửa nhiệt huyết giống nòi đang bừng bừng cháy.

Non xanh xanh vẫn như xưa,

Du nhân đi mãi vẫn chưa thấy về!

Sóng in bóng tháp bồ đề,

Mở toang cửa động liền kề chân mây.9

Trời tháng 11 pha lạnh gió, mưa thâm dày trên những búi tóc xanh.

* * *

Sáng nay bầu trời quang đãng, khí trời mát dịu, La Ngai cảm thấy sảng khoái vô cùng. Chàng ngồi nghe chim hót hiếm hoi bên hàng cau cạnh trấn lũy, bên kia cờ xí quân Đại Việt bay rợp trời. Còn nhớ mấy ngày trước chàng ngồi trước hiên để vợ chải tóc, cũng bên một hàng cau ngập tiếng chim ca. Matena, vợ chàng, người vũ nữ Apsara đẹp nhất vương quốc đã say chàng, một dũng tướng dày dạn chiến chinh. Nàng là bông hoa tỏa hương, xua đi nỗi mệt nhọc trên lưng ngựa mà mỗi chiến binh Champa thường phải đối mặt.

Đó là một đêm trăng sáng, một buổi tế lễ diễn ra dưới ngọn đồi linh thiêng với nhiều cổ tháp, nơi mà thần dân trong vương quốc theo đức vua đến lễ bái hàng năm. Điệu múa cúng dường thần linh uyển chuyển, thanh thoát của các vũ nữ với những thân hình căng mượt, cháy bỏng vờn vũ bên ánh lửa thiêng.

Chàng bắt gặp một ánh mắt trăng rằm, trong thoáng chốc đã soi rọi vào tim La Ngai một niềm si mê cuồng dại. Không chần chừ, La Ngai thúc ngựa tiến lên đồi và quỳ xuống bên cạnh nàng.

Chế Bồng Nga quan sát hành động của La Ngai và ngài gật đầu đồng ý. Ông ta là một vị quốc vương thích chối bỏ những giá trị cũ, dễ dàng chấp nhận điều mới lạ. Một senapati và một apsara có thể là sự kết hợp vi diệu tạo nên một dân tộc vững mạnh. Chế Bồng Nga là một Maharaja thích chiến tranh hơn là hòa bình, thích cưỡng đoạt hơn là tự làm ra và dĩ nhiên tinh hoa cái đẹp cần dâng hiến hẳn là sự thừa nhận khôn ngoan nhằm tranh thủ sự tận tụy của một vị tướng.

Các vị Rsy ở Kalan có vẻ không đồng tình.

La Ngai nắm lấy tay nàng như cầm một bông hoa. Nàng đặt tay La Ngai vào mulkhalinga trong Kalan, đó là dung diện thần Siva. La Ngai đứng sững lại, mắt nhắm nghiền nhìn về một ngọn núi được bao bọc bởi các đại dương. Chàng thấy một linh hồn xổng ra, lơ lửng trong không trung, nói thầm với La Ngai: “Ngươi là chiến binh hoàn hảo. Hủy diệt là nhiệm vụ của một chiến binh hoàn hảo. Hãy sống trên lưng ngựa bằng một lưỡi gươm hoàn hảo.”

Phía sáng của bóng tối xuất hiện một nữ thần: “Ta là Poh Nagar. Hãy lắng nghe những gì ta nói.” La Ngai gật đầu, im lặng. “Vương quốc của con đang tự hủy hoại chính mình bằng những lưỡi gươm hoàn hảo. Thay đổi định mệnh? Điều đó chắc chắn phải là việc làm của một vị thánh. Các thánh có năng lực cải đổi số mệnh. Con cũng có thể là một vị thánh”. 

La Ngai đứng thẳng dậy, mặt trời đã lên từ phía Đông, chiếu những tia nắng sáng nhảy nhót trên mái tóc đen huyền của Matena, người vũ nữ đền thờ được tạo hóa ban cho vẻ đẹp hoàn hảo như vầng mặt trời rạng tỏa trên ngọn Meru. Bế nàng lên ngựa chàng phi thẳng xuống đồi trong tiếng reo hò của dân chúng và những chiến binh tận tụy với vương quốc mình.

* * *

Tướng Trần Khát Chân đến Hoàng Giang xem xét địa thế, thấy không có chỗ nào đóng quân thuận lợi, bèn rút về đóng ở Hải Triều, tức khu vực sông Luộc xây dựng thế trận kháng địch. Trời càng ngày càng lạnh, tướng sĩ chịu đựng gian khó ngày đêm canh giữ trấn đồn. Hải Tây đô thống chế Lê Quý Ly cho người mang thư tới tỏ ý khen ngợi vị tướng trẻ tài cao, hẹn rằng nếu thắng trận sẽ ban thưởng hậu. Trần Khát Chân viết thư trả lời: “Giang sơn này là của nhà Trần!”. Quý Ly tỏ vẻ không hài lòng, liền cài mấy tướng tùy tùng trong đạo quân của Trần Khát Chân. Vị tướng trẻ lòng như lửa đốt vì giặc lại còn phải đối mặt với những trò tởm lậu của đám ngoại thích nhát chết. Trần Khát Chân cho người gửi về Lê đô thống một chiếc gươm nhỏ lấy được của người Chiêm. Từ đó, ngày đêm tăng cường phòng thủ, vỗ về binh sĩ đợi giặc đến sẽ phá tan chúng.

* * *

Đạo binh Champa sau khi cướp bóc suốt một khu vực rộng lớn ở đồng bằng Thanh - Nghệ liền thúc quân tràn vào sông Luộc định bụng tiêu diệt hết quân Trần rồi tiến hành san bằng Thăng Long, bắt sống vua tôi nhà Trần, kết thúc chiến tranh. Đầu năm Canh Ngọ (1390), Chế Bồng Nga mang hơn 100 chiến thuyền đến Hải Triều đối đầu với quân Trần Khát Chân. Trước khi xuất quân, La Ngai khuyên quốc vương của mình: “Thưa Mahajara vĩ đại, người nên thận trọng khi vào khu vực đóng quân của Đại Việt. Đêm qua thần mơ thấy Mẹ Poh Nagar báo mộng lần này ta sẽ gặp điều chẳng lành. Xin Mahajara xem lại cách hành quân và nghinh chiến”.

Chế Bồng Nga vuốt râu hùm, cười khanh khách: “Ta đi vào đất Đại Việt khác nào vào rừng săn thú. Ta săn chúng chứ chúng đâu dám săn ta. Nếu ngươi sợ thì hãy là một senapati đi phía sau ta đi”. Nói rồi cho quan bưng cơi trầu vào mời chư tướng. La Ngai từ chối ăn trầu, xin phép lui ra thu xếp việc quân. Mặt chàng đăm chiêu cố giấu đi mối lo đang dâng lên trong lòng. Hậu quân của La Ngai đóng vai trò tiếp ứng cách khu vực tiến quân của Chế Bồng Nga gần chục dặm. La Ngai đứng trên tháp tàu, mắt không ngừng quan sát việc bày trận của quân Champa.

* * *

Trận Hải Triều

Hôm ấy, trời tháng giêng nhưng âm u, mưa lay bay tẩm ướt những cánh đồng. Chế Bồng Nga cho thuyền chiến tấn công vào Hải Triều. Trần Khát Chân chỉ huy quân chống cự. Thủy quân Champa thiện chiến, đánh chìm nhiều chiếc thuyền lớn của quân Trần. Chiến lũy quân Trần dày đặc, bố trí chặt chẽ nên quân Champa khó có thể công phá trong nay mai.

Chế Bồng Nga ngồi ở thuyền chỉ huy ung dung uống rượu, ra lệnh cho thủy quân không ngừng tấn công quyết liệt vào quân Trần. Hải Triều dậy sóng, gươm đao sáng lòa, chiến trường nóng bỏng át đi cái khí lạnh đầu năm. Chế Bồng Nga vẫn điềm nhiên nhắm chút rượu, vừa chỉ huy các thuyền thọc sâu vào trận địa quân Trần.

Đạo quân của Khát Chân sẵn sàng chiến đấu, hàng ngũ chỉnh tề, giáo gươm sáng chói. Vị chủ tướng động viên sĩ khí: “Ba quân tướng sĩ, hãy sát lại bên nhau chiến đấu vì sự tồn tại của Đại Việt!”. Nói rồi đích thân giục trống quân tiến lên.

Hai bên lao vào áp chiến, thuyền giáp lá cà. Quân lực mỗi bên ngang nhau, vung những đòn chí mạng hòng làm đối phương chìm xuống dòng nước. Quân hai bên huyết chiến, lớp này xông lên, ngã, lớp khác lại lao tới. Gươm đao, giáo mác bạt hạ sinh linh. Tiếng hò reo quyết tử, tiếng rên la của cái chết trộn vào nhau thành một sự giao hưởng của đoản khúc chiến tranh bi tráng.

Đánh từ sáng đến trưa, thây người ngã xuống đầy sông, lổn nhổn cả những vũng bùn trống. Quân Đại Việt bị đánh dạt sang bờ bắc có nguy cơ đại bại. Khát Chân tả xung hữu đột, một mình chém hạ hàng chục lính Chiêm Thành, hô hào sĩ khí quyết không chịu bại. Vừa lúc ấy, có viên tướng là Ba-Lậu-Kê đang chỉ huy thuyền tiên phong đột kích vào thủy quân Trần bỗng nhiên rút lui dù không có lệnh của Maharaja nên đã làm chết hàng trăm quân lính. Chế Bồng Nga tức giận cho người tới lấy đầu Ba-Lậu-Kê. Viên tướng này hốt hoảng bỏ chạy sang hàng ngũ quân Trần.

Ba-Lậu-Kê quỳ trước mặt Khát Chân và chỉ cho quân Trần biết đâu là thuyền của đại vương hắn. “Chiếc chiến thuyền sơn màu xanh là thuyền của Chế Bồng Nga. Tướng quân hãy nhắm vào đó mà bắn”. Trần Khát Chân hạ lệnh cho quân sĩ, nhất tề nhả đạn đá, bắn tên vào chiếc thuyền ấy. Bồng Nga đang uống rượu bỗng dưng bị mưa tên và đá lao vào thuyền. Vị Maharaja của vương quốc Champa nhảy vào trong khoang gỗ, cờ lệnh vẫn phất ra ngoài kêu tiếp ứng. Đá bay vào tận khoang thuyền, làm vỡ các tấm gỗ lớn. Chế Bồng Nga khấn niệm: “Siva, xin Người hãy bảo vệ con!”. Các thuyền cận vệ nhanh chóng chèo tới để bảo vệ đại vương thành một lớp dàn ngang chếch chéo mặt sông. Khát Chân truyền lệnh các cỗ máy bắn đá, tên tấn công dồn dập vào thuyền sơn xanh. Thủy quân Trần cùng lúc ấy cũng ào cả ra, sáp vào thuyền đám lâu la. Đạn bay vèo vèo, tên cắm chi chít lên thuyền Chế Bồng Nga. Đám tùy tướng và cận vệ trên thuyền mình găm đầy tên. Một Senapati trú cùng khoang với Chế Bồng Nga bị tên bắn xuyên tim. Họ Chế lại cầu khấn, định phá khoang nhảy xuống nước thoát thân. Đám cận vệ đứng đông quá, hốt hoảng quên cả nhường lối cho Maharaja của chúng. Bỗng một quả đạn đá to nặng khoảng một bình10 tông phá khoang thuyền nơi họ Chế đang trú, đè dập gáy tay chiến binh sừng sỏ trong lúc y cố chui ra ngoài. Người trong thuyền quân Chiêm kêu khóc ầm ĩ cả lên. Khát Chân cười lớn, thúc quân đánh tràn sang các thuyền địch. Có bề tôi chặt đầu của Chế Bồng Nga đem dâng cho quân Trần. Khát Chân tức tốc sai lính đem đầu vua Chiêm về báo tin thắng trận cho Thái thượng hoàng.

Chế Bồng Nga chết, quân Champa không ai chỉ huy, chiến đấu rời rạc. Có người truyền tin quốc vương đã chết khắp mặt sông, quân lính nghe thế hốt hoảng tháo chạy. La Ngai từ xa thấy khói lửa mịt mùng, thám báo cho hay đại vương đã tử trận. La Ngai tức tốc kéo quân vào ứng chiến, quyết lấy cho được xác vua về.

Tài xoay chuyển trời đất

nhớ vua Trùng Hưng xưa

mặt bể nghìn chiến hạm

cửa non vạn bóng cờ

trở tay non sông lặng

sông Ngân rửa tanh nhơ11

* * *

Trần Khát Chân thấy quân địch lại kéo đến liền ra lệnh bày thuyền ứng chiến.

La Ngai kéo quân đến, đánh bạt những chiếc thuyền đang cố truy kích quân Chiêm. Vị senapati hy vọng cuối cùng của một vương quốc mặt mày buồn bã sau những đường gươm.

Trần Khát Chân ra lệnh ngừng chiến, bước lên mui thuyền định trò chuyện với viên tướng giặc. Hai đôi mắt đang thắp những ánh lửa khác màu nhìn nhau không nói.

Quân hai bên thôi reo hò ầm ĩ. Gió ngừng thổi, sông ngừng trôi, chỉ có tiếng thở nhọc nhằn từ hai cơ thể chủ tướng sặc mùi sát khí. La Ngai nhìn chiếc tàu của Mahajara tan tành, ghim đầy cung tên, lòng khép lại. Cái xác không đầu của đại vương chàng nằm vất vưởng trên một tấm ván thuyền trôi nổi. La Ngai chưa bao giờ rơi vào một cảnh ngộ như thế này. Chàng chưa bao giờ thích máu. Ngay lúc này đây, chính nó làm chàng buồn nôn. La Ngai cảm thấy nhói đau ở ngực khi chứng kiến đại vương và bao quân sĩ lập lờ trên mặt nước, máu nhuộm đỏ sông. Màu máu làm chàng lóa mắt. Chàng bất lực với chính mình, bất lực với những phán xét nghiệt ngã của số phận.

Khát Chân thấy người thấm mệt, cô đào Long Thành hiện lên chập chờn trong đầu, nàng ôm vòng tay trắng muốt qua cổ vị chinh tướng, thủ thỉ những lời tự đáy lòng man mát cánh sen. Cánh đồng quê lộng gió, những con phố cổ mái ngói rêu phong; những ấm trà, chén rượu trong đêm trăng rằm, nghêu ngao du ca đời tráng sĩ. Cơ nghiệp họ Trần cũng đang chờ chàng chấn hưng. Khát Chân lại thấy Lê Quý Ly nhảy xổ vào đầu mình, vung kiếm chỉ vào ngai vàng của Thượng hoàng. Khát Chân lắc đầu cho trôi những hình ảnh ma mị.

La Ngai chống gươm, Khát Chân cũng dựng kiếm xuống mui thuyền. Một sự đình chiến tạm thời. Hai vị tướng của hai nước nhìn nhau. Có lẽ họ cần một cuộc đối thoại trước khi một trong hai chắc chắn bị viên sử quan của triều đình đánh dấu chấm sau trận chiến hôm nay.  La Ngai đứng lặng một hồi. Gió sông thổi lên mát rượi. Cánh tay chàng đang mỏi mệt và tâm hồn chàng đang run rẩy sau những nhát gươm cuồng nộ.

Đối diện La Ngai, vị tướng trẻ Đại Việt lặng nhìn chiến trường đầy xác chết, lòng quặn đau bởi vô vàn vết cứa rướm ra từ tâm hồn thánh thiện của một chàng trai trẻ. Đôi mắt ấy đỏ au, tiết ra những giọt nóng hổi, cô đặc, nhỏ như đầu tăm. Tượng Phật trong ngực họ Trần chợt rung rung, hơi ấm từ đâu tỏa ra ôm lấy con tim, ôm lấy tấm thân khô cứng vì máu.

Khát Chân gật đầu chỉ vào cái xác của Chế Bồng Nga. La Ngai cúi gập người, nước mắt giọt xuống mặt sông tanh máu.

* * *

Thủ cấp Chế Bồng Nga được viên giám quân của Khát Chân đem về triều. Đến canh ba thì tới hành tại của Thượng hoàng ở bến Bình Than. Quân lính khắp nơi vui mừng nhảy múa, Thượng hoàng kinh động thức giấc tưởng quân giặc đến nơi. Khi biết được tin quân ta đại thắng thì phấn khởi vô cùng, liền cho mời bá quan văn võ sáng hôm sau đến thiết triều. Khi mở chiếc hòm đựng thủ cấp, Thượng hoàng nói:

 “Ta với Chế Bồng Nga cầm cự nhau đã lâu nhưng mà nay mới thấy mặt nhau. Việc này nào có khác gì chuyện Hán Cao Tổ thấy đầu Hạng Võ. Thiên hạ vậy là đã yên rồi.”

Lê Quý Ly ở dưới nhếch mép cười, rồi xin lãnh binh vào tận nước Chiêm để phá giặc, diệt tận sào huyệt. Thượng hoàng chuẩn tấu, tiện thể mang sắc phong tướng cho Trần Khát Chân là Long Tiệp Phụng Thần Nội Vệ Thượng Tướng Quân, tước Vũ Tiết Quan Nội Hầu. Các tướng họ Trần trong lòng bất bình mà không dám nói ra. Lê Quý Ly giăng kì tướng Hải Tây đô thống chế, giục quân nhanh chóng đuổi theo địch.

* * *

            Ta lấy cây cung mà chiến binh đã chết còn nắm
            để được lấy sức mạnh và vinh dự của người.
            Người nằm đó, ta đứng đây, cùng là dòng giống anh dũng,

            ôi đất, đất mở lòng ra, đừng đè nặng lên người chiến binh
            nên giúp đỡ người, cho người ấy dễ dàng nằm vào lòng,
            bao lấy người như một tấm khăn liệm,
            như một người mẹ lấy chiếc áo quấn lấy đứa con vậy12.
 

 

Binh lính Champa đưa thi hài của Chế Bồng Nga lên thuyền, ra một đoạn sông vắng, cảnh sắc tươi đẹp thì dừng lại. La Ngai truyền lệnh toàn quân cạo trọc đầu theo truyền thống rồi quỳ trước Mahajara. Đến chập tối, bỏ xác lên một bè củi rồi hỏa thiêu trên sông. Tiếng khóc vang trời, tiễn đưa một chiến binh vĩ đại đi vào đất nước của Siva hiển minh. Tất cả nguyện cầu cho mối lương duyên Moksha13.

La Ngai ngậm ngùi thu quân về đất nước.

Chợt phía sau có ánh đuốc trập trùng, quân Đại Việt reo hò thúc dội đuổi theo. Ánh đuốc soi rọi cờ hiệu Hải Tây đô thống chế.

La Ngai bỏ thuyền lên bộ, chạy vào vùng rừng núi hoang vu. Đoàn quân lạc vào một không gian đen đặc. Một lời sấm nguyền vang lên lanh lảnh:

“Trong một đất nước không vua thì con không nghe lời cha, vợ không nghe lời chồng

Trong một đất nước không vua thì mọi người không xây dựng được lâu đài, đền miếu và vườn tược

Đất nước không vua khác nào như sông không nước, rừng không cỏ, đàn gia súc không người chăn”14.

La Ngai quỳ xuống đất, mắt hướng về phương Nam. Tiếng trống baranưng dập dìu. Tướng kì Hải Tây đô thống chế tháo hạ, quay về phương Bắc ôm mộng đế vương, kiếm chỉ ngai vàng Trần tộc.

 Trăng lên, mờ tỏ những bóng người lay lắt trên những con đường muôn ngã.

 

L.V.T.G

 

 

 

______________

1 Kinh Rig - Veda. 2 Đại vương tối cao, người mang quyền lực vĩ đại nhất của một đế chế theo tinh thần Indu giáo. 3 Nay là vùng đất Bình Định - Quảng Ngãi

4 Tên gọi chung cho các vị tướng Champa. 5 Tháng 10 lịch Chăm

6 Tổng tư lệnh trong quân đội Champa. 7 Kinh Rig - Veda. 8 Lúc này Quý Ly chưa lấy họ Hồ. 9 Bài thơ Dục Thúy Sơn Khắc Thạch - Trương Hán Siêu.

10 Tương đương 50kg. 11 Thơ Trương Hán Siêu. 12 Một đoạn trong Rig Veda
13 Nghĩa là đầu thai. 14 sử thi Ramayana

 

 

 

 

LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 260

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

22/04

25° - 27°

Mưa

23/04

24° - 26°

Mưa

24/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground