Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 17/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Bức thư của biển

Đ

êm khuya. Xóm làng đã ngủ yên chỉ còn lại một mình chị thao thức ra đứng ngoài sân. Mảnh trăng cuối tuần khuất sau đỉnh núi, thu ánh sáng về phía bên kia, bóng tối đổ sập xuống làm cho lòng chị càng chìm đắm vào nỗi đau buồn.

Chị vào nhà xách cây đèn dầu soi dọc các ngõ xóm, cuối cùng chạy ra biển. Gió biển thổi lạnh lùng. Những con sóng đen mò mẩm vào bờ. Ngọn đèn dầu hỏa loi nhoi dọc tràng cát. Ở đấy cất lên tiếng gọi nghe đến não lòng: “Anh Hoài ơi! Anh Bảy ơi...”. Tiếng chị được biển trả về sau ngọn núi nghe lỏng lảnh.

Hoài, Bảy là hai người chồng của chị, chuyện thật mà như bịa. Lâu nay đàn ông “ba thê bảy thiếp” là chuyện thường, còn đàn bà hai chồng, thật quá hiếm! Nhưng trường hợp của chị thì có thật, nói ra chẳng mấy người tin.

Thời con gái chị đẹp nhất làng. Có rất nhiều người đến với chị. Thìn chỉ để ý đến hai chàng trai. Đó là Hoài và Bảy. Hai chàng trai này có những nét độc đáo riêng. Hoài cao ráo, trắng trèo nom thư sinh. Bảy nước da ngăm đen tính tình phiêu bồng lãng tử. Hai người chơi thân với nhau, mặc dù họ biết họ đang cùng yêu một người. Thìn thấy hai chàng trai đều đáng yêu cả, chẳng biết bỏ người nào. Chị tuyên bố: ai đỗ đạt sớm hơn, sẽ kết duyên làm chồng. Hoài và Bảy lao vào cuộc ghênh tài, sớm hôm miệt mài đèn sách, ai cũng quyết giành người đẹp về mình.

Chiến tranh bùng nổ, hai chàng trai ra trận. Ngày chia tay, Thìn tiễn cả hai người. Lúc chiếc xe chở quân chuyển bánh, chị vẫy tay nói với theo rằng: “Đi nhé! Em chờ...” Chẳng biết chị chờ Hoài hay chờ Bảy, chỉ thấy bàn tay chị vẫy mãi cho đến khi chiếc xe khuất xuống phía chân trời.

Hoài và Bảy ra đi biền biệt, không hề có tin tức gì, mãi đến ba năm sau Thìn mới nhận được thư Hoài. Thư anh viết: “Anh nay vì nhiệm vụ đặc biệt mà không thể về cùng em được. Có lẽ em nên xây dựng hạnh phúc với Bảy. Em lấy Bảy là coi như lấy anh, cuộc đời anh đã có một phần hạnh phúc trong đó...” Đọc thư Hoài chị biết đó là lời nói thật. Chị thấy thương anh vô cùng. Thực ra, trong hai người ấy, chị có phần cảm tình với Hoài hơn. Hoài tuy không mạnh mẽ bằng Bảy, nhưng cái chất đàn ông của Hoài ẩn sâu trong tính cách. Nếu thời gian cho phép thêm vài tháng nữa để tìm hiểu kỹ, chắc chị sẽ nghiêng về phía Hoài. Thôi thì âu cũng vì số phận, Hoài đã nói vậy, chị chẳng từ chối.

Vào một ngày kia, khi cây sầu đông trước ngõ đã trút hết lá thì Bảy về. Người anh gầy rọc. Đôi mắt quầng thâm. Trông anh cằn cỗi già nua, chị càng thương hơn. Biết anh về được mỗi ba ngày, nên chị chẳng nói lời bóng gió xa xôi mà đi thẳng vào ngay vấn đề. Chị cho anh xem lá thư của Hoài. Đọc thư cả hai người cùng khóc, nước mắt họ nhỏ xuống ướt nhòe nét chữ. Hai hôm sau, đám cưới được tổ chức. Đêm tân hôn, Bảy nghe tiếng Thìn khóc, anh biết rằng Thìn đang thương nhớ một người. Đời con gái yêu nhiều, nhưng chỉ lấy được một người thôi. Trước lúc bước vào cõi hạnh phúc thực hiện cái bổn phận dâng hiến, họ thường hướng về một phương nào đó để xót thương cho một người, bởi họ nghĩ rằng người đó mãi mãi không bao giờ được sống chung. Người chồng, đêm tân hôn đưa vợ vào phòng cũng chính là đưa một người đàn ông khác vào theo. Vì giờ phút ấy trong tâm hồn người vợ luôn luôn có bóng tình nhân. Chỉ khi nào người chồng chiếm lĩnh hết linh hồn người vợ thì khi ấy bóng hình kia mới tắt, nếu không anh ta chi ôm lấy cái xác mà yêu, lặn ngụp trong một cơn hoan lạc.

Trong trường hợp này, Bảy cũng nghĩ Thìn như thế, nhưng anh rất thông cảm. Anh cứ để Thìn khóc cho thật đã, đến khuya anh mới đặt tay lên ngực Thìn nói nhỏ: “Thìn...”. Thìn càng khóc to hơn. Chị nói trong tiếng nấc “Ngày mai anh đi rồi nhưng đêm nay em không thể cho anh được, vì em đang “bị”... Nghe Thìn nói, bỗng nhiên Bảy thấy mình bị hụt hẫng, có điều gì đấy như vừa trách móc, giận hờn pha lẫn chút chán chường vô cớ. Thìn xoa xoa tay lên ngực anh để làm dịu bớt nỗi bực bội và cơn khát vọng đang trỗi dậy của chàng. Tiếng chị thì thầm: “Hãy thông cảm cho em, biết làm sao được, thôi thì nay, mai về lại em sẽ bù..." Anh ghì chặt vợ vào lòng nằm như thế cho đến lúc trời sáng.

* * *

Thìn nhận được thư Bảy, lòng chị đau nhói khi đọc từng dòng chữ: “Có một điều sẽ làm em đau khổ, nhưng buộc anh phải nói. Anh đã bị thương ở đầu. Nay vết thương đã lành, nhưng người anh lúc tỉnh lúc mê. Bác sĩ nói rằng vết thương ảnh hưởng đến vỏ não. Nếu như thế thì anh sẽ làm khổ em suốt đời mất thôi. Thìn ơi... Anh yêu em, anh muốn tình yêu ấy sẽ đưa đến cho em hạnh phúc. Nhưng chiến tranh đã cướp mất hạnh phúc trên tay của chúng mình. Bây giờ, lẽ nào anh lại để cho em đau khổ. Em là một người con gái xinh đẹp hiền lành em phải có hạnh phúc. Hạnh phúc là kết quả của tình yêu. Tình yêu là cái không mua bán, nhường nhịn được, nhưng hạnh phúc cũng có thể nhường cho nhau với tình đồng chí đồng đội được chứ phải không em! Theo anh, nếu nay mai Hoài còn sống trở về thì em nên xây dựng với Hoài. Anh tin rằng Hoài sẽ là người chồng tốt của em, được như thế anh chết cũng an lòng. Thìn ơi... Hãy nghe lời anh...”. Nỗi đau đớn ấy chưa nguôi thì ba tháng sau, một tin nữa đến với chị: Anh Bảy đã hy sinh. Khi đồng chí cán bộ xã đến nhà, trao cho chị tờ giấy báo tử, chị chỉ kịp thốt lên một tiếng rồi ngất lịm...

Bấy giờ, tính từ cái ngày anh Bảy hy sinh đã ba năm. Lúc ấy, miền Nam đã hoàn toàn giải phóng. Mẹ gặp con, vợ gặp chồng sung sướng, chỉ có Thìn buồn đau đáu. Một người chồng đã hy sinh và một người nữa chờ mãi không về. Nhiều người khuyên chị nên lấy chồng, chị nhất quyết không nghe.

Rồi... cái ngày chờ mong ấy đã đến. Lòng chị tràn ngập niềm vui khi một người bộ đội đầu đội mũ sao, chững chạc trong bộ quân phục về đứng mỉm cười trước chị. Lúc ấy thấy ngỡ ngàng như trong mơ, bàng hoàng một phút rôi thốt lên hai tiếng “Anh Hoài...” và chị ập vào anh. Dĩ nhiên là vài ngày sau họ trở thành vợ chồng.

Đám cưới đơn giản mà vui lắm. Người ta thấy cô dâu hớn hở cùng chú rể lượn khắp các bàn nâng chén chúc mừng bè bạn và bà con cô bác. Nhưng khi chuẩn bị đưa dâu, thì ngoài kia nghe tiếng rục rịch của bọn trẻ con. Chúng hò hét inh ỏi, rùng rùng bám theo một người đàn ông, vẽ rắn vẽ rồng vào đám cưới. Người đàn ông mặc bộ quân phục đã rách tả, nhưng vẫn được nai nịch tử tế. Đầu tóc của anh ta cũng vừa mới húi, lại chải rẽ ngôi. Nom bộ anh ta cố tình ăn diện cho thật gọn gàng, tươm tất, nhưng vẫn để lộ những nét hớ hênh của một kẻ tâm thần mất trí. Người ta đã nhận ra đó chính là Bảy. Tay anh ủm một con búp bê, bước vào hôn trường. Bảy nhoẻn miệng chào mọi người và anh bước đến cầm mi-ca-rô nói: “Thưa bà con! Tôi là Bảy chồng cũ của Thìn. Tôi vì thương tật nên không thể làm chồng đưa đến hạnh phúc cho cô ta. Tôi đã thỏa thuận để cho Hoài là đồng đội của tôi thay tôi kết duyên với cô ta đến trọn đời.” Anh bước đến trao con búp bê cho Thìn và Hoài: “Đây là món quà mừng hai bạn, chúc hai bạn hạnh phúc. Giọng anh lạc đi "Nhất trí! Biểu quyết một trăm phần trăm!... Hoan hô!..."

Thìn bị chấn động đột ngột, trái tim chị nhói lên niềm đau. Chị cố nén chặt nỗi xúc động, để tiếng chị khỏi vỡ òa thành tiếng khóc, để bước chân khỏi nhào đến, bàn tay khỏi vươn ra ôm chầm lấy Bảy. Còn Bảy, ra về vô tư, anh bước xuống bắt tay mọi người và tự chọn cho mình một chỗ ngồi. Có ai biết một nỗi buồn sâu hút trong mắt anh. Để cho đôi bạn khỏi sượng sùng, Bảy lợi dụng trong lúc mọi người không chú ý đến mình, rời hôn trường ra biển.

Sau cuộc đưa dâu, Hoài và Thìn đi tìm anh, thấy Bảy đang lên cơn tâm thần nằm lăn trên cát. Người anh ướt sũng, cát bết đầy, dính vào cả hai hốc mắt. Họ dìu Bảy về nhà. Đêm tân hôn ấy trở thành đêm nuôi dưỡng bệnh nhân. Sáng dậy Bảy định đi. Hoài nói: “Không được! Mày bây giờ thương tật quá nặng, phải ở lại đây để chúng tao chăm sóc” Bảy không chịu cứ đòi đi cho bằng được. Thực tình thì Bảy chẳng biết đi đâu, bà con họ hàng chẳng còn ai mà nương nhờ, chế độ thương binh không có, biết lấy gì để mà sống? Hồi anh bị thương, cơn bệnh tâm thần quái ác đã khiến anh rời khỏi đơn vị. Kiếm tìm mãi không ra, đơn vị tưởng anh đã mất tích nên làm giấy báo tử. Ba năm ròng Bảy sống vất vưởng khắp nơi, từ chốn rừng xanh tìm về đồng bằng, lang thang nơi đầu đường xó chợ, muốn về quê nhà mà không về được, cơn bệnh tâm thần đã làm anh sa lạc bước chân. Năm vừa rồi, anh tìm về đến tỉnh, đến huyện, đến xã. Và sáng nay khi đang lang thang trên đường về làng, anh nghe bọn trẻ con kháo nhau có đám cưới. Anh hỏi đám cưới của ai, chúng bảo đám cưới cô Thìn. Chúng còn kể rất tỉ mỉ là cô Thìn nhà bà Hai có chồng đi bộ đội đã hy sinh nay cưới chú Hoài cũng là bộ đội mới về. Biết vậy nên anh quay lại quán cắt tóc vệ sinh cẩn thận và tìm mua con Búp bê làm quà tặng. Bây giờ anh đang đứng trước một sự thật. Sự thật ấy chia lòng anh thành hai nửa vui buồn.

- Hoài ơi... Tao phải đi thôi mày ạ. Tao ở đây làm khổ chúng mày.

- Không, mày phải có hạnh phúc. Hạnh phúc này là của mày. Tao là người đến sau và dẫu sao tao cũng còn có sức khỏe, có khả năng đế tìm kiếm hạnh phúc khác. Hoài cầm tay Bảy nói một cách thành khẩn trước khi anh đến bên Thìn chấp tay câu xin:

- Em hãy tha thứ cho anh. Em không phài là món quà để các anh trao tặng cho nhau. Nhưng em ơi... tình bạn chiến đấu thật thiêng liêng vô cùng. Thìn chẳng biết nói sao, chị đứng vịn hai tay vào hai người đàn ông. Hai người đàn ông đứng hai bên nhưng chị không biết gục vào bên nào mà khóc. Hai đôi vai gầy, hai trái tim nồng cháy, hai bộ ngực nóng ấm mà sao chị phải chịu lạnh lùng: Chị cúi xuống giữa hai người để cho dòng nước mắt rơi lả chả xuống đất. Bỗng Bảy hét lên: “Không! Không!"... Anh đẩy Thìn về phía Hoài rồi chạy bạt mạng. Hai người đuổi theo anh. Bọn trẻ con trong xóm túa ra hò reo một cách khoái chí.

Thấm thoắt đã hai mùa đông, ba con người ấy về sống chung trong một ngôi nhà. Dẫu rằng nhà cửa chẳng được khang trang chỉ là phên tre kèo nứa, bữa cơm đạm bạc, nhưng rất ấm cúng. Chị Thìn suốt ngày làm lụng vất vả để nuôi hai anh. Bởi lương bổng hai anh chẳng đáng là bao. Hoài thì chỉ hưởng được mấy tháng lương phục viên lúc mới về, còn Bảy chẳng hề có một đồng xu nào. Đã mấy lần Hoài đưa Bảy đi làm thẻ thương binh, nhưng người ta không giải quyết. Vì anh không có các loại giấy tờ. Những thứ đó anh đã làm mất hết trong những lần lên cơn tâm thần. Trời ơi... Trên cơ thể anh ba vết thương còn tấy đỏ: một vết thương ở đầu, hai vết thương ở ngực làm mất đi một mảng sườn mà không đủ làm bằng chứng cho anh nhận cái thẻ thương binh, lại phải cần đến chữ ký ngoằn ngoèo với con dấu đỏ sao? Thôi, cứ cho vết thương là điều còn đang nghi ngờ đi, nhưng còn tiếng khóc đồng đội đến xé ruột xé lòng và tiếng hô xung phong tưởng chừng như vỡ mặt biển khơi mà không đủ để rung động trái tim người, không gọi về được một chân lý sao?

Cuối cùng rồi họ cũng đành chịu dắt nhau về nhà, sống dựa vào một người đàn bà. Hai anh chẳng giúp được gì cho chị, chẳng phải hai anh lười nhác mà chỉ vì đau ốm luôn. Công việc vừa mới đặt ra chưa kịp làm Bảy đã lên cơn tâm thần vùng chạy, Hoài phải bám theo. Có khi hai anh chạy đâu cả ngày, đến bữa không về ăn cơm chị phải đi tìm. Bực mình, có lần chị nói với anh Hoài: “Các anh cứ theo nhau suốt, chẳng giúp được gì cho em cả, ít ra cũng phải làm một việc gì chứ?” Hoài nói: “Em thông cảm, anh biết em rất vất vả, em làm để nuôi hai anh, nhưng biết làm sao được, anh phải chạy theo nó không có nó bị ngã xuống ao thì nguy lắm. Nếu nhốt nó ở nhà thì nó lại đập phá làm em thêm khổ tâm” Thìn hiểu, đời chiến sĩ các anh rất thủy chung với nhau, trong chiến tranh các anh xông pha nơi lửa khói để tìm đồng đội. Nay hòa bình lại tiếp tục đi tìm đồng đội nơi bụi bặm của cuộc đời. Cái thế giới của người lính, chỉ có họ mới hiểu hết niềm vui và nỗi đau cũng như giá trị nhân văn cúa cuộc chiến.

Điều làm cho chị bực mình là nỗi cô đơn. Hai anh cứ suốt ngày đêm bám lấy nhau như hình với bóng, chẳng khác nào một đôi tình nhân làm cho chị phải ghen lên. Ban ngày họ thơ thẩn trên bờ biển, có lúc Bảy lên cơn tâm thần hò hét hô xung phong, Hoài cũng hô theo, nghe như tập trận. Các anh vẫn mở những cuộc tấn công ào ạt trước biển thanh bình. Ban đêm họ lại mắc võng ra vườn nằm kể chuyện hơặc hát hò, họ biến cây vườn nhà chị thành cây rừng Trường Sơn và biến chị thành một cô gái giao liên phục vụ. Ngôi nhà mà Thìn có cảm tưởng như chiếc lán của binh trạm, đêm nào cũng có một mình chị nằm nhìn ra. Chị nghe họ hát, bài hát “Khúc hành quân” bài “Trái tim người chiến sĩ” bài “Giải phóng miền Nam”. Những giai điệu dồn dập mạnh mẽ, những âm thanh như có máu làm cho chị xúc động, vui lây. Các anh hát suốt đêm, hát cả trong gió gào! hát cả trong mưa rơi! Nghe mãi rồi cũng chán, chị nằm trải mình ra trên giường mắt khép hờ, tưởng tượng đến hai người đàn ông. Chị ước gì cái đôi tay đang đánh nhạc kia, cái thân thể đang ở trần trùng trục hàng ngày lao đi như vũ bão kia đừng ca hát nửa, đừng hô xung phong nữa mà hãy đổ xuống ngực chị để chị được quằn quại đau đớn.

Ngoài kia các anh cứ vẫn hát. Tiếng hát làm cho trời đất như rung lên, làm cho lòng chị xa xót.

Cuộc đời người chiến sĩ,

thật giản dị biết bao

Một khẩu súng trường

Một ngôi sao trên mũ

Cuộc đời người chiến sĩ

giản dị thật đáng yêu

Một túi lương khô

Một tấm vải dù

Một đôi dép cao su

Im đi! Chị đập tay xuống giường và hét lên. Lúc ấy không gian lại trả về cho chị một sự im lặng đến ghê người. Sự im lặng để chị chiêm nghiệm nỗi đau đớn tủi hờn. Chao ôi... cuộc đời mang tiếng lấy hai người chồng, nhưng chẳng có một người nào làm nổi một thằng đàn ông cho chị. Một người điên tàng không biết gì, còn một người biết gì thì không có khả năng ấy nữa. Cái độc ác của chiến tranh là đã lấy đi những cái cụ thể của từng con người. Đến bây giờ chị vẫn còn trinh. Cái trinh nguyên đến là tồi tệ.

Chị ngồi dậy và đi ra vườn theo động tác phục kích đến chỗ Bảy nằm. Chị nhẹ nhàng ngồi xuống bên chiếc võng của Bảy, cố cúi đầu xuống, kẻo nhỡ ra Hoài nhìn thấy. Chị đặt tay lên trán Bảy, khẽ xoa bóp nhẹ vào vai anh... còn được lắm... Mặc dù bị điên, da thịt vẫn rất đầy. Chị kéo tay dần xuống... Một “vật gì” chống đêm dậy... Chính nó chị sướng rân. Thì... "Xung phong!" Bảy hô toáng lên làm chị hốt hoảng bỏ vào nhà.

Hoài hiểu tâm lý của chị, nhiều lần anh cố lảng đi để hai người đến với nhau nhưng Bảy chẳng hay biết. Đêm ấy, là đêm cuối cùng, Hoài chuẩn bị rất kỹ. Đầu hôm Hoài đưa Bảy vào phòng tắm kỳ cọ sạch sẽ. Chị nghe Hoài cười nói rúc rích: “Vũ khí của đồng chí còn khá lắm, cố gắng mà chiến đấu, nếu thắng lợi là chiến công chung nhé” Bảy cười hề hề. Hoài đưa Bảy vào phòng khóa chặt cửa lại, giao chìa khóa cho Thìn nói giọng tỉnh bơ: “Anh qua nhà chú Tám có chút việc cần, có khi anh ngủ lại bên đó, em ở nhà chăm sóc Bảy cho cẩn thận”. Anh nói rồi đi ngay. Thìn hồi hộp ngồi chờ cái giờ phút ấy đêm nay chắc thế nào cũng sẽ đến. Chị thấy mình trở nên bối rối không biết nên như thế nào. Đối với chị bây giờ không phải là một cuộc hoan lạc mà là một công việc hết sức thiêng liêng làm sao để kiếm một đứa con gọi là tí chút hạnh phúc. Chị tắm gội sạch sẽ, ngắm vuốt chải mình trong gương, mặc dù chị biết đưa cái vẻ đẹp đến cho môt kẻ điên thì cũng chỉ là vô ích. Nhưng người điên giúp được chị có sự thiêng liêng, thì chị coi họ thiêng liêng hơn cả ai. Mở tủ chị dốc hết túi tiền, cũng chỉ còn bảy nghìn, số tiền này là chế độ ăn ngày mai, nhưng bây giờ phải dùng mua sữa bồi dưỡng cho anh ta. Đầu tư cho tương lai thì giá đắt nào cũng được hết. Chị đục loong sữa, pha một cóc đưa vào cho anh Bảy, còn lại để dành lát nữa xong cuộc sẽ tiếp tục bồi dưỡng. Khi chị bưng cốc sữa vào buồng, thấy Bảy ngồi loay hoay khâu vá. Thì ra, Bảy đã tháo tung hết chiếc gối hạnh phúc để may chiếc mũ tai bèo. Gì đây nữa! Cái túi xách to mà hàng ngày chị dùng đi chợ bây giờ cũng được Bảy cải tiến lại thành cái ba lô con cóc. Rồi súng gỗ, lựu đạn giả, anh vơ vào đây không biết từ lúc nào. Thật là bực mình, nhưng sợ anh lại tự ái làm lỡ cuộc, chị không dám rầy la. Đưa cốc sữa cho anh, giọng chị dịu dàng:

- Anh uống sữa đi.

Bảy không nói gì, đưa tay bưng cốc sữa uống một hơi cạn ráo, xong lại cúi xuống công việc. Chị ngồi xuống bên cạnh anh khẽ nói:

- Đưa em khâu cho.

Bảy cười nhe răng. Thìn đặt tay lên vai Bảy, nét mặt anh sầm lại, mắt nhìn chị chăm chăm:

- Làm gì thế!

Thìn gượng gạo:

- Để em xem vết thương của anh nào!

- Ấy... không được.

Chị van nài:

- Anh... Em cần có con với anh mà.

Bảy nói lọng ngọng:

- Không... Không thể.

Anh thụt vào trong góc giường ngồi cố thủ trương mắt nhìn chị vừa sợ sệt, vừa khinh bỉ. Đến nước này thì chị không thể chịu được nữa, chị phải hành động như một gã lưu manh như một tên ăn cướp. “Tên ăn Cướp” đang cướp lại cái của chính mình.

Chị cởi tung hết áo quần, bươn lên giường cầm chặt lấy chân anh, nói hổn hển:

- Tôi phải có một đứa con! Bằng mọi giá tôi phải có.

- Buông ra! Đồ ngoại tình! Đồ phản bội.

Anh đạp chị ngã chổng kềnh xuống đất. Một tiếng cười ré lên từ miệng anh và tiếp theo là những động tác ôm chăn chiếu ném dập lên người chị cùng với những tiếng hô “Xung phong! Xung phong”. Chị thoát ra khỏi phòng, khóa chặt cửa lại, ôm mặt ngồi khóc. Hoài chạy vào, cúi xuống vuốt tóc chị an ủi:

- Đừng khóc nữa em. Anh mới là người có lỗi. Hoài mở khóa vào phòng, nhào đến chụp lấy tay Bảy, thụi cho Bảy một quả vào mông:

- Sao mày ngu thế mày ơi!

Rồi anh ôm lấy Bảy, giọng vỡ òa:

- Bảy ơi... Tao muốn mày có một đứa con để nay mai mày trông cậy. Tao dẫu sao cũng có họ hàng, còn mày nếu không có con, mày biết tựa vào đâu. Mày hãy sinh cho tao một đứa con rồi mày chết đâu thì chết Bảy ơi... Tiếng khóc ẩn ức, cứ nấc lên khiến chị chạnh lòng khóc theo.

Đêm ấy hai anh không ra vườn nữa mà nằm ngủ với nhau trong buồng.

Vào lúc nửa đêm, chị tỉnh dậy nghe thấy có cái gì đấy như một linh tính báo làm lòng chị nôn nao. Chị mở cửa buồng, không thấy các anh đâu nữa. Ngoài vườn hai chiếc võng đã tháo và mọi thứ ba lô, súng gỗ cũng đều được mang đi đâu hết. Chị gọi mãi không thấy các anh trả lời. Hoảng quá, chị thắp cây đèn dầu, chạy đi tìm các anh.

Sáng naỵ, chị thẩn thờ bước đi trên bờ cát hy vọng sẽ tìm gặp các anh. Chị lần theo từng dấu chân của hai người đàn ông. Những dấu chân đan nhau thành một đường đổ dài ra biển. Khi chị đến thì ngọn sóng ngoài khơi đã xô vào xóa mất dấu chân cuối cùng: Nhìn ra xa, chị thấy có một chiếc thuyền trôi tập tềnh. Chiếc thuyền thúng nhò dần đến lúc chỉ còn lại một chấm đen trên biển. Bất chợt, chị thấy có một vật gì chấp chới trên đầu ngọn sóng tức thì chị lội xuống đưa tay vớt lên: “Ồ một lá thư” chị lần đọc từng nét chữ đẫm nhòe:

“Em thương yêu... Các anh phài đi thôi. Em ơi... cuộc đời người chiến sĩ của các anh chiến đấu để đưa lại hạnh phúc cho bao nhiêu người, lẽ nào các anh không giải phóng cho được một người mà người đó lại là em, bao tháng năm trời sống thủy chung trọn vẹn, ôm ấp một niềm mơ, chờ đợi các anh về, tàn phai đời con gái. Ấy thế mà các anh không đền đáp được tình em, không làm nổi một hạnh phúc cho mình. Các anh thật có lỗi. Anh biết cuộc ra đi này sẽ làm em rất buồn. Nhưng các anh phải đi. Dù không biết là đi đâu? Ở đâu? Nhưng tất cả chỉ để cho em hạnh phúc.

Cầu mong cho những tháng năm còn lại trong cuộc đời em sẽ là quãng thời gian đơm hoa kết trái cho tương lai một - con - người”.

Biển ào lên từng đợt sóng như dội cả vào lòng chị, đau đớn bâng khuâng...

                                                                                        C.H

 

Cao Hạnh
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 49 tháng 10/1998

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

18/04

25° - 27°

Mưa

19/04

24° - 26°

Mưa

20/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground