ạnh bước tới bàn nước rồi ngồi ngay xuống bên chị Sửu, tựa mái đầu vào vai chị, giọng nũng nịu:
- Chị! Giùm em tí…
- Giùm gì? - Bà Sửu né người, giọng lành lạnh - Giùm cái gì?
Hạnh lại dúi mái đầu bù xù vào nách bà chị khó tính:
- Bắt cho em mấy con chấy. Ngứa chết thôi! - Hạnh chỉ tay lên tóc - Đây đây…Nó đang rúc chỗ này đây chị…
Hạnh dúi mạnh đầu khiến bà Sửu phải tì lưng vô thành ghế cho khỏi bị ngã, rồi đặt bàn tay lên mái tóc đứa em; mấy chục năm rồi, bây giờ bà mới lại đặt tay lên đầu nó đấy. Cái hành vi vô cùng đơn sơ ấy tưởng dễ với mọi người, nhưng với chị em nhà nọ, lại không hề giản đơn đâu. Nghe mà sợ, thiên hạ nghe mà tròn mắt lên, cứ tưởng nói bậy, nhưng mà đúng thế đấy. Đó lại là hai chị em ruột, nhưng thời gian và xa cách với rất nhiều lí do đã khiến họ tưởng không còn chạm tay vào nhau nữa!
- Thế mày nuôi chấy từ bao giờ?
- Nào biết. Có lẽ từ bên kia.
- Nay ai còn thấy con chấy, con rận nữa, mà mày lại có cái giống quỷ quái ấy. Tưởng người Mỹ chúng mày không có chấy, ai hay… - Bà Sửu cười ngả nghiêng – Mày đi nửa vòng trái đất, rồi mang về xứ quê mùa này cái giống đúng là của hiếm.
Bà Sửu chú mục vào mái tóc đứa em gái, tay lần rẽ từng dé tóc đen nhánh, trẻ trung. Năm kia, nó về đây, tóc tai nhuộm đỏ nhuộm vàng, bị bà chửi cho một trận; ý hẳn nay mang cái màu tóc cha sinh mẹ đẻ về để tạ tội đây. Đồ con ranh, tao lạ gì!... Bà Sửu lần nhanh mười ngón tay như múa trên mái tóc Hạnh một lúc, rồi chộp ngay được một con chấy đen sì, béo tròn. Bà chìa con kí sinh trùng của những thế kỉ trước ra cho Hạnh coi.
Hạnh cười nũng:
- Không có chị, chấy nó tha em ra sông.
- Thế mày không gội à?
- Gội mãi, vẫn không hết, thế nào cũng có con trốn thoát.
- Chốc nữa, tao gội cho, nấu nước bồ kết thật đặc, tao gội cho. Xem ra con chấy Mỹ quốc nó quen với dầu gội hoá chất rồi, về đây tao phải trị nó bằng nước bồ kết, cho nó chết.
- Thế chị nhá. Em đi nấu nước ngay giờ nghe chị.
- Đây nữa này. Khốn nạn, em ơi!
Bà Sửu lại đuổi kịp một con chấy đang ra sức chạy trốn trên cánh rừng rậm. Lại một con chấy đực, rất khoẻ, thả ra bàn, nó chạy rất nhanh khiến bà rất ngạc nhiên bởi chấy Mỹ, chấy Tây có khác. Bà lại vạch tiếp mái tóc Hạnh, trong lúc Hạnh lim dim mắt, tận hưởng sự âu yếm từ đôi bàn tay người chị, như tìm thấy kỉ niệm đã đánh mất. Hạnh cảm nhận rõ những ngón tay dịu dàng của người chị đang lần tới đâu. Hạnh chờ tới lúc chị mình sẽ chạm ngón tay vào một nơi trên đầu mình …
* * *
Đang giữa năm cuối Đại học ngoại ngữ, một lần trú mưa dưới mái hiên một toà cao ốc cùng mấy người, Hạnh bị một gã đàn ông từ đâu ngoài ướt mèm xộc vào tí nữa đâm phải. Đó là một “thằng Tây”, tóc vàng, da trắng. Hắn cười tự nhiên, rồi buông một câu ngọng ngang “Xà gon…bát ngờ mư” của một học viên đang theo học ở một trường dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Cơn mưa hôm đó khá dai dẳng, cứ loi thoi không dứt; và khi mọi người đổ ra đường, thì hai anh chị cũng đã ngồi gọn trong một quán café. Anh chàng nhìn sâu vào mắt Hạnh, nhìn mãi, khiến nàng chuyển từ niềm tự hào được ngưỡng mộ sang ngượng ngùng. Nàng đỏ mặt mất một lúc, nói sai nhiều từ tiếng Anh, dù nàng vốn được tiếng học giỏi.
Ball, người Mỹ, sang Việt Nam đã vài năm, làm việc trong tổ chức nghiên cứu thị trường của Mỹ tại châu Á. Chàng bảo chàng rất yêu Việt Nam, và gặp được Hạnh, theo chàng, đó là ý Chúa. Mới đầu Hạnh thấy thế nào, nhưng rồi tình yêu đến lúc nào, chính Hạnh cũng không rõ. Ball nói sẽ cưới Hạnh, đưa Hạnh về Mỹ; nếu Hạnh từ chối, hắn sẽ ở lại Việt Nam suốt đời, không làm gì cả, chỉ lẻo đẻo theo bóng Hạnh cho đến chết, giọng lưỡi cứ y như nhân vật tiểu thuyết Tự lực văn đoàn. Gia đình người thuận người không, nhất là chị Sửu, bà chị cả. Từ ngày bố mất, chị Sửu xắn tay lo toan mọi việc, chỉ huy cả đại gia đình. Bà này máu gia trưởng, trong nhà trẻ già trai gái phải nghe theo răm rắp. Chồng cũng nể, sợ nữa kia. Bà phản đối việc cô em út yêu Ball. Bà đã nhắm cho Hạnh một đám theo bà là tử tế, nên bà đòi từ đứt, bảo nó qua Mỹ thì đừng có vác mặt về nữa!...
Nhưng tình yêu chiến thắng. Cưới xong, Hạnh theo chồng, Ball công cán ở đâu, thi thoảng nàng vẫn bám theo; đẻ hai đứa con trong có ba năm, và Ball rất mãn nguyện, hạnh phúc bên cô vợ da vàng…Vài năm, cả nhà lại về Việt Nam một chuyến, quà cáp đủ cả mọi người xa gần, lớn bé. Bà Sửu vẫn chưa “tha” cũng bởi tại tính nết chàng Ball nữa. Ai đời về quê vợ, mà chỉ ở khách sạn, nhà nghỉ cả bầu đoàn, chỉ tới thăm bà con, rồi đi. Lại rất “thiếu văn hoá”, theo nhận xét của vài ba người, già có, trẻ có. Số là ngay lần về đầu tiên, chàng Ball vô nhà bà chị vợ, tức bà Sửu “quyền huynh thế phụ”, chẳng thưa bẩm ai được mấy câu, rồi lấy khăn lau sạch một vùng nền nhà, rồi lăn ra ngủ khè! Bà con tới thăm, áo quần tề chỉnh, môi sẵn nụ cười, tay sẵn chìa ra, có anh còn tính có khi chàng rể Tây sẽ ôm hôn, nên đã sẵn sàng tư thế; vậy mà chàng rể cứ mặc đồ lót, khò khò giữa gian bảy, bảo ai chịu thấu!
Hạnh khôn ngoan xin đóng góp tiền sửa nhà thờ họ và xây cất khu lăng mộ cho ông bà, cha mẹ rất hậu, nhưng bà Sửu vẫn khinh khỉnh tự ái, không vồ vập, hay bà sợ xấu hổ với Hạnh, thì không rõ.
Hạnh sợ bà Sửu lắm. Lần nào về nàng cũng tìm cách gần gũi, tình cảm đậm đà, thưa gửi đầy đặn, nhưng vẫn không lay. Bố mẹ mất cả, còn mấy chị em với nhau, mình lấy chồng xa, mà bà chị cả không thông cảm, không dung thương, thì buồn lắm. Mình chẳng có lỗi gì, nhưng cứ thấy như có lỗi, cứ lủi thủi khi trông lên bàn thờ cha mẹ, tổ tiên!...Nghĩ mãi, cuối cùng mới tìm ra đối sách.
New York có một cái chợ vốn xưa là chợ của dân lục địa đen bán nhiều sản phẩm của người Phi rất lạ lùng, trong đó có mặt hàng là những con chấy. Nhiều người ở một số bộ tộc xứ nhiều sa mạc, sư tử, cá sấu, linh dương, linh cẩu… từ xưa, cho rằng trên đầu phải có vài con chấy thì tóc mới mượt đẹp, nó như một thứ trang sức vậy; có bộ tộc coi chấy là một vị thần, không dưng tự nhiên trời cho ngự trị trên đầu con người ta sao. Chợ chấy tồn tại đến nay, cố nhiên teo lại, không thu hút lắm, người bán cũng chỉ tự phát làm cái việc giữ lại một thứ bản sắc nào đó, thói quen nào đó và vẫn còn người mua; dân da trắng, da màu, cả lớp trẻ giàu có, ngồi xe xịn đến đây bỏ trăm đô mua dăm chú chấy về đặt lên tóc chơi, rồi thả vào lọ chơi, rất dễ nuôi, một mẩu thịt nâu là cả bầy no nê. Chúng sinh đẻ nhanh, chọi nhau như dế, khá vui mắt…
Ball đi Nhật dự một cuộc hội thảo. Anh đưa vợ con về Việt Nam, gửi lại chơi dăm bữa, đợi anh. Chiều nào hai vợ chồng cũng vào mạng gặp nhau, nói chuyện với nhau trên di động. Ball nói đã mua quà cho cả đại gia đình, hỏi xem cô bác, dì dượng, cháu con ai ưng gì.
Hạnh đã trốn khỏi nhà nghỉ, mang hai con về nhà chị Sửu. Ball không biết. Kể ra anh ta cũng chẳng ngại gì việc vợ con về ở với chị em, chẳng qua do cách sống thôi. Hạnh nói thế cho mọi người rõ, rằng ở Mỹ, họ cũng chẳng sống chung với bố mẹ; cố ông mất rồi, cố bà hiện trong dưỡng lão đường, còn ông bà các cháu sống với nhau trong một ngôi nhà rộng rãi, con cháu đến thăm chơi, phải báo trước, khách, bạn xa tới, cũng cứ xài khách sạn, gặp nhau, làm việc, chuyện trò xong, ai về chốn nấy…
Người bán hơi ngạc nhiên, trao lọ chấy bốn con, hai đực hai mén cho người mua, mà cứ tròn mắt. Bỏ mấy con vật kí sinh lên đầu, Hạnh có cảm giác là lạ, sợ hãi, khiến nàng bật cười. Ôi cha cha! Nó rúc, nó sục, nó tìm cái gì không biết, hay đó là nỗi sung sướng “hổ được trở về rừng”? Thủa nhỏ Hạnh từng bị chấy, nhưng giống chấy “ngoại” này nó khác lắm, nó khoẻ hơn thì phải, hay lạ hơi lạ xứ, nên nó quậy tới số.
Hạnh ráng chịu, rồi chìa mái tóc cho chị Sửu.
* * *
Nồi nước bồ kết pha lá hương nhu màu mật ong, hơi sền sệt nguội dần, làn khói mỏng lụa bay lên vằn vèo toả mùi thơm Hạnh chưa từng ngửi thấy bao giờ. Ngày nhỏ, nhiều lần mẹ nấu nước bồ kết cho chị em gội đầu, nhưng sao chẳng thấy thơm, hay ta quên mất rồi? Lớn lên đi học ngoài thành phố, rồi lấy chồng xa xứ…nhiều chuyện ngày nhỏ có lúc “rớt mạng”, chẳng đầu óc nào nhớ nổi. May Hạnh sinh hoạt trong một tổ chức người Việt, dạy con ở nhà học tiếng Việt, ở nhà còn bàn thờ cha mẹ nên chưa quên quê hương; chẳng như con bạn nọ, phớt hết, “Tây hoá” hết, đến nỗi cái mũi vì đụng dao kéo quá nhiều lần, nên vẹo hẳn, như củ khoai nướng.
Mùi nồi nước bồ kết làm Hạnh cứ rưng rưng, hít đầy ngực, và chực khóc! Bà Sửu dội từng gáo nhỏ lên mái tóc đứa em, bàn tay lần nhẹ từng lọn, rồi dừng lại nơi vết sẹo dài, khá to vắt ngang trên vành tai bên phải. Chải rạch ra, vuốt ngón tay vào, bà Sửu bỗng dừng lại giữa chừng, trong lúc Hạnh im lặng cúi đầu. Đó là lúc cả hai chị em đang cùng nhớ lại một câu chuyện buồn thủa còn bé dại.
Ngày ấy, Sửu mười bốn, út Hạnh thì mới lên năm. Hôm đó hai chị em đang gọt sắn bên cầu ao, thì trời đổ mưa. Cơn mưa đến nhanh, ào ạt, gió cuốn từng nhúm lá bay xoắn trên mặt nước lạnh lẽo. Sửu hối em nhanh chóng thu vén dao, rổ và mớ sắn non tháng nhỏ tí để vào nhà. Cái cầu ao hai tấm ván cũ kĩ trơn nhẫy bàn chân bao thế hệ đã làm con bé lên năm ngã xuống. Hạnh rơi xuống ao, một tay vớ được cái cọc tre. Vứt rổ sắn, Sửu nhảy xuống kéo em lên. Phải nói con bé khoẻ, nhanh. Nắm lấy hai tay em, Sửu nhảy lên chiếc cầu ao đang rung rinh, cứ thế, nó kéo bừa em lên.
- Ôi! Đau em! Đau lắm chị…ơi!
Sửu ngó xuống, thì trên đầu Hạnh máu trào ra đỏ lòm! Hạnh bịt tay đến đâu máu trào ra theo. Thì ra trong khi Sửu kéo Hạnh lên, không hề để ý, nên đầu Hạnh đã va vào sợi dây sắt to bản dùng buộc cầu ao chìa ra sắc như dao!
Vết sẹo trên đầu Hạnh phần nào giống như vết sẹo của cô em bị cô chị chém dao phải khi cùng ăn mía trong một câu chuyện cổ tích rất cảm động.
Bà Sửu nhớ lại tất cả. Hôm đó Sửu đã khóc, khóc mấy hôm nữa, rỉ rả cả tháng nằm khóc, ngồi khóc; và những giọt nước mắt ấy bà đâu có quên. Thỉnh thoảng bà lại vạch mái tóc đứa em tội nghiệp ra xem, sờ mó, cả lúc nó đã là sinh viên một trường đại học. Chỉ từ ngày nó lấy chồng, nó thành “người Tây”, bà mới quên đi. Đấy là Hạnh nghĩ, chứ thực tế ra sao, thì nàng không rõ. Có lúc nàng thấy mình nghĩ thàm thàm, lúc lại thấy đúng, nhất là trước thái độ lành lạnh của bà nhưng dù sao, cái vết sẹo ấy cũng đã mờ đi ít nhiều trong tâm trí một bà già nặng óc bảo thủ, gia trưởng, nếu không muốn nói là “xưa” mất rồi!
Những gáo nước thơm ngọt chảy từ trên đầu, chảy qua vai, tràn xuống ngực Hạnh. Vai Hạnh rung lên bởi cảm giác rất rõ những ngón tay khô khan rất giống bàn tay mẹ thủa nào đang run rẩy trên mái tóc mình!
- Chị có nhớ ngày xưa, mẹ hay nói thế nào về hai bàn tay mình không?
- Quên sao được! – Bà Sửu trở sầu làm bộ giả vui – Nhưng em nhớ cái gì khi mẹ nói về hai bàn tay mình? Có phải nỗi nhọc nhằn?
- Đấy, thế là chị chưa quên. Em cũng thế.
- Em nói coi.
- Là mẹ hay chìa đôi tay ra, nói với chúng ta, rằng mười móng tay mẹ không ra nổi, vì làm việc nhiều đến cùn mòn! Chị em ta cầm hai bàn tay móng cùn sát da, mòn nhẵn của mẹ; nay mới thấm thía.
- Mẹ khổ một đời, làm lụng một đời, không hề biết một bữa cơm no! – Bà Sửu nuốt nước bọt cái ực – Thôi! Đừng nhắc nữa, tội lắm!
Thế rồi hai chị em ôm nhau khóc, nước mắt trộn nước bồ kết, hương nhu, tóc tai dính bết, em ướt, chị cũng nhoè nhoẹt mặt mũi, áo xống!
Hạnh nói sang chuyện khác:
- Em kể chuyện chị em ta rửa sắn cho Ball nghe. Em muốn đi tiệm cấy tóc chỗ vết sẹo, nhưng Ball ngăn, bảo vớ vẩn hoàn toàn, có khi còn nổi đoá bảo em ngốc nghếch…
- Nó tốt, chị biết, nhưng cứ thấy sao ấy.
Hạnh cười, vén áo ngồi dậy, chải tóc, thu dọn mọi thứ:
- Chị hiểu thế là em mừng rồi. Cách sống, hay như người ta nói là văn hoá khác nhau mà. Ngay mình với nhau, cũng người một cách, mình với ta tuy một mà hai mà…
-Chị hiểu – Bà Sửu thành thật - Đến em …có khi, nói thật chị cũng tưởng…
Hạnh trao chị chén nước, cười:
- Không những em, mà con em, rồi em cũng dạy nó phải hiểu những gì cần hiểu để nhớ về quê mẹ.
Bà Sửu cười, nhay ngón tay lên mái tóc Hạnh:
- Phải cho các cháu biết lục tích cái vết sẹo trên đầu mẹ nó.
- Em kể cho nó nghe cả rồi. Nó không biết củ sắn là gì, cầu ao là gì, rổ rá là gì cả. Đúng trẻ con.
- Mai mốt về Mỹ, nhớ mang theo một bó bồ kết mà gội đầu.
- Bên đó cũng có. Em sẽ mua dùng.
- Chị bày cho em cách nấu đi. Mẹ xưa cũng nấu nước bồ kết, nhưng sao em thấy không thơm.
Bà Sửu lại cười:
- Em quên đó thôi. Những gì chị làm, đều từ đôi bàn tay không bao giờ mọc nổi một cái móng tay của mẹ dạy cả!
H.T.S