|
C |
ầm nắm hương cháy đỏ trên tay, tôi kính cẩn vái lạy các bậc gia tiên, vừa quay lại đã có bàn tay đặt lên vai. Một ông lão râu tóc bạc phơ. Người này là ai? Phải sau một lúc tôi mới xác định được đó là anh Đàn người ở trong làng. Sáng hai mươi tám Tết này anh cũng đi thắp hương viếng mộ ông bà mời về ăn Tết. Anh hơn tôi chừng mười lăm mười bảy tuổi; tuy vậy hồi ấy cứ xưng anh em cho tiện trong công tác. Vì tôi là tiểu đội trưởng dân quân. Anh Đàn là tổ trưởng tổ an ninh nhân dân của làng. Anh và tôi thân thiết nhau như hình với bóng, đi đâu cũng cùng nhau, làm gì cũng có nhau để khi có việc của làng thì tiện bàn bạc phân công giải quyết. Có một người nữa cũng phải nhắc tới đó là anh Mu. Tôi và anh Đàn rất ghét anh Mu, chỉ muốn anh chết quách đi cho rảnh. Ba con người này tính tình không hợp nhau mà tâm tưởng lại quấn buộc nhau. Lúc sống là vậy, lúc kẻ mất người còn vẫn vậy, cho đến nay cách độ ấy gần ba mươi năm cũng vẫn như vậy. Tuổi tôi bây giờ đã xế chiều cho nên anh Đàn lên lão. Tôi bắt tay và ôm ghì anh vào lòng. Sau một lúc anh đẩy tôi ra, tay vẫn nắm chặt tay như thể sợ vùng bỏ chạy:
- Tao tưởng mày quên tao rồi.
- Quên thế nào được. Không bao giờ!
- Thế mày còn nhớ thằng Mu không?
- Sao lại không. Nhớ hơn ai hết nữa chứ.
- Tại vì mày cực đoan với nó chứ gì. Thôi, không nói chuyện loanh quanh nữa, ta đi thắp cho hắn nén nhang, ở đấy hoang lạnh đơn côi quá.
Anh Mu cũng độ tuổi anh Đàn, hồi ấy chừng ba mươi. Mu có khổ người to, mặt thịt là thịt. Bản mặt ấy kiểu như đần, lỳ. Có lẽ vì vậy nên xã không gọi anh đi bộ đội, ba sẵn sàng, hoả tuyến cũng không. Anh Mu mà đi bộ đội, hoả tuyến chỉ tổ vướng víu đồng đội. Hồi này ở quê đại bộ phận là đàn bà con gái. Còn lại người đàn ông nào đều sung vào các tiểu đội dân quân tự vệ cứu sập hầm, cứu hoả hoạn. Chọn mấy người sức lực còn khá gánh hai việc vừa là dân quân, vừa là an ninh viên. Anh Mu thuộc diện này. Đàn ông không vợ không con, béo như con trâu mộng nếu khéo động viên ắt làm được nhiều việc. Chẳng hiểu sự thể thế nào, từ ngày được đứng vào tiểu đội dân quân, anh Mu báo cáo có tật hay đau bụng. Căn bệnh thật lạ, đang yên đang lành đấy tự nhiên đổ đau lăn quay ra đất. Y sĩ khám không thấy bệnh. Mặc kệ, cứ để anh nằm một lúc lại khỏi. Nhiều lần như vậy rồi, ai rỗi mà chăm sóc. Mà có rỗi cũng chẳng ai hoài công. Chẳng rõ do chiến tranh đánh phá của giặc Mỹ ngày một ác liệt hay do từ khi ở làng có cái kho lương thực của trạm trung chuyển đặt mà máy bay Mỹ dò la dữ quá. Vào một đêm hạ tuần tháng sáu nóng bức, gió Lào ngút ngát, rơm rạ lá cây khô quắt, độ sáu, bảy giờ tối chỉ nghe tiếng máy bay vẩn vơ đâu rất xa, bất ngờ, tiếng máy bay phản lực xoèn xoẹt ngay trên ngọn cây. Chỉ nghe tiếng nổ bụp như là bom tịt. Tiếp ngay một loạt tiếng nổ đanh chan chát suốt dọc làng Lệ. Đã quen với các tình huống đánh phá của giặc, người ta hiểu ngay đó là bom bi. Sau một loạt bom nổ, một vùng trời đất sáng rực do nhà bị cháy và lá khô bắt lửa. Gió hùa vào làm cho ngọn lửa lan ra rất nhanh. Tiếng khóc than, kêu la thảm thiết khắp cả vùng. Dân quân du kích có ngay những chỗ cần cấp cứu. Trong lúc hỗn độn táo tác như vậy, tôi nghe phía nhà ông A vắng ngắt. Ngôi nhà lợp rạ đã cháy tới nửa mái. Gió đưa ngọn lửa phừng phực đỏ loét liếm nốt những phần mái còn lại và phả lên trời từng quầng lửa đỏ lòm. Với phản xạ bản năng, tôi hét:
- Cứu hầm ông A!
Tới nơi thấy hầm ông A không bị sập mà đầu miệng hầm có một quả bom bị nổ khoét cái hố nhỏ trên mặt đất như cái ổ gà. Cây cỏ quanh đấy cháy sém hết. Cả nhà ông A năm người đều bị sức ép và ngạt khói ở dưới hầm. Sau khi đưa họ ra, bốn người được sơ cứu tỉnh lại ngay. Bà cụ yếu lả quá phải đi cấp cứu trên trạm xá của xã. Mọi việc xong đâu vào đấy, chúng tôi liền đi cứu kho thóc. Rất may, kho thóc chưa bị bén lửa. Mọi người tản ra các nơi chữa cháy nhà dân. Anh Đàn chất vấn tôi:
- Thế thằng Mu đâu?
- Ừ nhỉ. Từ đầu đến giờ chẳng thấy thằng Mu, hay là có chuyện gì rồi? Chúng tôi đến ngay nhà anh Mu. Nhà làm tạm bằng cái chuồng trâu âm u, buồn bã, im phắc như chỗ không có người. Từ xa tôi đã gọi:
- Anh Mu ơi.
Đàn gọi theo giọng hách dịch:
- Mu. Thằng Mu đâu rồi?
Vẫn im lặng như tờ. Tôi đâm nghi:
- Có lẽ anh Mu đi cứu hoả rồi.
Đàn quả quyết sục xuống hầm. Sau một lúc nghe dằn giọng chì chiết:
- Mu. Tại sao mày không đi cứu hoả?
- Đau bụng.
- Không đau lúc nào lại nhằm lúc máy bay đánh mà đau. Lừa đảo. Quân lừa đảo!
Vừa ngoi lên khỏi hầm, Đàn bước đi phăng phăng, tức lắm. Tôi và anh tiếp đi cứu sập hầm, chữa nhà cháy, chôn cất người chết ngay trong đêm. Làng xóm ngổn ngang tơi bời. Dân quân du kích kết hợp với tổ an ninh nhân dân chia nhau đến từng nhà động viên an ủi. Mỗi người tự ghìm nén đau thương vào trong để cùng nhau chung lưng đấu cật bám ruộng đồng mà sản xuất thâm canh, sẵn sàng chiến đấu phục vụ chiến đấu cho tốt. Khi xóm làng tạm bình ổn thì mặt trời đã lên độ vài cây sào. Mệt rã rời, người ngợm nhầy nhụa mồ hôi và bụi đất, anh Đàn và tôi vẫn gắng đáo qua chỗ anh Mu một chút. Không may anh ấy bị đau nặng thì cho đi viện. Đi từ xa đã thấy căn nhà của anh trống toang trống hoác. Giữa mùa nắng non, ai nấy tháo hết phên rèm xung quanh nhà cho khỏi bị bắt lửa. Quái lạ, ai như anh Mu ngồi một mình. Làng xóm tan nát, tiêu điều vậy mà anh bình chân như vại. Cách như là đang ăn cơm. Đúng là đang ăn cơm. Tay cầm cái đùi gà đưa lên miệng vừa nhai uể oải vừa nhìn chúng tôi. Tôi thấy gai người. Vừa bước vào nhà, anh Đàn đã nói như quát:
- Mu! Tại sao mày không đi cứu người, không đi chữa cháy? Mày có còn là con người nữa không?
Mu vẫn ngồi ăn như không nghe gì, cũng chẳng chào hỏi lấy một câu. Con người mà như gỗ đá. Tôi lắc đầu ngao ngán. Đàn nhìn quanh nương hoang cỏ rậm rồi hỏi:
- Mày không nuôi gà. Vậy gà đâu mà mày ăn thịt?
- Tôi thấy xử sự của anh Đàn hơi thô bạo, cơn giận cứ phừng phừng nên bào chữa xoa dịu:
- Có thể mua hoặc là ai cho, phải không anh Mu?
Anh Đàn nói át qua:
- Chợ búa không có. Trong xóm ai bán mà mua? Ai dư của mà biếu? Ăn cắp thì có. Tao phải cho gô cổ mày lại.
Bây giờ Mu mới lên tiếng giãi bày:
- Bom nổ, lợn gà trâu bò chết, không ăn để cho thối phí à?
Nói xong anh liền cầm cái đùi khác lên cắn, nhai ngon lành. Tôi lắc đầu, kéo tay anh Đàn cùng đi theo. Nếu nán thêm một chút nữa anh Đàn “phổi bò” không tự kiềm chế được ắt sẽ bồi cho Mu mấy bạt tai. Để xảy ra như vậy thật là quá thể. Mình là người cán bộ phải kiên trì giáo dục, vận động. Nói năng gây áp lực đã không nên huống nào đánh người? Mà đánh người giữa bữa ăn lại càng tội nặng. Nhưng làm sao ở đời lại có người vô tâm như vậy? Hồi đêm chưa chắc anh Mu bị đau bụng mà do sợ chết nên nằm lỳ trong hầm. Đã mấy lần đưa Mu ra cuộc họp tiểu đội dân quân. Người ta chỉ trích phê bình. Mu cứ ngồi nghe chẳng nói chẳng rằng. Cuối cùng tật đâu lại chứng đó. Lúc trước Mu có tên trong danh sách tổ an ninh nhân dân nhưng gần đây bị loại trừ. Con người chây lười như thế đi làm dân vận ai mà nghe theo? Vẫn biết anh như vậy nhưng trong làng chẳng còn mấy người đàn ông, tôi để anh sinh hoạt trong tiểu đội dân quân, tập thể có thêm người làm việc mà cá nhân anh cũng khỏi đơn lẻ tủi thân. Bây giờ chưa biết cách nào giáo dục anh đây. Dù sao tôi vẫn đinh ninh rằng con người chứ không phải vật vô tri, kiên trì cảm hoá họ bằng thuyết phục và ngay cả việc làm bảo vệ lợi ích cho họ nữa. Đã làm người thì không từ bỏ con người. Nghĩ như thế và đôi lúc tôi cũng tâm sự với anh Đàn như thế. Nhưng anh Đàn không chịu nghe, tính anh bộc trực, thẳng thắn, xông xáo công việc. Những người không hợp gu với anh thường bị nhắc nhở. Hai chúng tôi có tính cách khác anh Mu, thế mà hễ vỡ việc ra là y như cả ba người đều có mặt trong tâm tưởng của nhau. Chúng tôi căm tức anh Mu tại sao không chịu đi làm việc chung. Còn anh Mu hẳn sẽ khó chịu vì nghĩ thế nào cũng bị tôi hoặc anh Đàn đến quấy rầy. Tôi có ý nghĩ khá khôi hài và khá cực đoan. Tôi ví ba chúng tôi là ba bánh răng cưa mới ráp vào một cổ máy lúc đầu còn chệch choạc nhưng mà trói buộc nó cứ phải chạy với nhau, chạy mãi, mòn sẽ khớp nhau. Chung quy lại, mọi người nên chiều nhau để mà sống. Thế nhưng tư tưởng ấy có lẽ không được ông trời chấp nhận. Bởi vì anh Mu cứ tiếp làm những việc trái khoáy. Theo đó, anh Đàn lại phê phán. Anh Đàn phê bình chỉ trích anh Mu âu cũng là chĩa mũi nhọn sang phía tôi. Anh cho rằng tôi có tư tưởng trung dung, muốn mọi người đều phải hạnh phúc tốt đẹp cả là hão huyền. Dẫn đến như vậy cũng do xảy ra chuyện quái gở sau đây: Hôm ấy độ chừng nửa đêm, chẳng hiểu cơn cớ gì mà máy bay bay loạn xạ. Pháo sáng tầng thấp tầng cao đợt này cháy sắp tàn, chúng tiếp thả đợt khác. Kể chuyện lan man thêm ra một chút. Phế liệu pháo sáng rất được ưa chuộng. Vải dù làm vỏ chăn hoặc quàng cổ ấm mùa lạnh. Thùng đựng nhiên liệu cháy sáng bằng thứ nhôm đặc biệt dùng gò thành thùng gánh nước, soong nồi nấu ăn, thau chậu...đã đẹp lại bền. Treo pháo sáng là cách chơi trò ú tim thật đáng sợ, máy bay liệng quanh chẳng biết đánh vào đâu. Mọi người núp ẩn dưới hầm gần như thót tim mỗi lúc máy bay sà thấp. Bỗng nghe tiếng kim khí xé gió vun vút, ràn rạt. Một loạt bom nổ vỡ trời chuyển đất. Một vài phút lặng ngắt như tất cả nín thở. Lại nghe tiếng máy bay hun hút từ trên cao bổ nhào. Một loạt đạn rốc két bắn dọc làng. Rồi tiếng máy bay lảng ra xa. Mấy chiếc đèn dù cháy sắp tàn đỏ quạch ngoằn ngoèo trên bầu trời như con giun phải nắng ngắc ngoải. Làng đỏ lòm màu lửa. Tôi phóng ngay đến đám cháy lớn ở bìa xóm. Vì ở đó có kho dự trữ thóc gạo của nhà nước. Một bóng người chạy loắng ngoắng phía ánh lửa ngược lại phía tôi.
- Ai? Tôi hỏi
Người này nói trong hơi thở gấp:
- Kho thóc không việc gì. Nhà ông Tháo cháy gần hết không cứu nữa. Đi cứu hầm ông Bạo, sập rồi.
Tôi và Đàn phóng về phía nhà ông Bạo. Một quả bom làm sập hai cái hầm của hai nhà ở cạnh nhau. Hầm bị nhẹ hơn đã cứu được người, hầm nhà ông Bạo đã bị đất vùi lên nhiều nền phải đào khá lâu. Tuy nhiên vẫn nghe tiếng kêu cứu yếu lã ở dưới hầm. Đào bới khẩn cấp một lúc rồi cũng kéo được người lên. Đàn ông trong làng đủ mặt, chỉ thiếu anh Mu. Trong bóng tối, một giọng đàn ông căm phẫn:
- Tôi đề nghị kéo thằng Mu ra đây chặt làm ba khúc!
Tiếng những người khác:
- Bây giờ thằng Mu ở đâu.
- Xin các ông hiểu cho, thằng Mu đang lượm dù pháo sáng trên Động Cao kia kìa.
- Làm gì có chuyện ấy nhỉ?
- Ai không tin thì đi mà xem.
Tôi bán tín bán nghi nên cùng Đàn đến ngay nhà anh Mu. Đúng chóc, Mu đang tháo dây dù ra khỏi mối vải và cái ống liều thuốc cháy ngay nơi cửa hầm. Tại sao ở đời lại có con người vô lương đến thế? Đối với tôi, chỉ nghĩ như vậy là đủ. Anh Đàn không cho qua chuyện này:
- Mu. Mày là thằng tham lam. Cái dù nơi Động Cao thì mày cố mà đi lấy, trong lúc quanh xóm người chết, nhà cháy thì mày chẳng đoái hoài. Mẽ! Tao phải đốt cái dù này.
Anh xông vào định ôm cái dù đi. Tôi ngăn lại. Để anh Đàn làm càn sẽ sinh chuyện khó xử trong nội bộ làng xã. Có bao nhiêu trí lực thì dốc ra mà đối phó với giặc. Chuyện giữa anh em mình để sau lại hay. Biết đâu từ chuyện này mà anh Mu đổi được tính nết? Xử sự như vậy là ổn. Nhưng khổ thay cách mấy ngày có người báo anh Mu đưa cái ống liều pháo sáng bán cho ông thợ gò hàn làng bên được những bảy chục bạc. Ngần ấy tiền mua được hai tạ thóc. Hời quá. Trách ông trời hành xử quá bất công. Nhà thì người chết, mất của, kẻ lại được hưởng lợi. Thì cũng tại trên ông trời chứ phải đâu ở dưới trần? Chỉ trách con người ấy ích kỷ. Lời này tiếng nọ đối với ai chứ anh Mu thì cũng bằng thừa. Nhưng mà miệng tiếng người đời sắc như con dao cau chứ không phải ngọn gió thoảng.
Mấy ngày sau tình hình thấy yên hơn. Máy bay giặc Mỹ vẫn bay qua vùng này nhưng ở tầm cao mà bay thẳng. Rồi thế nào nó cũng quay lại đánh. Như những dạo trước, cứ để dân ta tược sức, che chói được nhà ở tạm, trồng trỉa cây trái lúc đó chúng đánh. Như vậy, sức tàn phá mới lớn. Bọn giặc quỷ quyệt như vậy đấy. Rồi một ngày gần như hoà bình. Từ sáng đến tối tuyệt nhiên không nghe tiếng máy bay. Ngoài trời chỉ nghe tiếng côn trùng râm ran và lâu lâu có tiếng cành lá xào xạc. Độ mười giờ đêm, máy bay từ đâu đỗ ào tới. Chúng rắc đèn dù dọc làng. Ánh đèn vừa sáng tỏ mặt đất, máy bay đã bổ nhào và xả luôn một loạt rốc két, lại một loạt nữa. Phía trận địa trực chiến của xã bắn trả quyết liệt bằng súng 12,7 ly. Chẳng ăn nhằm gì. Đợt đèn sáng lúc đầu cháy tàn, chúng thả đợt khác. Chúng thả liền hai quả bom cháy đầu làng, cũng là đầu ngọn gió. Loại bom này đựng chất cháy. Bom nổ, chất cháy tung toé ra tứ phía, sẵn ngòi lửa thế là bắt cháy cả vùng. Chúng bay liệng vài ba vòng nữa rồi biến đâu mất. Tôi vội vàng chạy tới nhà anh Mu. Lần này thì phải kéo anh cùng đi chữa cháy. Cần tạo cho anh cơ hội lập công để trả miệng tiếng bà con trong làng. Vừa tới nơi đã thấy anh ôm cái bọc và một cái liều pháo sáng ở đâu cũng vừa về.
- Cái gì thế? Tôi hỏi.
- Phế liệu chiến tranh.
Anh trả lời mau mắn hơn bao giờ hết. Tôi hiểu đó là lời thanh minh. Quanh đây chẳng ai có gì quý giá để nghi ngờ anh Mu ăn trộm. Chẳng nhẽ đi nhặt đồ phế liệu thì được mà đi cứu hầm sập, chữa cháy lại không? Nghĩ vậy, tôi chạy tạt qua góc vườn vừa bảo:
- Để đồ đấy mà đi cứu cháy. Nhanh lên.
Không nghe anh trả lời nhưng tôi chắc mẩm anh Mu sẽ làm theo lời tôi. Thoáng nghĩ, máy bay bắn không sập được hầm, ngay lúc này phải đi cứu kho thóc Nhà nước. Đúng là kho thóc đã bén lửa. Do người đến khá đông và dụng cụ cứu hoả nhờ chuẩn bị trước nên dập tắt được đám lửa. Có tiếng gì như tiếng ống tre cháy nổ ở đâu đó xa xa. Trong các đám cháy lớn thường có những tiếng nổ như vậy. Sau một lúc, từ phía nhà Mu có tiếng léo nhéo của phụ nữ:
- Cứu với!...Làng nước ơi, anh Mu....
Chưa rõ sự thể thế nào, mọi người cũng đổ về phía nhà anh Mu. Đó là sự phản xạ tự nhiên của con người trong chiến tranh. Tinh thần cứu người là trên hết bất luận đó là ai và làm việc gì. Mọi người tới nơi thì thấy anh Mu nằm úp sấp trên nền đất bên miệng hầm. Quanh đó, mọi thứ bị hun lửa và mấy mảnh vải dù cháy lem còn sót lại. Ai cũng biết rằng, anh Mu nhặt được cái đèn dù pháo sáng bị hỏng. Do anh mày mò đụng phải kim châm hoả cho nên gây nổ. Sự im lặng xảy ra nặng nề và thiêng liêng trong vài phút. Không có ai nói gì, chỉ nghĩ việc chôn cất anh Mu ngay trong đêm, ngày không tụ tập đông người được. Tôi và anh Đàn cùng tốp thợ mộc kiếm ván đóng cho anh Mu một cổ áo quan. Mấy nữ thanh niên ra cửa hàng mua bán của xã lấy vải liệm, lại kiếm nồi lá thơm tắm gội cho anh trước lúc vĩnh viễn rời cõi trần. Một tốp thanh niên lên Động Cao đào ngay cái huyệt. Một số khác làm rạp che sương và bàn thờ đặt bát cơm cuối cùng cho anh. Mọi người chia nhau theo các phần việc đã sắp đặt. Ngôi mộ của anh Mu vừa đắp xong thì trời cũng vừa sáng.
Tôi và anh Đàn đứng song đồng tưởng niệm anh Mu. Làn khói sương mỏng tang tản mác như hữu hình và vô hình. Có điều gì từ dưới âm phủ gửi nhắn lên chăng? Người dương gian kẻ âm phủ, gần kề đây mà cách mặt ngàn trùng. Ngậm ngùi khôn nguôi. Tôi im lặng quay gót như đi trong hư không. Tiếng loạt soạt bước chân làm tôi sực tỉnh. Thì ra anh Đàn vẫn bên đây, tiếng anh thì thào như xúc động điều gì:
- Mày nhớ không. Hồi ấy tao với mày cứu người, cứu nhà cháy giữa muôn trùng bom đạn, hàng ngàn ngày đáng phải chết. Trăm lần đáng chết, thế mà không chết. Tại sao nhỉ?
Tôi thật sự quý mến anh nên trả lời vô tư:
- Tại vì anh đã chăm lo đến mọi người cho nên ông trời để sống. Chỉ lý do ấy chứ tôi và anh tài cán gì đâu, đúng không?
- Anh im lặng, hình như suy nghĩ điều gì.
H.V.B




