- Phải đi thôi mình ạ! Thị bảo chồng như vậy.
- Lên rừng hay xuống biển? Gã càu nhàu hỏi vợ, rồi nhìn vào cái bụng bắt đầu nổi của thị.
Đây là quê gã. Mảnh đất người đời bảo là “chôn rau cắt rốn”. Mảnh đất gọi là chôn rau cắt rốn của gã, sau mỗi cơn mưa rào là sỏi đầu ruồi nổi lên đen xì, vốc một cái là được cả nắm, không dưới trăm lần gã bảo “khó sống” thị vẫn nằng nặc bắt gã đưa về. Vậy thì, vì lý do gì thị lại bảo gã đi? Gã khỏe như trâu, đi đâu làm gì gã không ngại, gã ngại là vì thị. Bụng mang dạ chửa thế kia, đi đâu bây giờ? Thà rằng cứ ở lại thành phố, hàng trăm người không nhà không cửa, chứ riêng gì vợ chồng gã, “giàu nhà quê không bằng lê la thành phố” cơ mà.
Thị nghĩ khác. Thuyền theo lái gái theo chồng. Thị chấp nhận điều đó. Bởi, thị muốn có một nơi mà đi về, để mà sinh sôi, để mà gửi thân, gửi xác. Thị yêu gã. Một tình yêu trong trắng và mong muốn được hiến dâng. Cho dù sự hiến dâng của một con bán rau cho gã đạp xích lô, hơn đất ở chỗ là biết nói. Thị đòi gã cho về quê, vì thị đã vã vào mồm con nhãi ranh, dám bảo thị là quân đầu đường xó chợ. Thị đòi gã đưa về quê vì thị xấu hổ. Mỗi lần vợ chồng ôm ấp nhau là sợ có kẻ dở hơi đứng rình, rồi đem cái sự trời sinh cho con người mà diễu cợt vợ chồng thị là trai tứ chiếng gái giang hồ. Mặc dù thành phố là nơi thị nương tựa những ngày đầu biết thế nào là bơ vơ, thế nào là đất khách quê người. Nhà quê, tuy nghèo nhưng không có những tai ương kia.
Giàu hai con mắt khó hai bàn tay, vợ chồng thị có đủ các yếu tố cấu thành một con người. Vậy mà…Thị nhìn gã bưng cái rỗ, trong đó lỏng chỏng mấy củ sắn, luộc khá kỹ mà vẫn cứng lều. Thị không phải loại người ù lì, được chăng hay chớ. Nếu thị thuộc loại người an phận thì không bao giờ phải bỏ quê ra đi.
Thị dõi mắt về phía con dốc thoai thoải, chạy về phía bờ sông, nước lúc nào cũng đục ngầu phù sa. Nơi con dốc và bờ sông gặp nhau có cái vụng nho nhỏ. Cái vụng nho nhỏ không bao giờ lặng, bởi nước dòng sông xô vào chân mõm đồi và dập dềnh bọt nước đen đen màu bồ hóng. Nếu được con thuyền, vợ chồng thị sẽ quen dần chân làng này.
- Đi mua thuyền? Thị kéo gã. Trong lúc gã nhồm nhoài nhai sắn.
- Tiền đâu mà mua? Gã làu bàu.
Thị vỗ vào thắt lưng, nơi cất những đồng tiền, trước khi trở về quê chồng.
Chủ con thuyền là lão Thiện. Ông lão ngã bệnh vì nghề buôn lênh đênh sông nước và dãi đầm sương. Thấy vợ chồng thị đến hỏi mua thuyền, ông lão ngồi dậy. Tiếng ông đứt quãng vì cơn ho khò khè.
- Nghề sông nước vất vả, bất trắc liệu vợ chồng chị có kiếm nổi miếng ăn không?
- Bác kiếm được thì vợ chồng cháu sẽ cố, bác à! Thị ngồi xuống cạnh ông lão và xoa ngực cho ông. Thị làm thế là thị khôn. Nịnh người mới được việc mình.
- Thuyền để không mãi rồi cũng hỏng, vợ chồng thị làm ăn được thì lấy mà làm, khi nào có tiền trả lại gốc cho tôi. “Sinh ư nghệ, tử ư nghệ” đấy, chị à!
Ông Thiện gục xuống ho. Cơn ho khan như rút ruột, rút gan ông lão. Sau cơn ho ông lão hổn hển kể cho thị nghe khó khăn của nghề sông nước. Không phải lão có ý dọa, thực lòng là ông lão muốn truyền nghề cho vợ chồng thị. Nghề nào không có bí quyết. Thị khóc. Nước mắt thị rơi vào những đồng tiền vừa trao cho ông lão.
“Sinh ư nghệ, tử ư nghệ” . Vợ chồng thị làm nghề buôn đò dọc từ đó.
- Trời đất như con B…Thuyền ngược thì gió xuôi, thuyền xuôi thì gió ngược! Gả lủng thủng chửi trời, chửi đất trong lúc hai vợ chồng gò lưng, khoác cái dây thừng lên vai, kéo thuyền ngược dòng. Nơi đây bờ sông bằng bịa chứ gặp nơi gập ghềnh, không biết gã còn những gì vung ra chửi đây.
Thị lặng lẽ, tưởng như giọt mồ hôi sẽ rơi một tiếng “xèo” xuống nền cát giữa cái nắng chang chang trưa hè. Nhưng giọt mồ hôi của thị rơi âm thầm như cây cối hai bên bờ sông, rũ rượi vì nóng và nắng.
Nắng dãi thì mưa dầm. Chớm chiều, trời đổ cơn giông. Chợ mạn ngược mươi ngày mới nhóm họp một phiên. Sáng mai chợ rồi, phải cố gò cái lưng để trần, nhấp nhô kéo thuyền giữa trời giông gió.
Thị lúi húi che hàng trong thuyền. Bỗng thị thấy đau nhói bụng dưới. Cơn đau của thị mỗi lúc mỗi dữ dội hơn. Lưng thị sụn xuống. Cơ trên bụng giật nháy liền liền. Thị tưởng như nghe rõ một tiếc “oạc” rùng rợn vừa vỡ ra đâu đó.
Thị sờ đũng quần ướt đầm và nhớt nhèo. “Đẻ non rồi!”. Thị tựa vào mạn thuyền gọi chồng. Gió to, ấn tiếng gọi của thị trở về nơi bật ra.
Thị ngó xuống sạp thuyền. Con thị nằm đó nhưng không cựa quậy. Có lẽ thằng bé chết ngay sau khi ra khỏi bụng mẹ. Mưa và gió vẫn ràn rạt trên mui con thuyền.
Trời sập tối. Mưa gió thì vẫn mịt mùng. Gã trần trùng trục ôm con, nhảy lên bờ. Gã bới cát , vùi giọt máu không thành xuống đó.
Chuyến hàng ngược đó vợ chồng thị lõm tận xương tủy. Đau nhất là thị mất con. Một con sa bằng ba con sống, thị tưởng còn lâu mới mò dậy nổi. Cũng hay là trời sinh ra thì trời lại dưỡng, uống hai thang thuốc, chẳng rõ là Bắc hay
- Tính kỹ chưa, không lại đánh nắn không đút nút? Gã lại làu bàu. Hình như một ngày không làu bàu một lần là gã ăn cơm không ngon.
- Tính rồi! nỡm ạ! Thị chuyển hướng. Không buôn bán nữa mà chở đò dọc. Hồi đó các phương tiện tham gia giao thông, chưa được đông đúc và chen lấn như bây giờ. Chở khách ngược xuôi may ra kiếm được. Mà không có khách thì chỉ mất công, không mất của như đi buôn. Thử lần nữa xem sao? Thị ngẫm lời ông lão Thiện. Kiếm nổi miếng ăn nào có dễ.
Thị vốn đẹp, Sau lần sinh nở không thành thị càng đẹp hơn. Làm nghề thì phải chiều khách. Mấy tay khai thác lâm sản, mỗi khi thuê chở đồ nghề lên mạn ngược là bu lấy thị tán tỉnh. Có tay còn liều lĩnh bẹo má thị ngay trước mặt gã. Chuyện bờm sơm đó, thị cho là thường tình. Mất gì. Làm hoa cho người ta hái, làm gái cho người ta trêu nào ngờ gã nỗi máu ghen. Những người như gã thường cục tính. Mà cái cục nảy ra trong cơn ghen thì khôn lường. Suốt mấy ngày gã lì lì bản mặt. Gã có thể đấm vào mặt bất cứ người đàn ông nào bước lên thuyền. Để gã hục hặc, bậm bục, mất khách. Thị nổi cáu, chống thuyền ra giữa dòng sông. Thị tuột hết quần áo trên người vỗ bành bạch vào bụng. Thị rít giọng đay đả gã:
- Đây không phải giống đĩ. Đây đĩ thõa không đến cái mặt…Thị chống nẹ, đến gần gã hơn - Nào, có sức thì vày vò cho thỏa đi. Không đủ sức vày vò thì bỏ ngay thói ghen bóng, ghen gió cho người ta nhờ. Gã không dám nhìn vào mặt thị, lùi lũi chui vào khoang thuyền nằm.
Thị đâu có ngờ sau lần gọi là to tiếng với gã, thị mất chồng vĩnh viễn. Gã không ốm. Nếu gã ốm, thị có thuốc thang, không đễ gã ra đi nhanh đến vậy.
Tối hôm đó, sau khi đổ hết khách xuống bến, gã kêu đau bụng, chui vào khoang đi nằm. Thị cũng mệt, sau một ngày ngược dòng, không gió, ngủ thiếp đi.
Sáng hôm sau, thấy gã có vẻ bề bệt, thị chạy lên bờ, nhờ người khiêng đi viện. Chưa đến được nơi cần đến thì gã tắt thở. Cho đến tận bây giờ thị vẫn không rõ gã chết vì chứng gì. Thị chùi nước mắt, nhờ người khiêng gã trở về thuyền. Hồi còn sống, thị bắt gã đưa thị về quê sinh sống, giờ gã đã chết, thị phải đưa bằng được gã về quê thì mới yên lòng.
- Chị này thật lạ, chồng chết mà chỉ sụt sịt! Người đàn ông còn trẻ, thị nhờ người khiêng gã đi viện rỉ tai người đứng tuổi.
- Đất khách, quê người khóc lóc ầm ĩ thì được gì. Nuốt nỗi đau vào lòng như chị ấy mới giỏi. Mày rơi vào hoàn cảnh của chị ấy, không đái ra quần, tao không phải giống người! Người đứng tuổi nói vậy.
Thị lững thững đi sau hai người đàn ông, với nỗi lòng tan nát.
Nghĩa tử là nghĩa tận. Hai người đàn ông không nở để chị đi một mình. Họ cùng thị khâm liệm cho gã bằng tấm buồm nâu, vợ chồng thị đã dong duổi kiếm ăn. Đêm đó trời không sao. Tiếng con vạc rơi vào khoảng không thăm thẳm. Con thuyền tang tóc, từ từ trôi xuôi. Thị thít tấm khăn tang lên đầu, năm đó thị tròn hai hai tuổi.
Chồng chết, cuộc đời thị một nửa gói trong kỷ niệm, nửa đời còn lại nặng nề như thuyền ngược dòng, ngày không gió. Chồng chết, không người đứng mũi, chịu sào, thị quay về cái vụng nho nhỏ, ngày xưa ông lão Thiện dìm con thuyền, mở bến chở đò ngang.
Đò ngang là chốn đi về của khách. Cái bến cũng có người tốt, kẻ chẳng ra gì như vòng đời quay quắt. Tang chồng còn chít trên đầu, thị đã phải lãng tránh những cái nhìn, khiến thị phải lần ngực, ngỗ nhỡ có cái khuy áo nào đó buột ra.
Giữ gìn ngữ đó mà thị đã yên phận đâu. Thị lợm giọng, mỗi khi tay bán thịt chó, tán tỉnh dai như con đỉa. Cái quán thịt chú của hắn mở sau khi bến đò ngang của thị mở được hơn tháng. Cái quán là một loại tầm gửi nhưng lại là láng giềng của thị. Mỗi lần tay thịt chó tìm cách tán tỉnh, thị cố cười cho qua chuyện. Ở với láng giềng sao cho phải là điều rất khó.
Đêm. Trăng trải trắng mặt sông, nước lững lờ chảy xuôi. Gió mới đầu hây hẩy, rồi sau đó se se cái lạnh đầu mùa. Thị nằm ngủ trong khoang. Một giấc ngủ sâu, sau một ngày chèo chống vất vả. Hình như có cái gì đó, lần từ ngực chị trở xuống? Thị giật mình chộp được bàn tay ở gần chỗ đó.
- Đồ đểu, định làm gì hả? Thị sốc lại áo quần. Mắt như đổ lửa vào khuôn mặt nhăn nhở cười.
- Buổi chiều chả cười với người ta là gì? Gã bán thịt chó lỡm lờ.
Buổi chiều…Thị chợt nhớ. Ừ, buổi chiều thị có cười với gã. Thị có phải gỗ đá gì cho cam. Cười trước một câu cợt nhã mà dẫn đến chuyện này ư? Không lẽ, vã vào cái mồm đang hề hề kia như vã vào mồm con nhãi ranh dám bảo thị là quân đầu đường xó chợ, chẳng lẽ nhổ vào mặt gã như thị đã nhổ vào mặt mấy đứa tưởng thị là gái làm tiền? Nhưng đó là hồi thị sống ở thành phố. Còn bây giờ thị đang ở một chốn quê. Người ta thường bảo nhau rằng một nhịn chín lành.
Thấy thị ngần ngừ, gã tưỡng thị cũng động cỡn với trò nợ đời. Lựa miếng gã ôm thị.
- Đồ đểu! Thị thét lên. Gã bàng hoàng nhìn rõ con dao phay trên tay thị.
- Á à! Đồ…đồ! Gã giật lùi. Sau khi lên khỏi con thuyền gã mới dám quay lại đe nẹt - Chờ đấy, khắc biết tay ông.
“ Chờ đấy, khắc biết tay ông”. Sự lép vế của gái góa khiến thị không sao kéo được gấc ngủ rất cần cho những người như thị trở về. Tiếng gà gáy oe óc đâu đó. Thực ra là tiếng gà gọi ngày đang thì rỗn rã, một phần bến đò ở xa xóm làng, một phần tâm tưởng bất an nên thị nghĩ thế. “ Chờ đấy, khắc biết tay ông” Những gì đang đợi thị đây.
Vài ngày sau đó, một người trong xóm cho biết gã thịt chó đang lùng mua thuyền. “ Để con gái góa lượn lờ trước mặt, ức lắm”. Gã hênh hoang khắp nơi như thế.
Điều người trong xóm cho thị biết là có thực. Gã hằm hằm kéo thuyền về bến. Gã làm như thị là người tranh bến chứ không phải gã. Nhây với quân tiểu nhân, khác gì nhây với quân mõ. Thị chống thuyền đi tìm bến khác. Đất trời này mênh mông lắm, bon chen làm gì. Gã làm vậy lại hóa hay. Thị khỏi phải nhìn cái mặt không ưa.
Thị cũng có một cái chốn được gọi là quê. Quê thị người ta thường trêu chọc là “cầu lõm”. Thị sinh ra trong một căn nhà có ăn, có để. Vì vậy mà thị đẹp. Thị tưởng chỉ một mình là “hồng nhan bạc phận”. Những ngày lăn lóc giữa chốn thị thành, thị thấy nhiều người con gái “bạc phận” hơn thị rất nhiều.
Thị phải rời bỏ quê vì là “Mày có lấy nó không”. “Sao thầy bắt con lấy người không có cảm tình?” “Đồ mất dạy, quân bất hiếu”. Điểm nhịp vào lời đay nghiến của ông bố là cái roi bằng cành cây dâu, quất không mệt mỏi vào thân thể thị. Thoạt đầu thị còn nằm oằn người khi tấm roi quất vào tấm thân không mảnh vải che chúm. Sau thì thị nằm im, mặc cái roi quất vào chỗ nào thì quất. Thị nghĩ đến thằng đàn ông ục ịch, mặt phệ ra khiến khuôn mặt dọc và ngang không chênh nhau là mấy. Thị không chê cái thằng có khuôn mặt dọc và ngang không chênh nhau là mấy là xấu mã. Thị chê hắn vì cái sự vênh váo, cậy của. Của tự tay làm ra là của mình, sống nhờ của cải nhà chồng khác gì người đi ở . “Mày có lấy nó không?”.Vẫn nhịp điệu dồn ép của ông bố. “Không đời nào!..”- Thị trả lời cương quyết “Mày đi đâu cho khuất mắt tao thì đi. Đừng để tao nhìn thấy mặt quân mất dạy này nữa”. Ông bố quẳng cái roi cụt ngủn xuống giữa nhà. Hình như ông đi tìm tổ vống? Thị nghe người trong làng kể rằng: Ngày xưa ở xóm bên có người con gái chống lại lệnh “bố mẹ đặt đâu, con ngồi đó” nên bị ông bố tưới nước khắp người, rồi đổ kiến vống vào tấm thân trần truồng cho đốt đến chết. Chết thị không sợ. Nhưng ức. Tại sao người ta bắt nhau phải làm những gì không ưa thích, không yêu? Thị vơ tay nải quần áo đã chuẩn bị trước, bỏ quê ra đi từ đó.
Bơ vơ chốn thị thành với chút nhan sắc gái quê, thị không tránh khỏi cái nhìn xem tấm thân thị đáng giá ngần nào. Có lẽ phải tìm tấm chồng thì thị mới sống yên ổn? “Đáo để như mày cố kiếm một người hiền lành” “chồng bắt úp còn có lúa xô”. Một chị cùng cảnh khuyên thị. Vì vậy thị tìm được gã.
Thị mừng. Hồi này bên sông người ta mở công trường xây dựng nhà máy phân lân. Nửa đêm, gà gáy, bất kể lúc nào có người gọi “đò ơi” là thị chống đò sang. “Ngày đường gang nước”, ai nỡ để người sang ngang lỡ độ đường. Bến mới của thị lại đông, vui khách như bến cũ. Đang độ vui bến, đông thì thị lại lăn ra ốm. Vào lúc muốn hớp nước không ai cho, muốn miếng cháo không ai nấu. Thị rùng mình nỗi cô đơn... Ngộ nhỡ…Thị lại rùng mình, khi cái chết “bất chi kỳ tử” của chồng, cái chết của con ám ảnh. Chồng chết con chết còn có thị lo liệu, chôn cất. Chẳng may…không nghĩ dại nữa. Thị lau dòng nước mắt, chảy vào miêng mặn chát.
- Cho sang với, cô lái đò ơi! Có tiếng người gọi xói vào tai, nhưng thị không sao gượng dậy nổi.
Người khách ấy vẫn lên con thuyền. Thị nhận ra người khách ấy. Một người đàn ông thị nghĩ là tử tế. Bởi người khách ấy trắng trẻo, thường nói lời cảm ơn, mỗi khi trả tiền sang ngang. Vào những lúc khuya khắt nhất trong đêm, khi nghe tiếng gọi “cho sang với, cô lái đò ơi” là thị biết là tiếng gọi của người khách ấy. Thị không ngần ngại chống thuyền sang đón “cho sang với, cô lái đò ơi”, tiếng có cảm giác xa xôi, vòi vọi sao ấy. Cảm giác lạ lùng đó, ở phía thị, hay ở phía người khách kia? Thị không cắt nghĩa nỗi. Mà cắt nghĩa để làm gì. Nghề chở đò là nghề làm phúc, chứ đâu có tình.
- Sốt cao quá, thuốc thang gì chưa? Người khách ấy sờ trán, xem mạch cho thị, rồi kêu lên.
- Thuốc thang gì. Nằm mãi khắc khỏi! Thị cảm động trước cử chỉ ân cần và nhắc nhở mình không được khóc.
- Uống thuốc đi, rồi ăn cháo. Nằm mãi là người đẹp cũng xấu đi đấy! Người khách ấy cười. Hình như việc khám bệnh và cho thuốc đối với người khách ấy là quen thuộc.
Vì thuốc hay vì người, thị qua đận ốm rất nhanh? Suốt một tháng ròng sau đó thị luôn ngóng tiếng gọi quen thuộc, nhưng không thấy. Thị tiếc, không kịp hỏi gia cảnh người ấy. Mà có hỏi chắc gì người ta nói thật.
Tuổi thị lửa lòng chưa tắt. Đời thì hồng nhan nên bạc phận, chắc gì đã có người đàn ông nào được như chồng cũ đến với thị. Vơ bèo tép không phải là bản ngã của thị. Thị khao khát có một đứa con. Đứa con thị khao khát phải do thị đẻ ra cơ. Tại sao thị không chờ người khách đấy nhỉ? Có chết ở sông ở biển, không đời nào thị chịu chết vì một vũng trâu nằm. Thị nghĩ đến gã bán thịt chó, với một cãi bĩu môi khinh bỉ.
Trời chuyển mưa bằng con gió hun hút và buồn tênh. Khắp bến bờ mờ mịt trong cơn mưa bay như bụi. Vắng khách. Thị lơ mơ nằm trong khoang thuyền.
“ Cho sang với, cô lái đò ơi!” Đúng tiếng gọi quen thuộc đó rồi! Nỗi khát khao của thị như vỡ oà trong lồng ngực. Người ấy rồi! Người ấy cười với thị, vẫn nụ cười quen thuộc, ngời sáng trên khuôn mặt trắng trẻo và đẹp trai. Con thuyền ào ạt rẽ nước giữa dòng sông. Thị nôn nao nhảy xuống dòng nước, lúm thúm làm việc đó “kéo em lên với”. Một cánh tay, một tấm lưng, rồi cả tấm thân trần ướt rượt của thị lướt qua mặt người ấy. “Đừng làm thế! Đừng làm thế!”. Sao tiếng người ấy khê nồng và lạnh lẽo thế nhỉ? “Em…Em muốn!”. Thị dấn lên. Người ấy lầm lầm bỏ lên bờ. Thị bậm bục chạy theo. Thị càng muốn đến gần thì người ấy càng chạy xa”. Đồ gà thiến! Đồ gà thiến!” . Thị gào lên, quẫy đạp và tỉnh mơ giữa ban ngày.
Thị ngồi dậy, bàng hoàng sửa lại quần áo.
- Vừa ngủ mê phải không? Hẳn giắc mơ chẳng đẹp! Gã bán thịt chó xù xụ cái áo lông đứng đầu thuyền hỏi vọng xuống.
Sao gã biết thị mơ nhỉ? “Ta về ta tắm ao ta - Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”. Gã đổ câu vọng cổ. Phải nói rằng gã ca vọng cổ hay nhất vùng này.
B.T




