Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 07/12/2021 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Chuyện ở bến cảng giữa rừng đón tàu không số của Sáu Quạng và Hai Tây

LTS: 60 năm về trước, Đường Hồ Chí Minh trên biển ra đời nối hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam, trực tiếp đảm bảo cho chiến trường miền Nam đánh thắng kẻ thù xâm lược. Những đoàn tàu không số lướt sóng vượt gian nguy giữa trùng khơi, những bến cảng lòng dân mọc lên giữa lòng địch… Để giúp bạn đọc hiểu hơn về “con đường” này, Tạp chí Cửa Việt trân trọng giới thiệu truyện ký của Nguyễn Kiều Vân Khánh về hai nhân vật có thật của Đoàn 962 (nay là Lữ đoàn 962, Quân khu 9) tại bến chót cùng của Đường Hồ Chí Minh trên biển.

Năm 1962, ngay sau khi nhận sự chỉ đạo của trên, chỉ trong vài tháng, Đoàn 962 đã vận động đồng bào, ngư dân sống ở các cửa biển, cửa sông chuyên đánh thuỷ sản mưu sinh thuận tình về ở các dòng kinh, con rạch nhỏ và chỉ đi lại làm ăn trong vùng quy định. Vì lợi ích cách mạng mà người dân răm rắp thực hiện, không hề hỏi lại một câu. Không chỉ vậy, con em của những người dân chài đã di cư ấy xung phong tham gia Đoàn 962 và trở thành cán bộ, chiến sĩ kiên cường.

Đồng bào và bộ đội nhường cho Đoàn 962 từng giọt nước, chén cơm lúc kẻ thù phong toả sông Cửa Lớn - con sông là vạch nối liền đồng lúa rẫy khoai và nước ngọt cho rừng biển Năm Căn. Hàng chục lượt phi đội máy bay ném bom chiến lược B52 và pháo hạm bầy của Mỹ trút hàng vạn tấn bom pháo xuống cánh rừng này mà không hề rơi trúng kho tàng, không hề làm hư hại một viên đạn, một khẩu súng từ hậu phương lớn miền Bắc gửi vào trong tình thương “máu chảy ruột mềm” -  “nhiễu điều phủ lấy giá gương”! Hàng trăm tấn hoá chất độc Mỹ mấy năm ròng “tưới” xuống rừng xoá trọc hàng vạn mẫu rừng đước vốn nguyên sinh đại ngàn mà kẻ thù không hề tìm thấy một bóng dáng kho tàng vũ khí của Quân giải phóng. Kể cả chiếc tàu mang mật số 69 vận chuyển vũ khí trọng tải 70 tấn từ Bắc vào sau khi bốc dỡ vũ khí quay ra đụng tàu giặc đánh cho chúng một trận tơi bời rồi vào ở lại cánh rừng này mà chúng cũng không tìm ra... Đó đã là chiến công hiển hách, sự kỳ diệu của chiến tranh Nhân dân. Chân lý sáng ngời của tình quân dân, mà ở đó là sự hoà quyện ý chí yêu nước của người dân theo Đảng và đạo đức của Cụ Hồ. Trong đó có sự đóng góp đầy nghĩa nhân của những người như Sáu Quạng và Hai Tây.

Hai Tây, Sáu Quạng có mặt rất sớm ở Đoàn 962 - Bến chính ở Nam Bộ của Đường Hồ Chí Minh trên biển. Bạn bè kháng chiến và đồng đội đều phán hai ông là cặp bài trùng bởi nhiều nghĩa: Không quản ngại khó khăn, yêu thương đồng đội, được cô bác đồng bào rất mực yêu mến, nhưng ấn tượng nhất là sự hóm hỉnh và tâm hồn lạc quan yêu đời dù trong hoàn cảnh ngặt nghèo, nguy hiểm.

Kho tàng cất giữ vũ khí của đơn vị chi chít trong rừng đước đại ngàn của duyên hải Cà Mau trải dài từ phía nam cửa Bồ Đề (cửa phía đông của sông Cửa Lớn chạy vắt ngang mình Tổ quốc trên đất Cà Mau) đến Mũi Cà Mau qua hai xã Tân Ân và Viên An (nay là năm xã: Tam Giang Tây, Tân Ân, Viên An Đông, Viên An và Đất Mũi). Kho tàng cánh Sáu Quạng (thay vì gọi đơn vị, hồi đó bộ đội và đồng bào quanh vùng gọi là cánh) chiếm lĩnh vị trí rộng lớn, đi xuồng ba lá bơi chèo mấy ngày khó giáp. Vì thế, việc bảo mật luôn được đặt lên hàng đầu và đó cũng là nhiệm vụ của cánh Hai Tây.

Hai Tây chưa một lần ra chiến trường cầm súng chiến đấu. Ngày này tháng nọ hầu như Hai Tây rong ruổi hết rạch này xẻo kia, hễ ở đâu có đồng bào ở đó có Hai Tây. Hai Tây thường đến thăm gia đình nghèo khó nhất, động viên bà con, nói về chiến thắng của quân dân ta trên khắp các chiến trường, báo tin sức khoẻ và sự tiến bộ của con em họ. Xóm giềng gặp chuyện xích mích có mặt Hai Tây là yên. Trong xóm có ai thiếu gạo hoặc đau yếu, Hai Tây về báo chỉ huy rồi đích thân chở gạo hoặc đưa y tá, cứu thương ra tận nhà dân...

Hồi đó ở Đoàn 962 có hai ông cán bộ làm công tác cán bộ gần dân như máu mủ ruột rà là ông Hai Tây và ông Tư Thắng (còn gọi ông Tư Cà Vung vì bộ đội đựng đồ trong ba lô, tài liệu trong sát-cốt, còn ông già này tất thảy đều cho vào cà vungCà vung như một chiếc giỏ được chằm từ lá dừa nước dùng đựng lúa hay cá tôm). Chính ông già Tư Thắng và ông Hai Tây truyền nhiều kinh nghiệm cho cánh Sáu Quạng bảo vệ kho tàng rất quý giá.

Một hôm chiến sĩ tuần tra về hớt hãi báo cáo Sáu Quạng: “Chết rồi anh Sáu ơi! Bữa nay có dấu chân lạ vô tới kho số... trong rạch... bắt cua”. Sáu Quạng cũng quá bất ngờ bởi chưa bao giờ dân xứ này bén mảng đến gần nơi quy định không được vào.

Sáu Quạng tức tốc nắm hoạt động các chốt kho. Ngày hôm đó không có chú lính nào đi bắt cua hết. Sáu Quạng lòng như lửa đốt đứng ngồi không yên, tức tốc đi tìm hai ông bạn già phụ trách bảo vệ bí mật căn cứ. Sau khi nghe Sáu Quạng cho biết sự tình, hai ông già nghe qua tỉnh bơ. “Tưởng gì, chuyện này dễ ợt. Ông đi với tui. Nói trước, đi thì ông chèo à nghe” - Hai Tây nói như ra lịnh.

Đang nóng lòng không biết ai đã vào vùng kho vũ khí mình bắt cua, nếu gián điệp thì giờ này nó kịp báo giặc chưa? Sáu Quạng lòng ngổn ngang:

- Đú hoả! (vì sao Sáu Quạng mỗi câu mỗi chửi thề, hồi sau phân giải) Chuyện bằng trời mà còn ở đó giỡn. Nó càn vô tới là nó hốt ông với ông Tư Thắng vì hai ông ở ngoài vàm. Đi. Chèo thì chèo!

Sáu Quạng như kẻ luỵ đò.

- Về khuya đói bụng ghé nhà má Bảy thế nào cũng có cháo gà Út Lợi nấu cho coi. Giọng Hai Tây hí hửng.

Sáu Quạng, Hai Tây một xuồng, già Tư Thắng một xuồng đi hai ngả. Hai Tây phán:

- Cứ ra vựa mua bán cua.

Các chủ vựa cua làm nghề buôn bán, mua cua ra giao cho vựa ngoài Cà Mau rồi mua gạo, hàng thiết yếu đem về vùng căn cứ. Người ta nói họ là thương buôn nhưng thực ra họ hậu cần Nhân dân. Con em họ lớn lên là vô bộ đội của đơn vị.

Tới nơi, hai người bước lên nhà, đèn toả đăng sáng bừng. Chủ nhà niềm nở mời trà B’lao thơm lừng. Sáu Quạng mơ hồ nghĩ ra ý đồ Hai Tây nhưng cũng bán tín, bán nghi đối thủ của mình vì ông này cũng lắm kế nhiều mưu. Hai Tây thì tỉnh rụi. Hớp mấy ngụm trà nóng, Hai Tây nhìn qua mấy chục cần xé đựng cua xếp hàng chuẩn bị xuống ghe chở ra Cà Mau, rồi nhìn qua chủ nhà: “Bữa nay mua khá hông anh Ba? Mà cua gì nhiều dị”. Màu cua và loại đực, cái, kích cỡ quyết định giá cả. Hỏi vậy là rành nghề buôn cua và chia sẻ cảm thông việc làm ăn của chủ nhà. Ông chủ nhà xởi lởi: “Khá hơn nước rồi, anh Hai”.

Hai Tây tiếp: “Vậy có lý ha. Mà dạo này anh thu vô cua càng sen nhiều hôn? Thằng đó đen đúa vậy được cái thịt nhiều mà thơm nên có giá thì phải rồi. Lâu quá không ăn cũng thèm”. Chủ nhà nghe khách quý nói, liền sốt sắng: “Vậy chèn ơi, may quá, bữa nay thằng Hoà - con anh Tư trong kinh Giao Đu bán cho cả gần hai chục ký đặng, lâu lắm mới có cua càng sen đó hai ông. Để tui biểu xắp nhỏ bắt mớ bỏ cà vung mấy ông đem về đơn vị ăn lấy thảo”.

Nghe tới đó Hai Tây nhỏm người cái rột, xua tay lia lịa: “Í chết, anh Ba đừng làm vậy. Anh chị mua gom từng con cua chèo cả trăm cây bán kiếm lời nuôi cả nhà rồi còn ủng hộ bộ đội đủ thứ, chưa kể cua chết hao nhót dọc đường...”. Hai Tây vừa nói vừa đứng phắc vậy nháy Sáu Quạng xuống xuồng sợ chủ nhà nài nỉ thêm khó xử.

“Ủa dìa liền sao hai ông? - Chủ nhà nói vói theo - Trời, còn nồi canh chua cá dứa mẹ con nó quýnh quáng nấu nãy giờ thì làm sao?”. “Thì cả nhà cùng xử cho tròn trịa” - Hai Tây tiếp lời và bông đùa xởi lởi. Nhưng sợ chủ nhà giận, ông nói to: “Ngon quá vậy ta. Mà kẹt rồi anh Ba ơi. Hồi chiều đi ngoài kinh Út Thứ gặp con Út - con bà Má Bảy nói má nhắn mấy anh ra biểu. Tui hỏi có gấp dữ hông dị Út, nó nói giọng trả treo thấy ghét: “Má nhắn thì ra hỏi bả, sao hỏi tui, chuyện người lớn sao tui biết”. Mà thôi tụi này đi nghen kẻo không ghé kịp nhà má Bảy, rồi ngược chèo nữa”.

Xuồng đã lùi xa bến mà chủ nhà còn phán theo vừa như trách móc mà gần gũi thân thương: “Phải rồi, về ngoải riết đi cho kịp ăn cháo của con Út Lợi nó còn nóng hổi đó”. Tiếng cười giòn vui cả khúc sông làng rừng.

Trở lại tiếp chuyện Sáu Quạng - Hai Tây. Xuống xuồng Hai Tây thủ bộ ngồi vì hồi đi Sáu Quạng hứa chèo, rồi nói giọng như ra lịnh: “Đi vô nhà thằng Hoà trong kinh Giao Đu”. Tới đây thì Sáu Quạng biết chuyện “hai năm rõ mười” rồi. Y như rằng, xuồng vừa ghé cầu thang, thằng Hoà lục tục chạy xuống buộc dây xuồng, miệng lắp bắp: “Dạ, con thưa chú. Dạ, con mời hai chú lên nhà uống trà. Dạ...”.

Khách chưa kịp ngồi thì Hoà khúm núm chắp tay trước bụng, giọng run run: “Dạ con lỡ dại lần này hứa sau không dám đi trỏng đâu. Trời ơi, thấy chỗ đó con run muốn chết, trống ngực đánh thùm thụp sụt lui một hồi rồi chạy một mạch về nhà kêu thằng Út đi bán cua, còn biểu nó phải dìa sớm sợ người ta hỏi bắt cua càng sen ở đâu mà nhiều vậy. Dạ...”.

Vợ thằng Hoà thì không biết gì nghĩ chắc chồng có lỗi nên vừa rót trà mời khách vừa phân bua tiếp chồng: “Hai chú ơi, hổng biết sao trưa nay đi bắt cua về tắm rửa rồi ổng lên vạc trùm mền, bỏ cơm, rồi kế hai chú tới đó. Hai chú ơi, nói hai chú thương, thiệt mấy bữa nhà con mua gạo chịu tiệm vựa cua chú ba, chờ bán cua trừ nợ. Chú thím tốt bụng, chưa bao nhắc nợ, có khi còn cho mắm muối... nên ảnh ráng đi xa móc cua trừ tiền gạo, còn dư mua gạo dành cho tháng sau con sanh...”.

Hai Tây - Sáu Quạng ngậm ngùi nghe sống mũi cay xè. Sợ ngồi lâu không kiềm được niềm thương cảm, Sáu Quạng bèn lên tiếng, như không biết gì chuyện nãy giờ: “Có gì mà hai đứa ấp a ấp úng vậy. Hai chú đi công tác tiện đường ghé thăm tui bây rồi chờ nước lớn mới qua khúc kinh tắt được. Giờ nước lên rồi, mấy chú đi nghen. Ờ quên, thằng anh bây ở trong đơn vị lúc này mập ù, bắt kỳ đà, gài chồn mướp số dách, chớ bắt mấy con cua càng sen nhằm nhè gì mà khoe”. Hoà nghe vậy biết mấy chú tha thứ mừng rơn trong bụng mà gượng cười mếu máo vừa mở dây xuống tiễn hai chú.

Hai ông bạn già trên chiếc xuồng con ba lá men theo dòng sông nhỏ dưới hai bên tán rừng đước xanh um tùm giao cành che mát rượi. Hai Tây nói bâng quơ: “Ê, Sáu Quạng, đúng là kinh giao đu thiệt há” nhưng trong bụng thì hí hửng vì đã cho ông bạn già bài học để đời về kinh nghiệm bảo vệ căn cứ. Sướng nhứt là gần cả ngày ngồi không, nhìn trời mây, hút thuốc rê điếu này tới điếu khác có “đệ tử” đưa từng mái chèo êm ru có thể hình dung để chén nước đầy không sánh ra.

Bây giờ Sáu Quạng nghe nhẹ cả người: Chuyện lộ bí mật về kho tàng chừng mực này được an toàn mà êm ru. Nhưng ông cứ ấm ức tức bản thân vì trong vùng chỉ có khu vực kho mình là rừng đước cổ thụ và có nhiều cua càng sen. Vậy mà nghĩ không ra để Hai Tây cho bài học, lại chèo cho y ngồi chơi hút thuốc suốt cả ngày đường, không lẽ lựa chỗ nước xoáy nhận chìm xuồng thử coi ai lội giỏi hơn.

Hai ông theo đuổi ý nghĩ riêng của mình, chợt nhìn lên đã tới nhà má Bảy. Hai ông dạ thưa má rối rít. Sáu Quạng lên tiếng trước: “Thưa má, nhắn tụi con có việc chi mà con Út bí mật không nói”. Má Bảy mắng yêu: “Mồ tổ cha tụi bây! Sao hỏng ở trỏng luôn đi ra cái xóm khỉ ho cò gáy này chi. Bí mật gì hả? Út dọn cháo gà cho hai anh mầy ăn”.

Má Bảy ngồi nhai trầu nhìn hai thằng con kháng chiến ăn ngon lành. Út tựa đầu võng mà hóng chuyện. Hai ông bạn thân vừa nhai thịt gà nhồm nhoàm vừa kể chuyện thắng lớn cho má nghe. “Trận Chà Là - Ván Ngựa - Đầm Dơi hả má. Ngô Đình Diệm và bè lũ nó phen này thua đậm lắm má ơi. Nó đem cả bầy máy bay đa-cò-ta chở hàng trăm lính dù kể cả quân tổng trù bị của phủ Tổng thống xuống cứu nguy cũng bị nướng gần sạch. Số sống sót chạy tuột quần, mất giầy. Máy bay đủ thứ nào còng cọc, sâu rọm, cả nhái (tên các loại máy bay ném bom và máy bay vận tải lên thẳng) bị Nhân dân ta nhạo báng đặt thành loài vật”. Hai ông bộ đội ngứa miệng muốn khoe rằng súng máy cao xạ này của phe xã hội chủ nghĩa viện trợ miền Bắc gởi tàu vượt biển chở vào, tụi con cất giữ trong kho của rừng mình đây rồi bí mật huấn luyện cả tiểu đoàn để mở màn cho trận Chà Là, Ván Ngựa, Đầm Dơi bắn máy bay Mỹ rụng như sung, làm phá sản chiến thuật Trực thăng vận, Phượng hoàng bay của bè lũ chúng. Rồi trận Ấp Bắc ở Mỹ Tho, Bình Giả ở Bà Rịa, xe tăng nó cháy như chuột cống nhum bị đốt đồng vậy…

“Má còn nhớ không sau đình chiến bè lũ Diệm - Nhu đâu thực hiện Hiệp định Giơ- ne- vơ tìm giết chóc, tù đày người kháng chiến cũ. Trên các dòng sông xứ mình tàu sắt lộng hành. Tụi con lấy súng tự chế ra bắn, tụi nó đứng trên bon tàu lấy tay làm loa miệng sủa lên bờ: “Mấy ông Việt cộng ơi, xin thưa đây là tàu sắt chớ không phải tàu cây. Mấy ông đừng bắn mà tróc nước sơn về tụi em mắc công sơn lại”. Nghe mà tức ứa gan. Mà thiệt súng mình tự chế bắn cũng nghe nổ cái rầm mà đầu đạn rớt cái dưới sông có tới tàu nó đâu. Bây giờ mà hống hách kiểu đó tụi con cho tụi nó đi chầu hà bá ráo trọi cho coi. Mới đây nè má, bộ đội Đặc công thủy Rừng Sát mình đánh chìm chiếc tàu hậu cần khổng lồ mười ngàn tấn của Mỹ chở vũ khí và phương tiện chiến tranh tối tân có chở cả máy bay viện trợ cho bè lũ tay sai”. Hứng chí, hai ông còn muốn khoe đó là nhờ có số thủy lôi sừng chạm của Liên Xô viện trợ. “Rồi má biết không trái thuỷ lôi nặng cả tấn, quân ngũ nào mà khiêng cho nổi. Vậy mà tụi con có cách đó má. Tụi con nhận chìm chiếc ghe, lăn trái thuỷ lôi vô rồi tát nước dễ ợt, chở qua mắt hàng trăm đồn bót đem đến tận Sài Gòn đánh tàu hạm Hoa Kỳ. Ngộ là tàu nó chìm trước mũi thở của nó mà nó không biết đối phương dùng loại vũ khí gì, do đâu mà có...”. Mấy chuyện này nằm sẵn trong bụng hai ông nhưng đâu dám nói ra cho bất cứ ai nghe. 

Má Bảy thì nhổ bả trầu, móm mém cười. Út Lợi nghe chuyện hai ông anh vừa nói vừa kể mà quên đập muỗi, có lúc như quên thở. Sáu Quạng - Hai Tây cứ nhâm nhi với bình ton rượu Hào Say mang theo. Hai ông định từ giã má và Út nhưng nhìn xuống sông thấy nước ròng sát kiệt khô đáy, đành ngủ lại chờ hửng sáng nước lớn mới tất tả về đơn vị.

 Đây mới đoạn khúc mức gây cấn của hai ông bạn già thân thiết trong rừng đước, vắng nhau thì không chịu nổi mà gặp là có chuyện lôi thôi xôn xao cả Bến tiếp nhận vũ khí trên đất Cà Mau.

 

* * *

Sáu Quạng - Hai Tây ở chung đơn vị lớn nhưng khác bộ phận công tác. Người phụ trách giữ kho, người coi việc bảo vệ an ninh vòng ngoài nhưng cùng chung trọng trách và khắng khít trong niềm mến thương đồng chí. Sáu Quạng  thường ra chỗ Hai Tây hơn. Trong sát-cồ của Sáu Quạng lúc nào cũng sẵn bi-đông rượu đế do xóm đồng hương Hào Say - Trần Hợi của ông cất bằng thứ men mang từ Bến Tre vào. Lần nào gặp nhau chưa buộc dây xong xuồng đã nghe Sáu Quạng nổ chuyện “’thời sự”. Như bữa nay: “Anh Hai, hồi trưa cánh Ba Cụt vô trận kỳ đã quá ể. Thằng cha cụt một tay, không có chó săn, toàn theo dấu mà bắt kỳ đà năm thằng đệ theo quảy còng lưng. Ôi mà thằng cha láo ăn thiệt, thịt rừng nhiều vậy mà mình đi ngang không hề mời lơi một tiếng”.

 Hai Tây vừa nướng tôm lụi, khô cá kèo - loại thức nhắm lúc nào cũng chứa sẵn cho Sáu Quạng mỗi lần qua đây, vừa cười thầm trong bụng: “Sáu Quạng khéo nổ, chắc hai, ba con là cùng. Mà làm gì Ba Cụt không mời bởi Ba Cụt bắt kỳ đà hồi nào tới giờ, có thì mời khách còn vào sòng thì chỉ nút ốc len kèn dừa thổi lỗ mũi không buông”. Thiệt, không nói trời không phải Sáu Quạng và nói vậy để gây sốt dẻo thôi. “Nhưng không sao, anh Hai - Sáu Quạng tiếp - nhứt rượu Hào Say, nhì cá khoai Rạch Gốc ha, ha...”. Vô vài chung, Sáu Quạng đang ngon trớn, chợt Hai Tây hỏi nột: “Ê, tao hỏi thiệt, thằng Sáu mầy biết nhậu hồi hỉ mũi chưa sạch hay sao mà giờ tửu lượng nặng đô vậy?”.

Sẵn ly rượu trong tay, Sáu Quạng ngửa cổ làm cái chót khô đáy, úp cái ly lên bàn tay vỗ bộp bộp ý nói Hai Tây đừng kê tán như mọi lần, rồi khà một cái, cầm luôn khô kèo nướng chấm vào chén mắm me mà ăn tiếp: “Chắc đầu hồi mười hai mười ba chớ gì. Xứ tui là xứ dừa, cau cũng nhiều vô kể. Vườn cau địa chủ hàng trăm cây, sức đâu mỗi cây mỗi leo. Tui chỉ leo cây đầu bứt hết cau đúng lứa rồi đu mình qua cây khác, hết hàng cau đó mới tuột xuống trèo tiếp hàng khác. Còn dừa thì đạp hết quày tuột xuống đất bằng cái đầu đi trước. Xứ đó tui có biệt danh “sóc dừa”. Kêu nghe cũng ngộ nhưng sướng gì anh Hai. Leo dừa ngày này qua tháng khác xệ dái chớ chơi. Không có đất ruộng, không leo dừa mướn lấy đâu lúa gạo ăn. Lũ leo dừa tụi tui cũng không vừa. Thỉnh thoảng cũng ăn cắp rượu địa chủ lên đọt dừa nhâm nhi với sọ dừa, sần sần mỗi đứa lấy dây chuối khô buộc mình vô đọt dừa ngủ cho khỏi té, chạng vạng tỉnh, tuột xuống đất ai về nhà nấy. Nói anh không tin hả? Xứ tui mấy ông Cán bộ Việt Minh ban ngày toàn ở ngọn dừa, có khi họp chi bộ cũng trên ngọn dừa. Tụi tui canh đường mà không biết sao được. Anh hỏi đi bộ đội hả? Leo dừa hoài xệ dái có khi còn bị chủ bỏ đói, róc roi mây tét da đít do bẻ không đủ thiên nó biểu. Bộ đội ông Cống về gần, trốn nhà dong theo. Sau gặp bộ đội Tiểu đoàn 307 lừng danh, súng to đạn nhiều, mê quá lại trốn dong theo đánh trận Mộc Hoá, Tháp Mười, đánh xuống Xẻo Rô, Rạch Giá... Giờ đánh chén với anh ở đây. Kha, kha... Còn anh đi Vệ Quốc Đoàn mà sao làm các món nướng siêu vậy. Nướng thịt rừng ngon đã đành mà nướng khô cá kèo, tôm lụi cũng ngon hơn người ta?”.

 Hai Tây gật gù bỗng nhổm người dậy, sáng mắt: “Tao ở đợ chăn trâu bầy, vịt muôn. Tụi tao đào lỗ giữa đồng, ngàn con vịt đi qua rớt xuống vài con ai hay. Chờ bọn lùa vịt qua, lôi lên nắn đất sét, nhổ gốc rạ tủ lên, châm lửa. No nê đã đời. Ê Sáu, phải hồi có mầy, tụi mình mổ trâu hỏng chừng. Ha.. ha.... Sao đi Vệ Quốc Đoàn hả? Mầy xệ dái còn tao thì chai háng đi hàng hai như người có bộ chân vòng kiềng. Đã vậy còn bị tính công ăn gian... Bộ đội ông Phan Trọng Tuệ về, tao ham súng quá theo luôn. Mới đầu mấy ổng hỏi hỏng sợ quánh nhau làn tên mũi đạn sao thế. Tao nói: “Không. Quân đông, có súng mới đánh hết Tây. Hỏng lẻ tui sải trâu cho trâu lấy sừng chém nó. Mấy ổng nói thằng nói nghe hăng... Mà mấy ổng điều nghiên biết tao có mấy miếng võ biền, gan dạ, hay giúp người neo đơn yếu thế bèn nhận tao vô đội bảo vệ ông Khu bộ phó - ông Phan Trọng Tuệ, phát cho tao cây súng Mi-ti-géc gỉ đó. Tối đó tao ôm cây súng ngủ như ôm chị hai mầy hồi mới cưới. Còn hỏi tao hay chữ Tây sao có tên Hai Tây? Khỉ khô, tao chữ chưa đầy lá mít. Tại tao bự con, mũi cao nên kêu Hai Tây riết thành danh quên tên cúng cơm tao luôn. Vậy cũng tiện. Cứ kêu Hai Tây, tao ới, là xong...”.

Chuyện hai ông có khác gì Quê hương anh nước mặn đồng chua/ Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá....

Hai ông thân nhau như Bá Nha - Tử Kỳ, đến đỗi mấy ngày không gặp nhau là bứt rứt khó chịu. Hai Tây cất căn nhà lá nhỏ ở riêng, uống trà một mình, nếu có người thứ hai thì đó là Sáu Quạng. Ở cứ bên kia Sáu Quạng cũng vậy. Vậy nhưng hễ gặp nhau cũng hay “gài bẫy, bắt giò”. Chắc là để giải toả niềm lạc quan yêu đời mà quên bao gian khổ nhọc nhằn, say sưa kháng chiến.

Hai Tây ở xứ ông Ba Phi vua nói dóc miệt U Minh nên nói dóc tỉnh rụi. Có lần Hai Tây qua cánh Sáu Quạng nhằm bữa Sáu Quạng đi vắng. Hai Tây đi rảo một vòng cứ rồi hỏi lính Sáu Quạng: “Có gì ăn cơm chưa bây?”.

Lẽ ra tôi phải đặt tựa là “Chuyện của ông Sáu Quạng và ông Hai Tây” cho phải đạo vì hai ông đã ngoài chín mươi và đã về nơi yên nghỉ cuối cùng hết rồi, nhưng tôi muốn viết cho hóm hỉnh như tâm hồn lạc quan của hai ông lúc sinh thời. Dù vậy, xin hãy coi đây là nén nhang thắp lên từ lòng tôi và con cháu để tưởng nhớ những người đã xả thân giữ nước.

Mấy đứa nhỏ thiệt thà thưa: “Dạ, thưa anh Hai, tụi em tuần tra suốt đêm mới dìa, chưa thăm câu thăm lưới kịp. Mà đi cũng khó do nước đang ròng. Nhưng không lo. Anh Hai ở ăn cơm dí tụi em. Tụi em quăng mấy chài cả rổ tôm đất, trụng nước sôi đỏ au, ngọt thấu trời”. Hai Tây nghe vậy, cười vang: “Đúng là lính Sáu Quạng ăn cứt dê mà hô thuốc tể. Bởi vậy đói trên đống cao lương mĩ vị. Ăn tôm đất xứ Rạch Gốc riết mà không thấy hôi vôi sao”. Vừa nói ông vừa chỉ tay xuống vũng nước có cả mớ dời nước lưng xanh bụng trắng dài bằng chiếc đũa ngo ngoe thấy là phát rùng mình chớ đừng nói ăn: “Đó là con thuỷ hà sâm. Hồi trào trước ai bắt được phải cống nạp bề trên để họ sấy khô xuất cảng. Bây giờ có mà không biết hưởng của ngon. Đúng là công tử miệt vườn. Mới xuống rừng đước hả? Lấy rổ xúc lên dạo sạch hấp hành. Món này mà lên Sài Gòn lỡ kêu bồi mang ra lớ quớ sạch túi không tiền mua vé xe đò về quê. Tụi bây ăn đã một bữa đi. Tao ăn hoài riết cũng hôi sâm Cao Ly thấy mồ. Thôi tao phải đi nghen. Có hẹn cha Ba Cụt, sợ trễ nước ngược chèo”. Rồi Hai Tây quày quả xuống xuồng chèo nhanh, không ngoái đầu.

…Hồi sau Sáu Quạng về tới, thấy cả rổ dời nước ngo ngoe, rùng mình, lắc đầu: “Bộ thằng cha Hai Tây ở đây mới đi hả tụi bây? Tao mà về không kịp, tụi bây ăn hết mớ dời nước này chắc bị Tào Tháo rượt sáng đêm...”. 

Mấy ngày sau, Sáu Quạng đến Hai Tây tỉnh bơ uống trà, nói tào lao làm như không hay biết gì vụ bày vẽ lính mình ăn dời nước. Sáu Quạng nổi tiếng rắn mắt, nói hay móc lò người khác, chọc phá tứ tung nên còn có tên Sáu Móc, phản ứng nhanh nên còn có tên Sáu pê-ni-xi-lin. Vậy mà bị Hai Tây chơi hỏng giò. Thế nên trong bụng Sáu Quạng nung nấu “đòn trả đũa”, mà phải đợi thời gian lắng dịu, Hai Tây mất cảnh giác. 

(Còn nữa)

Nguyễn Kiều Vân Khánh
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 326

Mới nhất

Mùi hương năm cũ

01/01/1970 lúc 08:00

Trong lúc lau chùi tủ sách, anh bỗng ngửi thấy một mùi lạ. Sách thì có mùi gì ngoài mùi giấy, mùi mực in. Tủ thì chắc mùi gỗ, mùi sơn lâu ngày. Hay mùi ẩm mốc từ vách tường bị nước mưa, nước lụt bên ngoài ngấm vào. Hoặc có thể mùi xác chết con gì đấy, chuột, gián, thằn lằn chẳng hạn.

Giữa ngày giông bão

47 Phút trước

Thơ Trần Thị Tuyết Thanh

Từ dạo ấy

53 Phút trước

Thơ Trương Hữu Thuận (Trường TH-THCS Ba Tầng, huyện Hướng Hóa)

Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong cuộc vận động xây dựng nông thôn mới

19 Giờ trước

Chủ trương xây dựng NTM là rất hợp lòng dân, là đáp ứng nguyện vọng của nhiều thế hệ.

Bút ký của Y Thi nỗi nhức nhối về nhân sinh, thế sự

19 Giờ trước

YThi là nhà viết ký chuyên nghiệp, có hành trình sáng tạo lâu dài, liên tục và anh đã xác lập được đặc trưng thi pháp cá nhân cho mình ngay từ những ký phẩm đầu tiên. 

Ngẫu hứng cội nguồn

06/12/2021 lúc 07:25

Thơ Tạ Quang Thìn

Tạp chí số cũ
Dự thảo
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

08/12

25° - 27°

Mưa

09/12

24° - 26°

Mưa

10/12

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground