Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 15/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Chuyện tình của chị tôi

C

hị ngồi bên ngôi mộ nằm gần cuối nghĩa trang, vừa dùng khăn lau kỹ bề mặt tấm bia, vừa nói trong nước mắt:

- Thành ơi! Hai mươi năm rồi em mới đến được với anh, đừng trách em anh nhé! Chúng mình thương nhau lắm phải không anh ?

Trong làn khói hương phảng phất, chị như nhìn thấy anh hiện về, chị lặng lẽ quệt nước mắt, giở cơm nắm ra xắt thành từng miếng bày lên tờ báo rồi rắc lên đó ít muối vừng.

- Ăn đi anh, cơm em nấu bằng gạo mới đấy. Ngày trước có bao giờ anh được ăn cơm gạo mới đâu, chỉ toàn cơm nguội thôi. Tội nghiệp.

Chị lấy trong túi đồ ra một quả xoài, bổ thành từng miếng mỏng van vát rồi vẫn bằng giọng thầm thì âu yếm, chị nói với người liệt sĩ vô hình trước mặt:

- Xoài tượng ngon lắm, ngon hơn xoài rừng nhiều. Anh ăn thử xem, đúng thế không anh.

Chị ngước nhìn tấm bia, khẽ mỉm cười như thể người đàn ông ấy đang gật đầu với chị, hài lòng với những điều chị nói. Và rồi hình như anh đã biến đi khiến chị trở lên hốt hoảng. Chị rướn người về phía trước rồi gục xuống ôm lấy nấm mộ trắng toát, bật lên tiếng nức nở. Tấm lưng gầy và đôi bờ vai xuôi xuôi rung lên từng đợt, khiến người đang đứng phía sau lưng chị cũng không kìm được nước mắt.

Người đứng sau lưng chị là tôi.

Chị Thảo là chị ruột tôi. Hơn hai mươi năm trước, chị đi thanh niên xung phong, ở một đơn vị chuyên mở đường cho xe ra tuyến lửa. Khi chiến tranh kết thúc, chị là một trong những người may mắn trở về lành lặn, mặc dù theo lời kể của nhiều người thì ở chiến trường chị vô cùng dũng cảm.

Tôi cũng tin như vậy. Hồi còn bé tôi đã biết chị mình là người có tính cách mạnh mẽ, cứng cỏi. Chỉ với các em, nhất là đối với một thằng em út như tôi thì bao giờ chị cũng rất dịu dàng. Có lẽ dịu dàng là bản tính của chị, còn sự cứng cỏi là do hoàn cảnh tạo nên vì chị là chị cả mà.

Thường những người ở mặt trận trở về, sau khi được thu xếp công ăn việc làm là bắt đầu lo chuyện xây dựng gia đình, ổn định cuộc sống riêng. Nhưng chị tôi lại khác, chị bỏ ra mấy năm vừa làm vừa học, cho đến khi tốt nghiệp đại học vẫn chưa chịu lấy chồng. Mọi người đều cho là chị quá kén. Chính tôi đã được chứng kiến nhiều người đàn ông đến với chị, trong đó có người thuộc loại tiếng tăm một vùng, có bằng cấp, có địa vị hẳn hoi mà chị vẫn không ưng thuận, rồi những người đàn ông ấy lần lượt ra đi. Người cuối cùng may mắn lọt vào mắt xanh của chị không ngờ lại là một người đàn ông đứng tuổi, đã có một đời vợ và đang sống cảnh “gà trống nuôi con”. Ông ta không có gì xuất sắc và cũng chẳng hấp dẫn tí nào, cả nhà tôi đều không đồng tình với sự lựa chọn của chị, nhưng biết tính chị đã định làm gì thì không ai có thể ngăn cản được, nên rốt cục đám cưới vẫn được tiến hành. Rồi sau mọi người cũng quên dần chuyện đó.

Riêng tôi mãi sau này thỉnh thoảng trong lòng vẫn gợi lên sự băn khoăn về người chị của mình. Những ngày giỗ, ngày tết hoặc Chủ nhật, tôi đưa vợ con về thăm ông bà nội thường gặp chị cũng đưa cả nhà về đó. Rõ ràng là anh chồng chị không xứng đôi với chị chút nào. Ngắm nét đẹp buồn xa xăm của người thiếu phụ có học thay thế vẻ đằm thắm, duyên dáng thời con gái ở chị bên cạnh ông chồng cục mịch, ít lời, chuyên nghề cầm bay khiến tôi tự hỏi: Vì sao chị tôi lại có thể làm vợ người đàn ông này được nhỉ? Có phải do duyên số như mẹ tôi thường vẫn chép miệng khi có người bình phẩm về sự lựa chọn cọc cạch của chị ?

Tôi có tin vào số mệnh không ? Tất nhiên là có. Từ dạo đi học đại học về được phân công công tác ở Sở thương binh xã hội, giải quyết chế độ cho các gia đình quân nhân, những người có công với nước với dân, tôi thấy có rất nhiều chuyện lạ như chuyện đi tìm mộ những liệt sĩ thất lạc đến vài chục năm mà vẫn tìm ra được, tôi càng cảm thấy trong thế giới tâm linh quả có nhiều điều bí ẩn nằm ngoài tầm hiểu biết của con người. Nhưng riêng trường hợp lấy chồng của chị tôi thì không hiểu sao tôi vẫn không tin là do số mệnh. Nhất định chị tôi có một nỗi niềm mà trong gia đình tôi không hề biết. Đôi lúc gặp chị, tôi thường để ý và nhận thấy rõ ràng trong đôi mắt chị phảng phất một cái gì u uẩn, mơ hồ như ở cõi xa xăm. Đã mấy lần tôi định bụng gợi chuyện mong hiểu thêm chút ít những tâm tư trong chị nhưng rồi lại quên đi. Công việc bận rộn suốt ngày, suốt tháng, lại còn lo chuyện con cái học hành, thi cử, chẳng lúc nào được rảnh rang. Mà thời gian thì cứ ngày càng trôi nhanh, ngoảnh đi ngoảnh lại trên đầu đã có hai thứ tóc rồi.

Cho đến hôm mới đây, khi tỉnh chúng tôi thành lập một đoàn đại biểu vào nghĩa trang Trường Sơn viếng mộ những liệt sĩ của địa phương đã hy sinh và được an táng tại đó, tôi mới lại có dịp được trò chuyện cùng người chị của mình. Chị đến nhờ tôi đăng ký cho chị được tham gia đoàn thăm viếng.

- Chắc chị có người bạn đã hy sinh trong đó phải không ạ ? - Tôi hỏi  chị.

- Ừ, chị có một người bạn nằm tại nghĩa trang Trường Sơn.

- Chị ấy trước cùng đơn vị với chị à ?

- Ừ.

- Vậy thì em sẽ thu xếp để chị cùng đi. Nhưng đường đi xa đấy, em sợ dịp này chị không được khoẻ.

- Ăn thua gì cậu, ngày trước chúng tôi toàn đi bộ, có sao đâu.

- Nhưng bây giờ chị có tuổi rồi, lại mới ốm dậy, chị phải chuẩn bị sâm, thuốc bổ mang đi, à mà nhà em có đấy, để em mang đi cho chị luôn.

Tôi không ngờ chị tôi vẫn còn dẻo dai đến vậy, suốt dọc đường mấy trăm cây số chị không hề tỏ ra mỏi mệt, thậm chí còn có vẻ khoẻ ra. Khi tới nghĩa trang Trường Sơn, vì phải đảm nhiệm việc dẫn đoàn vào làm lễ viếng, tôi đã quên khuấy mất việc hỏi xem người bạn của chị nằm ở khu vực nào. Lúc công việc xong xuôi, tôi quay ra nhìn khắp không thấy bà chị của mình đâu cả. Mãi sau mới phát hiện ra một bóng người đang lom khom ở tận phía cuối nghĩa trang. Tôi lập tức tiến lại gần, quả nhiên thấy chị tôi đang ngồi đó. Và tôi hết sức ngạc nhiên: ngôi mộ của chị đang thắp hương không phải là của một chị thanh niên xung phong mà là của một người đàn ông với cái tên tôi chưa từng được biết: Nguyễn Văn Thành. Phải chăng đây chính là điều u uẩn mà tôi đã từng cảm nhận được từ lâu trong đôi mắt đen của chị. Một cái gì đó hết sức thiêng liêng mà bao năm qua chị tôi luôn giữ kín trong lòng, không hề cho ai biết. Người đàn ông đó, người liệt sĩ đó là ai, ở đâu, đã gặp chị tôi trong hoàn cảnh nào? Câu chuyện đó đã được tôi đặt ra với chị trên đường trở về. Và chị đã kể cho tôi nghe câu chuyện dưới đây.

* * *

Chị quen anh ấy vào mùa khô năm 1973, lúc bấy giờ đang có lệnh tạm ngừng bắn. Cũng như các đơn vị khác, tiểu đội nữ thanh niên xung phong của chị đã không bỏ lỡ cơ hội, kéo ra mặt đường tranh thủ san lấp hố bom, bắc cầu sửa đường cho xe đi. Mấy năm bom đạn mù trời thì không kể, nhưng trong thời gian này chị em trong tiểu đội ai cũng muốn được ăn uống chu đáo, tươm tất hơn. Khi cử người nấu ăn cho tiểu đội thay chị nuôi vừa được cấp trên rút về trung đoàn thì chẳng ai chịu nhận. Ai cũng muốn ra mặt đường, cho dù vất vả nhưng còn có chị có em, chứ lủi thủi việc bếp núc một mình thì ai cũng ngại. Cuối cùng chị tiểu đội trưởng đành cắt cử luân phiên mỗi đứa một ngày. Chính vì vậy mà bọn chị ăn uống chẳng ra sao cả, hôm thì cơm khô quá, hôm thì cơm sậm sật hoặc khê nồng, canh thì khi có khi không, cả bọn ngồi ăn cứ như bò nhai cỏ. Đến phiên chị nấu có lẽ là hôm đầu tiên cả tiểu đội được ăn ngon miệng, thế là sau đó họ biểu quyết bắt chị phải làm chị nuôi chuyên nghiệp. Chẳng đùn được cho ai nữa nên chị đành phải nhận.

Nếu chỉ sử dụng những gì được cung cấp sẵn của kho thì việc nấu nướng hàng ngày cho mười hai miệng ăn chẳng vất vả gì cho lắm, khéo thu xếp có khi còn nhàn tênh. Nhưng không nỡ để chị em bữa nào cũng phải lặp đi lặp lại vài món ăn quen thuộc, nhất là đồ hộp nhiều khi ngửi mùi đã phát ngấy, khó mà nuốt trôi, chị quyết định mỗi ngày phải lo bằng được một món ăn tươi. Sáng nào chị cũng tranh thủ vài giờ đi kiếm rau trong rừng, hoặc ra suối bắt cá. Hồi còn ở nhà, khi nhà mình phải sơ tán trong rừng, chị vẫn thường giúp mẹ kiếm thức ăn theo cách đó nên cũng có được ít nhiều kinh nghiệm. Sau vài buổi lặn lội khắp các xó xỉnh quanh nơi ở, chị đã phát hiện ra nhiều món lạ, tuy không được nhiều nhưng cũng đủ cho cả tiểu đội ăn ngon miệng, khiến bữa ăn nào cũng vui như tết.

Dịp ấy, chiến trường hầu như không tiếng súng, mọi người ra mặt đường không phải sợ hãi, lo lắng gì. Đêm đến thì xung quanh yên tĩnh, cả bọn ngủ rất ngon giấc nên xem ra đứa nào đứa nấy đều béo ra, mới biết rằng cảnh yên bình không có chiến tranh nó quý thế nào.

Tuy vậy đó chỉ là thời điểm ngừng bắn tạm thời. Cấp trên thường xuyên lệnh xuống cho bọn chị phải luôn luôn đề cao cảnh giác, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống bất ngờ có thể xảy ra. Mỗi lần truyền đạt chỉ thị vừa nhận được cho chị em xong, chị tiểu đội trưởng lại cười: “Tao nói thật với chúng mày, các bố ấy ra lệnh thì mình phải phổ biến cho nhau thôi, chứ ở cái xó rừng này thì có xảy ra cái tình huống quái gì. Mấy năm bom đạn bọn mình chỉ suốt ngày suốt tháng chòng chọc một lũ con gái với nhau, chứ làm gì có chuyện gì đến nỗi phải sẵn sàng đối phó”. Chị ấy nói đúng, từ ngày tiểu đội nữ thanh niên xung phong bọn chi chốt giữ ở cung đường ấy, ngoài sự thường xuyên đối mặt với những trận bom liên tiếp dội xuống nơi trọng điểm, quả thực là không hề có chuyện gì. Ở trong rừng, nơi bọn chị hàng ngày trú ngụ lại càng vắng vẻ, trừ âm thanh của những đoàn xe vọng đến, chẳng có ai qua lại bao giờ.

Vậy mà đã có chuyện xảy ra.

Một buổi sáng như thường lệ, sau khi vào rừng kiếm thức ăn về, chị chuẩn bị bắt tay vào việc nấu nướng. Đang vui vì bếp ăn bữa đó có một nguồn thực phẩm khá dồi dào, chị bỗng sững người vì nhận ra chỗ để ăn mọi ngày có cái gì khang khác. Hình như có ai vừa ở đây ra. Chị lập tức kiểm tra mọi thứ xem có mất gì không thì thấy quả nhiên bị mất thật, hai hộp đồ ăn đã không cánh mà bay. Mở vung nồi thấy số cơm nguội sáng ra hãy còn hơn một suất giờ cũng đã bị vét sạch. Ai mà lại vào đây ăn vụng nhỉ? Chị nghĩ rất nhanh, đặt ra một loạt câu hỏi rồi tự trả lời, cuối cùng chị đi đến một kết luận: dứt khoát đây là hành vi của một kẻ lạ mặt chứ không phải người quen hay thú rừng gì hết. Dù vậy chị cũng chưa tin hẳn những suy đoán của mình. Hôm sau hiện tượng trên lại lặp lại. Để khỏi gây nên sự hoang mang cho chị em trong tiểu đội, chị quyết định sẽ rình xem kẻ gian mặt mũi thế nào rồi mới báo cho mọi người biết. Sau khi nấu chín nồi cơm, chị cố tình để ngỏ cửa bếp rồi đi thẳng vào rừng, giả bộ đi kiếm rau. Một lát sau, chị bí mật vòng trở lại nấp vào một bụi cây gần lán, tay cầm chắc khẩu AK. Và chị đã không phải đợi lâu. Từ mé suối có một bóng người xuất hiện: một anh bộ đội trên mũ có sao tử tế. Chẳng nhẽ anh ta lại là kẻ ăn vụng? Xem ra dáng điệu thì không phải kẻ gian. Anh ta đi vào bếp, ngó đầu nhìn quanh rồi lên tiếng hỏi: “Có ai ở đây không?” Không thấy trả lời. “Có ai ở trong đó không?”- anh ta hỏi tiếp, vẫn thấy yên lặng liền liều bước vào, chỉ một thoáng đã quay ra với mũ cơm vừa xới trên tay, túi quần thì căng phồng lên bởi hộp đồ ăn vừa nhét vào.

- Đứng lại ! Giơ tay lên!

Người đó giật nảy mình, mũ cơm rơi xuống đất. Anh ta hốt hoảng nhìn họng súng đen ngòm đang chĩa vào mình, từ từ giơ tay lên.

- Anh từ đâu đến ? Tại sao lại vào đây ăn trộm ?

- Tôi.....

- Đào ngũ hả ?

- Không......Tôi.....

Anh ta lúng túng nhìn chị rồi liếc xuống mũ cơm vừa rơi bằng đôi mắt thèm thuồng, tiếc rẻ. Nhìn gương mặt hốc hác, xạm đen, phờ phạc, chị đoán người này đang đói liền hất đầu bảo anh ta:

- Nhặt mũ lên, đi vào bếp.

Sau đó vẫn lăm lăm khẩu súng trên tay, chị ra lệnh cho anh ta tự lấy cơm ăn. Nhìn anh ta ngồi ăn ngấu nghiến như người bị bỏ đói lâu ngày, chị cảm thấy thương thương nhưng vẫn cố nghiêm nét mặt.

- Nào. Bây giờ thì anh hãy nói cho tôi biết: anh tên gì, ở đơn vị nào, tại sao lại vào đây ăn trộm ? - Chị hỏi khi anh ta đã ăn xong.

- Tôi là Thành, ở đơn vị chủ lực trực chiến trên chốt Q.

- Sao anh lại bỏ đơn vị đến đây ?

- Tôi......- Anh ta quay đầu nhìn ra cửa như sợ có ai đó xuất hiện - Chuyện hơi dài, xin cô giải tôi ra ngoài suối, tôi sẽ nói cho cô hiểu.

- Nói dễ nghe nhỉ. Đưa anh ra suối để anh chạy trốn à ?

- Cô thấy đấy, tôi không có vũ khí, mà biết chạy đi đâu ? Suốt dải rừng này không có một nhà dân nào cả, sở dĩ tôi muốn ra ngoài là vì sợ mọi người về. - Anh ta nói xem ra có vẻ thành thật. Sau vài giây suy nghĩ, chị gật đầu chấp nhận đề nghị của anh ta.

- Cô biết đấy, thời gian qua có lệnh ngừng bắn, đơn vị tôi trực chiến trên một quả đồi cao gọi là chốt Q. Đối diện với chúng tôi là một điểm chốt của bọn lính nguỵ. Lúc đầu hai bên còn giữ miếng nhau từng tí một, suốt 24 giờ trong ngày ai nấy đều nấp sau ụ súng với tinh thần cảnh giác cao độ, nhưng lâu dần không thấy xảy ra chuyện gì, sự đôn đốc của ban chỉ huy cũng bớt đi chút ít và chúng tôi thấy dễ thở hơn, không phải vì chúng tôi chủ quan khinh địch, mà cái không khí chung nó thế. Bên ta cũng thế mà bên địch cũng vậy. Xét cho cùng chiến tranh là chiến tranh, chứ bản thân mỗi người lính thì có tội tình gì mà phải ghét nhau. Thế rồi một lần chúng tôi đang chuẩn bị ăn trưa thì nghe bên kia có tiếng hỏi: - “Bên ấy có canh không ? cho bọn này xin chút xíu được chứ ?”. Một cậu bên tôi đứng lên nói: - “Có đấy, muốn ăn thì sang mà lấy”.

- Nếu tụi tôi sang thì được bảo đảm an toàn chứ ?

- Bảo đảm an toàn tuyệt đối, nhưng phải cầm theo một mảnh vải trắng thì mới được, rõ chưa.

Tưởng chuyện đùa, nào ngờ một tên lính nguỵ mò sang thật. Một tay cầm chiếc mùi xoa thay cho cờ trắng, tay kia xách cặp lồng, hắn ta từ triền đồi bên kia theo đường mòn chạy xuống rồi leo tiếp lên chốt chúng tôi. Tôi múc cho hắn một cặp lồng canh rồi bảo hắn về ngay, nhỡ đâu trung đội trưởng tình cờ bắt gặp thì khốn cho cả bọn. Hắn cám ơn rất nhiệt thành: -“Các anh tốt quá. Ước chi họ cho ngừng bắn hẳn đi thì hay biết bao nhiêu”. Nói rồi hắn vội vã quay về.

Nhưng hắn chưa về đến chốt bên kia thì đã có sự xảy ra: trung đội trưởng của chúng tôi đột ngột xuất hiện. Anh ta quát to: - “Có tên do thám, có một tên do thám.” Chúng tôi chưa kịp định thần thì một tiếng súng nổ vang. Người lính nguỵ ở mé đồi bên kia trúng đạn, ngã vật người trên cỏ, chiếc cặp lồng canh bị văng ra lăn lông lốc. Nhìn cảnh đau lòng đó, tôi giận sôi lên đến mất cả tự chủ. Tôi xông đến giật phắt khẩu súng trong tay trung đội trưởng, trở báng súng phang cho anh ta một đòn như trời giáng. Hắn ngã quay ra bất tỉnh. Mọi người quây cả lại, mấy người giữ chặt lấy tôi, mấy người khác lao đến rối rít cứu chữa cho trung đội trưởng. Phía bên kia đạn bắn sang bay chiu chíu nhưng may không ai bị làm sao.

- Thế rồi sau đó - Chị hỏi.

- Sau đó tôi bị bắt giam, còn trung đội trưởng phải nằm điều trị ở bệnh xá. Mãi lúc ấy tôi mới biết anh ta là con một ông cốp ở sư đoàn. Khi biết chuyện, ông ta đã nổi cơn thịnh nộ, quy cho tôi là kẻ phản bội, tiếp tay cho kẻ thù và sẽ xử tôi rất nặng, có thể là xử bắn. Tôi không sợ chết, nhưng chết như thế nào chứ ? Thế là tôi tìm cách thoát ra khỏi nơi tạm giam, chạy về đây.

- Bây giờ anh định thế nào ?

- Chưa biết - Thành thở dài mệt mỏi - Đễ đến được đây tôi đã phải nhịn đói mấy ngày rồi, giờ được cô cho ăn là tốt lắm. Số phận tôi hiện đang ở trong tay cô, tuỳ cô định đoạt, chỉ mong cô hiểu cho tôi hoàn toàn không phải là một kẻ đào ngũ, mà chỉ tạm thời chạy trốn cơn thịnh nộ của cấp trên thôi.

Thành cho chị biết là hiện anh đang ở trong một cái hang đá, nếu chị tin anh thì hãy để cho anh tạm trú ngụ ở đó, đừng cho ai biết. Anh chỉ ở đó ít bữa rồi sẽ trở về đơn vị xin được lập công chuộc tội. Anh tin lúc đó cấp trên sẽ hiểu anh.

Tình huống thật nan giải, chị không biết nên làm thế nào. Nhưng xét toàn bộ câu chuyện anh kể, nhất là cử chỉ, thái độ của Thành, chị thấy anh là con người chân thật. Chị đồng ý với đề nghị của anh.

Từ hôm đó, ngoài mười hai chị em trong tiểu đội, chị còn nấu thêm một suất ăn, hàng ngày mang vào hang tiếp tế cho Thành. Chị còn giúp Thành chặt tre làm chõng rồi bí mật mang chăn chiếu cho anh. Ở một mình trong hang đã khổ, lại không mấy khi được ăn nóng sốt nhưng Thành tỏ ra sung sướng lắm. Anh ăn uống ngon lành, vừa ăn vừa nhìn chị bằng ánh mắt đầy cảm kích. Được vài hôm, thấy không có động tĩnh gì, anh đánh bạo ra ngoài, đi kiếm thức ăn giúp chị. Thành là một chàng trai tháo vát, việc gì cũng biết làm. Có anh giúp sức, chị chế biến khá nhiều thức ăn lạ miệng từ các loại măng, nấm, rau vµ các thứ hoa quả rừng, đôi khi còn bẫy được các con thú nhỏ về làm thịt. Thành còn bày cho chị cách câu cá suối, anh làm hàng chục chiếc cần câu, dùng chỉ làm dây câu, kim băng làm lưỡi câu, đào giun làm mồi rồi đem cắm mỗi nơi một chiếc. Có vậy mà hôm nào cũng gỡ được rổ cá, hết nấu lại kho, khiến cả tiểu đội ngạc nhiên.

Một lần theo Thành đi gỡ cá, chị hỏi:

- Anh học được cách làm này từ bao giờ vậy ?

- Đi một ngày đàng học một sàng khôn - Thành cười đáp - Các cụ xưa nói không sai tí nào. Mới mấy năm rời trường đại học vào lính, tôi đã học được khối nghề, cách câu cá cắm này tôi học được trên đường hành quân đấy.

- Trước anh học trường nào ?

- Trường Tổng hợp.

- Khoa gì?

- Khoa văn.

- Khoa văn?

- Ừ. Thảo ngạc nhiên lắm hay sao?

- Không.....Là em thấy.....

Chị đâm lúng túng, không biết trả lời ra sao, bởi chị thường cho rằng những chàng sinh viên, nhất là ở các môn khoa học xã hội thì thuộc dạng “trói gà không chặt”, vậy mà trước mặt chị lại là một chàng trai ngăm đen, thô tháp, chẳng khác gì một anh thợ mỏ. Được cái hàm răng tươi, mỗi khi cười làm sáng bừng gương mặt.

- Học Tổng hợp văn mà đi lính như anh, biết đâu lại trở thành nhà văn quân đội cũng nên - Chị nói.

- Thảo nhầm rồi - Thành vừa gỡ một chú cá bị mắc câu đưa cho chị, vừa lắc đầu cười - Trường Tổng hợp có đào tạo nhà văn đâu, nhà văn là do trời dạy, người bình thường làm sao nổi.

- Vậy ở trường anh học những gì?

- Học những câu tôi vừa nói đấy - Thành nheo mắt cười hóm hỉnh.

- Nói chuyện với anh hay thật.

- Lần đầu tiên tôi được bạn gái khen.

- Thật không?

- Thật. - Ngừng một lát, anh quay sang hỏi chị: - Quê Thảo ở đâu?

- Em ở vùng mỏ, anh đã có dịp đến đó lần nào chưa?

- Tôi chưa đến lần nào, chỉ biết quê Thảo qua một số tác phẩm viết về người thợ mỏ. Vùng đất ấy thật là giàu đẹp, vừa có biển, vừa có rừng, lại có cả than. Quả là một vùng đất lý tưởng.

- Anh chưa biết đấy thôi, dân ở vùng em còn nghèo lắm.

- Đang chiến tranh mà, ở đâu chả khổ. Khi nào đất nước thống nhất, mọi người tập trung vào lo chuyện làm ăn, lúc đó may ra mới có cơ khá được.

- Thật chỉ mong sao cho hết chiến tranh thôi anh nhỉ.

- Đến khi đó, nếu may mắn được gặp lại nhau, tôi sẽ mời Thảo về quê tôi chơi. Quê tôi ở vùng châu thổ sông Hồng, có dòng sông lượn quanh luỹ tre làng đẹp lắm. Phía sau làng có một con đê rất cao như một bức tường thành. Trong đồng thì trồng lúa, ngoài bãi thì trồng đay, trồng ngô. Vào mùa nước dâng, nước sông Hồng cuồn cuộn đổ về đem theo phù sa đỏ. Những ngày đó bọn chúng tôi thường dắt trâu ra bãi, ùa xuống tắm, tha hồ bơi lội. Thế mà đã năm năm rồi.

Giọng Thành trở nên mơ màng, đôi mắt anh nhìn mãi tận đâu đâu, như là trông thấy cái miền quê thơ mộng ấy. Chị nhìn anh, lòng bỗng thấy bồi hồi, xao xuyến. Lần đầu tiên trong đời, chị có điều kiện gần gũi, chuyện trò lâu với một người con trai, trong khung cảnh tĩnh lặng, êm đềm của núi rừng Trường Sơn, chị thấy anh đáng yêu đến thế.

- Ta nghỉ chút đã Thảo. - Anh cầm tay dắc chị ngồi xuống bên bờ suối. Dọc hai bên bờ, những bông hoa leo trắng gặp gió phấp phới như những cánh bướm. Vẫn giữ bàn tay chị, anh nhìn chị bằng ánh mắt nồng nàn - Em là một cô Tấm nhân hậu. Trong cái rủi có cái may, điều may mắn nhất đối với anh là được gặp em. Dù sau này ở đâu, làm gì, không bao giờ anh có thể quên em được, trừ khi anh chết đi thôi.

- Đừng nói gở thế anh.

- Thảo ơi !

- Anh.......

Tình yêu đến với chị và anh như một điều tất yếu. Chị yêu Thành với tất cả niềm khao khát, đam mê của tuổi trẻ, của mối tình đầu say đắm mà lo âu. Và càng ngày nỗi lo âu càng tăng thêm trong chị, làm cho chị mất ăn mất ngủ. Dù rất yêu anh, muốn luôn có anh bên mình, chị vẫn không thể không nghĩ tới việc Thành phải quay về đơn vị.

- Anh định sẽ làm gì trong thời gian tới đây? - Một lần mang cơm đến cho Thành, chị hỏi.

Câu hỏi đã kéo Thành trở về thực tại, khiến anh như bừng tỉnh sau một giấc mơ. Anh ngồi thừ ra một lát rồi lẩm bẩm như tự hỏi mình:

- Anh ở đây được bao lâu rồi nhỉ?

- Hơn một tuần rồi. Em sợ nếu anh đi quá lâu, đơn vị cho người đi truy lùng thì khốn.

- Anh cũng lo như vậy nhưng không biết tính sao. Không khéo lại liên luỵ đến cả em thì tội lắm.

Bữa cơm hôm ấy anh ăn không được ngon. Đêm về chị trằn trọc mãi không sao ngủ được. Nằm trong căn lán ấm sức hơi người, chị càng thương Thành một mình trong hang lạnh. Hạnh phúc trong tầm tay mà không dám đón nhận, mà ngược lại còn phải tìm cách chia xa. Nhưng không thể nào khác được, anh ấy phải trở về với đồng đội. Làm thế nào đây? Hay là... Một ý nghĩ táo bạo chợt nảy ra khiến chị ngồi bật dậy, nhưng thấy mọi người xung quanh đang ngủ say, chị đành nằm trở lại, chờ sáng.

Sáng hôm sau, lúc mọi người chuẩn bị đi làm, chị kéo chị tiểu đội trưởng ra một chỗ khẽ hỏi:

- Em muốn chị giúp em một việc được không?

- Việc gì vậy em?

- Một chuyện hệ trọng, chị ở nhà với em một lát nhé.

Tuy hơi ngạc nhiên nhưng chị tiểu đội trưởng cũng gật đầu đồng ý. Sau khi phân công công việc cho chị em trong tiểu đội, chị ấy quay sang bảo:

- Nào có chuyện gì em nói cho chị nghe xem, nếu có thể chị sẽ hết lòng giúp.

Chị liền đem chuyện gặp Thành ra kể lại từ đầu. Nghe xong, chị tiểu đội trưởng khẽ kêu lên:

- Thế có chết người không! Thì ra hắn ta ở đây à?

- Chị biết rồi sao?

- Hôm qua chị nhận được chỉ thị của trên, nói rằng có một tên đào ngũ hiện đang trốn quanh quẩn ở vùng này, nếu đơn vị nào phát hiện được thì phải bắt giữ, giải về trung đoàn ngay lập tức.

- Nếu thế thì nguy hiểm quá, làm thế nào bây giờ hả chị?

- Tốt hơn hết hãy khuyên anh ta ra đầu thú.

- Thế thì tội cho anh ấy lắm chị ơi. Anh ấy là người tốt, tốt thật mà.

- Chị hiểu rồi. Nghe em kể là chị hiểu ngay, nhưng trong chuyện này... - Chị tiểu đội trưởng ngừng lời, nhìn săm soi gương mặt chị - Em yêu nó rồi phải không?

- Dạ...

- Đừng có chối đấy. Trông cái mặt kìa...

Rồi với vẻ đăm chiêu, một lát sau chị tiểu đội trưởng bảo chị:

- Thôi bây giờ thế này, em ra bảo Thành vào đây, dù muốn hay không chị phải kiểm tra con người đó thế nào đã, xem có xứng là chàng rể tương lai của tiểu đội không. Rồi sau sẽ liệu.

- Cám ơn chị.

Cuộc gặp gỡ giữa chị tiểu đội trưởng và Thành diễn ra thế nào chắc em cũng hình dung được, chị khỏi phải kể lại, chỉ biết sau đó Thành đã nhận được sự ủng hộ, anh được tiếp xúc với toàn tiểu đội. Sau khi nghe câu chuyện của Thành, biết anh là người sống chân thành, do nóng nảy mà phạm tội, và cũng do hết lòng muốn vun đắp cho tình yêu của anh chị nên mọi người quyết định làm chung một lá đơn gửi tới trung đoàn xin xá tội cho Thành, rồi cử chị đi cùng anh đến đó. Chị tiểu đội trưởng còn liên hệ với một đội xe nhờ họ đưa hai người đến chỗ tập kết được an toàn.

Lá đơn tập thể của tiểu đội nữ thanh niên xung phong vốn nổi tiếng anh hùng đã khiến ban chỉ huy trung đoàn quân chủ lực đang chốt giữ vùng giáp ranh hết sức ngạc nhiên và cảm động. Thực ra họ cũng đã hiểu bản chất sự việc xảy ra với Thành rồi. Sau khi xin ý kiến cấp trên, người ta đồng ý tiếp nhận Thành trở lại đơn vị cũ. Phê chuẩn xong quyết định cho Thành, đồng chí trung đoàn trưởng véo một cái vào tai anh và nói: “Dù là văn nhân hay thi sĩ thì khi vào lính cũng phải theo đúng luật nhà binh, không được phép sống bừa như thế, trên chiến tuyến mà gọi kẻ địch sang là không được. Hãy về ngay và đứng nghiêm trước cậu trung đội trưởng, giơ mặt ra cho nó đấm “trả thù” một quả, rõ chưa”.

Thế là Thành được trở về đơn vị.

Trước ngày chị quay lại tiểu đội của mình, anh và chị đã ở bên nhau suốt một đêm. Đêm ấy trời rất sáng, trông rõ cả những con đường mòn ngang dọc xung quanh khu vực đóng quân của trung đoàn. Thành đưa chị đi chào anh em trên chốt rồi trên đường về, anh dẫn chị đi theo lối tắt, qua một cánh rừng vắng vẻ. Trời lúc đó đã về khuya, sương buông trắng xoá, anh kéo chị ngồi xuống một vạt cỏ. Dưới ánh trăng, gương mặt anh ngời sáng, và như hôm nào, anh lại nhìn sâu vào mắt chị, nói với chị lời tha thiết, những lời nói được toát lên từ đáy lòng anh. Anh nói rằng chị là một phụ nữ hoàn thiện, là người con gái mà từ lâu anh đã ước ao được gặp, rằng khi hết chiến tranh anh nhất định sẽ quay về tìm chị, và nếu chị không chê, anh sẽ xin cưới chị rồi hai người sẽ sống bên nhau suốt cuộc đời.

- Rồi chúng mình sẽ có con với nhau - Anh say sưa nói - Con chúng mình sẽ rất tuyệt vời, chúng sẽ được đi học dưới mái trường bình yên, không có tiếng bom gào đạn réo. Rồi sau này khi chúng lớn lên, anh sẽ kể cho chúng nghe về cuộc gặp gỡ của chúng mình, về những năm tháng ở Trường Sơn, những năm tháng gian nan nhưng vô cùng tuyệt đẹp này. Em có nghĩ thế không, Thảo?

Chị mỉm cười rúc đầu vào ngực anh. Anh ôm ghì chị trong vòng tay rắn chắc. Giây phút đó chị cảm thấy anh quả là một chàng trai mạnh mẽ và bạo liệt, khiến chị không còn thấy gì ở quanh mình, quên rằng mình đang ở chiến trường mà cuộc chiến đấu vẫn đang còn tiếp diễn, chỉ cảm thấy một niềm hạnh phúc đang cuộn dâng trong vòng tay đam mê, âu yếm của anh. Và chị đã yêu anh, thuộc về anh, mãi mãi thuộc về anh.

* * *

Kể đến đây, chị tôi ngừng lại đưa mắt nhìn qua cửa kính xe, nơi có dải Trường Sơn xanh mờ chạy dọc theo chiều dài Tổ quốc. Tôi cũng không hỏi gì thêm, chỉ trầm ngâm theo đuổi những dòng suy nghĩ của mình. Thì ra nỗi niềm sâu kín của chị tôi là vậy. Thời trẻ chị đã có một tình yêu đẹp thế, một tình yêu ở Trường Sơn. Chị mãi mãi thuộc về Trường Sơn và Trường Sơn cũng sống mãi trong tâm hồn chị.

Có những mối tình ngắn ngủi mà sức sống lâu bền thế đấy.

         T.H

Thu Hà
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 135 tháng 12/2005

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

16/04

25° - 27°

Mưa

17/04

24° - 26°

Mưa

18/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground