Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 15/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Cổ tích "Ngã Ba Cưa"

N

gày chống Mỹ, tôi chiến đấu ở chiến trường nam Quảng Trị. Mảnh đất ấy còn bao bè bạn tôi nằm lại! Nhiều đêm, giấc mơ đưa tôi trở về với chiến trường xưa. Không thể không trở lại mảnh đất ấy. Thế là mùa hè năm 2000, tôi bổ vào Trị-Thiên. Chuyến đi ấy, tôi đã trở lại thăm một số xã thuộc Triệu-Hải tỉnh Quảng Trị, nơi trước đây tôi đã từng sống và chiến đấu trong những ngày gian khổ ác liệt nhất. Dấu tích chiến tranh đã bị xóa đi gần hết. Ngay cả vùng ven biển chỉ có gió cát ồi ồi gần như sa mạc, màu xanh cũng đã bật lên. Điều bất ngờ nhất là tôi được nghe một chuyện gắn với “Ngã Ba Cưa” khiến người trong cuộc quê tận Thiên Trường phải chuyển hẳn vào Huế ở. Ấy là vì anh muốn năm nào cũng được tới viếng ngã ba ấy vào dịp Nguyên Tiêu.

“Ngã Ba Cưa” cái tên nghe thật lạ tai. Từ nghìn xưa, ngã ba hoang này của đại ngàn Trường Sơn làm gì có tên. Những thi sĩ lãng mạn nhất may ra mới có cảm hứng về nơi hoang vu chỉ có tiếng hổ gầm rợn người và tiếng chân voi chuyển nói. Bỗng lịch sử vặn mình, ngã ba hoang của núi rừng Quảng Trị khiến cho người đời phải nhớ và đi về.

***

Mùa hè năm 1967 thật dữ dội. Chiến trường Trị-Thiên như một chảo lửa. Pháo binh quân Giải phóng dội lửa xuống Cồn Tiên, Dốc Miếu khiến giặc thất kinh. Sang thu, chiến trường chùng hẳn xuống. Đơn vị Phấn dồn sức xuống đồng bằng lấy lương thực… Ai cũng đoán là sắp có chuyện lớn.

Từ miền tây đi xuống cách đường số một chừng bốn giờ đi bộ có một ngã ba rừng. Đó là nơi các đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong dừng chân. Chạng vạng tối, mọi người băng xuống đồng bằng. Rạng sáng ngày hôm sau, họ lại có mặt tại ngẫ ba mang theo gạo, mì ống, mắm muối, thuốc tây… Sau khi dừng chân vài chục phút ăn cơm, ăn bánh của cô bác đồng bằng cho, họ lại băng lên miền tây hòa vào rừng xanh. Khoảng thời gian dừng chân ở rừng xanh lúc đi và về, bộ đội, thanh niên xung phong có dịp làm quen nhau. Chuyện nở như ngô răng. Nào là lính Mỹ ẵm đĩ búp bê có “mó máy” được không? Nào là chuyện “cua ra cua vào” được bọc bằng sắt thì yêu nhau thế nào? Rôm rả nhất là chuyện “cào cào châu chấu” rồi “tép tép tôm tôm” tranh cãi mỏi miệng mà thắng thua không bao giờ ngã ngũ. Những chàng lính nóng tính có khi suýt nữa uỵch nhau. Bao chuyện thủ thỉ, tâm tình chỉ đủ cho hai người nghe cũng diễn ra tại ngã ba này. Giây phút trai gái gặp nhau ở ngã ba rừng là giây phút thần tiên. Chiến tranh, chết chóc không thể làm thui chột sự sống sinh sôi… Một chàng trai Hà Nội tập tẹ làm thơ nảy ra sáng kiến đặt tên cho ngã ba. Mọi người đều hưởng ứng. Năm bảy cái tên được đưa ra như ngã ba “Dừng”, ngã ba “Nghỉ”, ngã ba “Bộ đội”, ngã ba “Khúc khích”, ngã ba “Mơ”. Bỏ phiếu bằng mồm, chưa có cái tên nào vượt quá bán. Lúc đó một anh lính dáng con nhà giàu cứ im thin thít, mồm phì phèo “Quân Tiếp Vụ” khiến mấy tướng đói khói tức điên lên. Đột ngột anh lính ấy lên tiếng: “Khá lắm!”. Lại một người khác tiếp lời: “Trên cả khá ấy chứ”. Chỗ này: “Cậu ấy mà khá”. Chỗ kia: “ Tên hay lắm”. Đùa mà hóa thật, gọi mãi thành quen, ngã ba rừng hoang vắng vô danh bỗng nhiên mang tên là “Ngã Ba Cưa” từ đó. Thời ấy đối với bộ đội và thanh niên xung phong, ngoài “Ngã Ba Cưa” còn có “Trạm Ông Chạy” và một số cái tên khác do lính đặt đã thành quen tai với mọi người. Còn đối với những người không phải lực lượng vũ trang, ít đặt chân tới rừng núi, những cái tên lạ hoắc đã nêu ở trên mấy ai biết tới. Chàng trai nghĩ ra cái tên “Ngã Ba Cưa” chính là Hoàng Phấn.

Một lần nghỉ chân ở “Ngã Ba Cưa”, Phấn trông thấy một nữ thanh niên xung phong cứ lén nhìn anh. Phấn rút chiếc bút chì 6B và một tờ giấy ký họa cô gái. Chỉ một nhoáy, thần thái cô gái đã hiện trên giấy. Gấp bức họa bỏ vào túi áo ngực, anh lính nghệ sĩ mơ màng nhìn chiều rơi, rừng ánh lên màu hoang sơ bí ẩn. Chợt có người bước tới bên anh hỏi:

- Vẽ người ta mà không xin phép, anh gọi là gì?

Phấn quay lại. Anh nhận ra “cô gái nhìn lén”. Hai luồng sáng dọi thẳng vào anh. Mắt cô gái lịm như mía bén heo may. Phấn lững thững đáp:

- Vẽ trộm! Có thế mà cũng không biết, dốt dai quá!

Rồi anh vặn lại:

- Thế nhìn mà không hỏi người bị nhìn thì gọi là gì?

- Nhìn tranh thủ!

- Lắm lắm! Vậy là huề. Gái ở đâu mà gớm ghiếc thế?

- Sư phạm ăn, à quên sư phạm văn. Hết năm thứ một, tức quá xin đi lính. Lỡ đợt lính, vào ngay “thanh niên xông pha”.

- Tức gì mà tức thế?

Cô gái nhìn Phấn vẻ châm chọc, nói:

- Người ta nói thời nay là thời của gà trống. Gà mái vô tích sự, giỏi lắm cũng chỉ “đường cầy dở dang”. Như anh, anh có tức không?

- Tức!

 Nét mặt cô gái trở lại nghiêm trang:

- Thêm nữa, ông già trở về trong này chiến đấu từ năm 1965 không tin tức gì. Bởi vậy, đây vào chiến trường còn có ý tìm ông già và cũng phải góp một chút gì cho công cuộc giải phóng quê hương chứ.

Rồi cô gái chằm ánh mắt thân thiện vào Phấn, nói:

- Anh kỷ niệm em bức tranh.

- Tranh nào?

- Tranh anh vẽ trộm.

Hoàng Phấn cười:

- Đã là của ăn trộm không thể tặng nhau được. Kỷ vật tặng nhau mang ý nghĩa đẹp đẽ thì phải là vật đàng hoàng.

Ghê thật! Vậy là tranh vẽ đàng hoàng.

- Được, với hai điều kiện.

- Anh nói đi!

- Tên tuổi, quê quán?

- Người gì mà như công an thẩm vấn tội phạm không bằng!

- Lính mà …

- Em tên là Hảo, tuổi bén đầu hăm, quê Quảng Trị - Bắc Ninh.

- Này, cậu có hâm hấp cám heo không đấy? Quảng Trị là Quảng Trị, Bắc Ninh là Bắc Ninh chứ sao lại là Quảng Trị - Bắc Ninh được.

Hảo cười rũ rượi:

- Anh mới là hâm hấp cám heo khê, trông sáng sủa thế kia mà dốt bền. Anh có thừa nhận là dốt bền hơn ka ki Trung Quốc em mới lơ thơ sông Cầu nói cho anh nghe vì sao đã là Quảng Trị lại còn Bắc Ninh.

- Ừ thì dốt dai hơn ka ki.

- Nhưng anh chôn nhau ở đâu đã?

Phấn cười hóm hỉnh:

- Xem ra “thanh niên xông pha” mà cũng giám đấu pháo với bộ đội. Anh quê xứ Chầu Văn có gạo tám xoan một nhà nấu cả tỉnh thơm, ăn một bận nhớ một đời. Con gái ăn gạo tám xoan quê anh da ngần mịn như ánh trăng. Được chưa?

Hảo cười như nắc nẻ:

- Có mười anh chàng nói khoác, chín anh đã giải nghệ còn lại một hóa ra là anh. Vậy liền chị xin thưa: Em quê Triệu Thượng, Triệu Phong, Quảng Trị. Bảy tuổi, em theo ông bà già ra Bắc tập kết, uống nước sông cầu, vỗ nhịp trống cơm, ới a Quan Họ …

- Phấn cắt lời Hảo:

- Rõ rồi, rõ rồi… Thế, đã với ai chưa?

- Chồng em giống hệt như anh…

Phấn nghĩ, cô gái này rất hóm hỉnh, nói chuyện có duyên. Nhưng Phấn cố giữ vẻ bình thản đến thờ ơ khiến cho Hảo phải bật ra câu hỏi:

- Còn điều kiện thứ hai?

Phấn đáp cộc lốc:

- Vẽ…

- Sao tham lam thế?

- Mười thằng con trai thì chín thằng rưỡi tham lam, không tham lam con gái không thích. Vả lại, đã mang tiếng trộm mà không có lấy một bức làm vốn vậy mang tiếng để làm gì?

Bằng ánh mắt đằm thắm, giọng dịu dàng, Hảo nói:

- Em đã nói lại với anh rồ, không phải vẽ trộm nữa mà là vẽ đàng hoàng. Nghệ sĩ mà chẳng nghệ sĩ gì cả!

Mấy cô bạn của Hảo đứng cách đó mươi bước cứ bấm nhau cười. Phấn biết cả nhưng cứ lờ đi và càng hành cô gái:

- Được, vậy mời cô ngồi để tôi giúp cô thực hiện điều kiện thứ hai.

Hảo nói ngay:

- Chưa được…

- Không bằng lòng hả? Không bằng lòng thì thôi.

- Bằng lòng nhưng em phải có bức họa trong tay đã. Đàn ông chắc là không chắc lép chứ?

Phấn tủm tỉm:

- Cô này riết thật, đặt đối phương vào thế “không cho chúng nó thoát”. Cô mà là vợ tôi thì tôi chết.

- Ai đã là vợ anh mà anh chết với sống, chưa chi đã vơ vào.

Chiến dịch lấy gạo chuẩn bị cho xuân Mậu Thân khiến hai người thường gặp nhau ở “Ngã Ba Cưa”. Có những đêm, họ cùng nhau xuống đồng bằng. Có lần, Phấn và Hảo suýt chết khi vượt qua đường sắt bởi địch phục kích.

Rồi hai người đính ước. Đơn vị đã cho phép họ tổ chức, ngày cưới được ấn định vào 28 tháng 11 năm 1967. Đùng một cái, đơn vị của Phấn có lệnh đánh vào La Văng phá cuộc bầu cử “Tổng thống” ngụy quyền ngày 27 tháng 11 năm 1967 do liên danh Thiệu - Kỳ tranh ghế tay sai. Ngay sau đó, những trận chiến đấu cứ tiếp nhau khiến Phấn chưa thể trở lại lo cho mình thì xuân Mậu Thân ập đến. Hoàng Phấn bị cuốn hút vào cơn lốc mùa xuân ấy…

***

Trên một ngõ nhỏ của thành phố Huế có một tiệm vẽ. Chủ của nó là người đàn ông tuổi chừng trên năm chục. Tiệm của ông thường có khách từ xa đến mua tranh. Tuy vậy, ông chỉ nhận việc đủ nuôi sống bản thân với mức sống trên trung bình một chút. Ông làm như vậy cốt là để có nhiều thì giờ vẽ cái điều hằng ám ảnh ông.

Trong tiệm của ông có hàng chục tranh thiếu nữ. Những bức tranh thiếu nữ ấy chỉ là cảm xúc thăng hoa từ bức ký họa treo trên bàn thờ. Người ta nhận ra điều này ở đôi mắt cô gái từ ký họa hiện lên trong các bức tranh khác treo trong tiệm. Không ít người hỏi mua tranh thiếu nữ, ông không bán. Suốt ngày, ông chỉ vùi đầu vào màu sắc. Nó đã thành ma lực hút hồn ông.

Gần đó có một cô gái tên là Vân dạy tiểu học. Cô Vân tuổi gần tứ tuần, khá xinh. Khối người đã tìm đến, cô chưa nhận lời ai. Lúc đầu cô sang xem ông vẽ. Thấy ông bữa đực bữa cái, cô lặng lẽ lo cho ông ngày hai bữa cơm thanh đạm. Ông thầm cảm ơn cô Vân. Vẽ được bao nhiêu tiền, ông ném cả cho cô. Cô Vân trừ đi số tiền chi tiêu cho ông trong tháng. Thừa bao nhiêu, co trả lại. Ông lại nhờ cô Vân giữ hộ.

Một ngày vài ba lần cô Vân lui tới, ông chỉ tốn với cô mấy lời chào và vài lời mời cơm. Đến một ngày, cô Vân phải nói:

- Anh Phấn, ngoài mấy lời bất đắc dĩ đó, anh không còn lời nào dành cho nhau sao?

Ông Phấn đáp:

- Tôi dành cho cô nhiều đấy chứ. Khi về bên kia, tôi có mang theo được những bức họa này đâu?

- Tranh à? Sao anh không dành cho nhau lúc sống?

Ánh mắt chĩu xuống, ông nói:

- Cuộc đời tôi, hồn phách tôi trong đó cả rồi. Từ ngày cô chăm tôi, tôi vẽ đẹp hẳn lên. Hồn vía cô cũng hóa trong những bức tranh tôi vẽ. Cô không nhận ra sao?

Cô giáo Vân còn biết nói gì nữa! Cô bật khóc… Ông Phấn cũng thấy thương cô Vân nhưng rung cảm thì không. Có ai thay được cô gái đã thành tranh trong trái tim ông đâu!

Một ngày mưa buồn sũng sịu, cô Vân lắng nghe ông Phấn kể về những năm tháng đã thành ngày xưa. “Cuối tháng giêng năm Mậu Thân, đơn vị tôi rút khỏi thành Huế. Tôi băng ngay ra Quảng Trị tìm bạn. Đến hậu cứ thanh niên xung phong, hậu cứ đó đã bị san phẳng. Tìm đến những đon vị bạn là hàng xóm của Hảo nhưng những đon vị ấy cũng chuyển đi rồi. Một vùng mông mênh chỉ có rừng trụi lá và những hố bom chồng lên nhau. Trước sau, gần xa không một bóng người! Phải đến “Ngã Ba Cưa” may ra… Nghĩ như vậy, tôi tắt dừng bước gấp. Tới “Ngã Ba Cưa”, tôi bàng hoàng tưởng rụng rời chân tay. Sáu ngôi mộ thanh niên xung phong đập vào mắt. Tôi không tin ba chữ “Trần Thị Hảo” trên bia mộ là Hảo của tôi. Nhưng quê quán, đơn vị rành rành trên bia, tôi không tin cũng không được. Tôi khóc như chưa bao giờ được khóc! Tôi ôm bia ngồi lặng hàng giờ… Hoàng hôn rơi làm màu rừng thêm huyền bí. Tôi bèn quỳ trước mộ nói với nửa trái tim mình: “Hảo ơi! Anh cảm ơn số phận. Trời đã ban em cho anh. Cũng “Ngã Ba Cưa” này cách đây mấy tháng, chúng ta đã gặp nhau. Anh bàng hoàng với tình yêu em đã dành cho anh. Khi thằng đàn ông trong anh quấy phá khiến lý trí có thể bất lực, em đã dẫn câu thơ “Tang trung Bộc thượng” trong Truyện Kiều để ngăn anh, khiến anh bừng tỉnh. Em tỏa ra một cái gì như là văn hóa khiến anh càng trân trọng em… Bức họa anh vẽ còn chưa thành tranh hoàn mỹ. Vậy mà báu vật trời ban cho anh, trời đã vội tước đi”. Tôi nhìn ngày tháng trên bia quy ra âm lịch đúng là ngày Nguyên Tiêu. Từ đó, tôi có ngày giỗ của riêng tô. Miền Nam giải phóng, tôi phục viên. Về quê xin việc, túi đã mỏng lại chỉ có nghề vẽ nửa mùa, tính cách đầy chất lính có vẻ cứng nhắc nên không cơ quan nào nhận. Nguyên Tiêu năm 1977, tôi vào “Ngã Ba Cưa” viếng Hảo rồi tạt vào Huế thăm Trần Bình Đài. Cứ điểm ấy xuân Mậu Thân đơn vị tôi trầy trật mà không xóa nổi. Tôi ra ngồi bên sông Hương ngắm chiều xuống. Từng lứa đôi dắt nhau qua cầu Trường Tiền khiến tôi càng cảm nỗi cô đơn. Trên sông, thuyền êm trôi theo tay chèo khoan thai của thiếu nữ. Những câu Nam Ai man mác khiến tôi càng nhớ đến Hảo. Tôi lấy bức ký họa Hảo ra ngắm. Hảo trong họa nhìn tôi nồng nàn làm sao… Buồn quá tôi rút bút chì vẽ thêm vài nét. Hàng chục thiếu nữ Huế kéo đến vây quanh tôi. Rồi họ nhờ tôi vẽ, tôi tặng mấy thiếu nữ Huế mấy nét. Vậy mà cô nào ra cô ấy. Có một cô tinh ý nhận ra sự liên quan giữa tôi và bức họa mà tôi đang có. Cô ấy muốn tôi kể cho mọi người nghe lai lịch bức ký họa. Tôi giấu làm gì nhỉ, nên kể cho họ nghe, Hảo của tôi đẹp một cách anh hùng. Tôi có quyền kể chứ. Nghĩ như vậy, tôi bèn kể cho các thiếu nữ duyên dáng nghe chuyện tình dở dang của tôi và Hảo. Những cô gái Huế có mặt quanh tôi đều khóc. Tôi cũng khóc, tôi có thể nào không khóc được! Ngày hôm sau tôi lại ra ngồi trên sông Thơm trước khi ra Bắc. Lập tức, tôi lại bị các thiếu nữ Cố Đô bủa vây. Họ lại nhờ tôi vẽ và trả tiền cho tôi. Tiền nong đối với tôi không quan trọng lắm, được vẽ là hạnh phúc rồi. Mỗi cô được tôi tặng một ký họa, kể cả những cô hôm trước tôi đã vẽ. Chiều tàn, một thiếu nữ mời tôi về nhà chơi. Thiếu nữ ấy tên là Nguyệt Châu. Sự chân thành của Nguyệt Châu, tôi không thể từ chối. Nguyệt Châu đã kể lai lịch bức họa của Hảo do tôi vẽ cho bố mẹ nghe. Bố mẹ Nguyệt Châu cảm động lắm. Nhân lúc chuyện trò, bố của Nguyệt Châu khuyên tôi: “Chú nên ở lại Huế mở lò vẽ, thừa sống, chẳng phải lụy thằng nào cả…”. Tôi thấy lời khuyên ấy có lý. Có ở lại Huế, Nguyên Tiêu thường niên tôi mới tới thăm Hảo được. Vì từ Huế tới “Ngã Ba Cưa” chỉ có hơn bảy mươi cây số đi tắt.

Nghe chuyện ông Phấn kể, cô Vân buồn lắm và thầm nghĩ: Không một người con gái nào thay được Hảo trong ông Phấn. Mình phải trân trọng kỷ niệm thiêng liêng, đau đớn ấy… Cô Vân bèn nói:

- Em hiểu cả rồi. Em không trách anh nữa đâu. Em còn phải kính trọng chị Hảo nữa ấy chứ. Nhưng ngày hai bữa cơm em lo cho anh, anh không được từ chố.

Ông Phấn cảm kích đáp:

- Vâng! Vâng! Tôi không dám từ chối.

***

Trận bom B52 đánh xuống “Ngã Ba Cưa” vào buổi chiều một ngày tháng giêng năm ấy đã thành nỗi đau đớn của Hảo suốt đời. Các bạn của Hảo và một tiểu đội bộ đội hy sinh. Bộ đội hy sinh được được đơn vị đưa đi mai táng chỗ khác. Số thanh niên xung phong phải chôn tại chỗ vì chỉ huy thanh niên xung phong cũng hy sinh rồi. Hảo bị sức ép ngất lịm được một đơn vị của sư đoàn 308B cứu thoát. Khi tỉnh lại, Hảo đã nằm tại bệnh viện miền tây cạnh đường mòn Hồ Chí Minh. Sau mùa xuân Mậu Thân, Mặt trận 7 thiếu gạo nghiêm trọng. Bệnh viện bèn chuyển Hảo ra Quảng Bình điều trị. Bác sĩ viện trưởng hỏi chuyện Hảo. Ông được biết, Hảo đã học hết năm thứ nhất Đại học sư phạm. Ông động viên Hảo trở về học tiếp sau khi đã xác minh Hảo là sinh viên thứ thiệt. Để liên lạc với trường Đại học Hà Nội, bác sĩ viện trưởng đã nhờ một cán bộ tỉnh đội Quảng Bình giúp nhận đồng chí này ra Thủ đô công tác. Hảo trở về trường học tiếp nhưng lòng Hảo vẫn đăm đăm mây trời Trị - Thiên.

Ra trường cô giáo Hảo về dạy ở một trường thuộc một tỉnh trung du. Năm 1973, cô Hảo tìm về quê Phấn. Tới đầu làng, cô dừng chân lân la hỏi bà hàng bún. Bà hàng bún nói Phấn đã có giấy báo tử còn bố mẹ anh đã di cư xuống miền bể sinh sống. Nơi đó còn nhiều đồng đất hoang cần chân người bước tới. Cô Hảo đứt lòng quay về lập bàn thờ Phấn. Không ít đàn ông có giá tìm đến, cô nhẹ nhàng nói: “Để tôi thắp hương hỏi người đã khuất rồi mới trả lời được”. Người ngỏ lời cầu hôn ngồi chờ. Nhưng tất cả các đấng mày râu đều thất vọng quay về. Bởi những nén hương “hỏi người đã khuất” chưa có nén nào cháy hết. Nó chỉ cháy được chừng một đốt ngón tay là tắt ngấm. Hương tắt, cô Hảo khước từ ngay. Người ta phao tin hôn phu của cô rất thiêng, không cho cô đi lấy chồng. Có người chê hôn phu của cô là ác, cứ giam hãm cô. Cô Hảo không hề hé miệng.

Sau năm 1975, bố cô Hảo vẫn không về. Mẹ và anh em cô Hảo đã có cuộc sống ổn định ở miền Bắc. Năm nào cô Hảo cũng về thăm quê và tìm bố. Đi khắp 72 nghĩa trang Quảng Trị, cô Hảo vẫn chưa tìm thấy nơi bố nằm. Dù vẫn về thăm quê nhưng cô Hảo chưa một lần trở lại “Ngã Ba Cưa”.

Đường mòn huyền thoại Hồ Chí Minh được khởi công nâng cấp thành đại lộ Hồ Chí Minh. Em trai cô Hảo là Trần Hùng kỹ sư công binh trực tiếp chỉ huy thi công một đoạn đường thuộc con đường huyền thoại ấy. Đoạn đường ấy chạy dọc phía tây Quảng Trị. Biết được điều này, cô Hảo đi cùng với em vào thăm rừng núi cũ. Ngày 14 tháng giêng năm Canh Thìn. Cô Hảo đến “Ngã Ba Cưa”. Cô giật nảy mình vì “Ngã Ba Cưa” chỉ có một ngôi mộ lại mang tên “Trần Thị Hảo”. Quê quán, đơn vị không hề sai một ly. Vậy đúng là mộ của cô rồi. Cô đứng lặng suy nghĩ là chợt hiểu. Những ngôi mộ thật của bạn bè cô gia đình họ đã đón về quê rồi. Còn ngôi mộ mang tên cô là nhầm lẫn. Rất băn khoăn, cô Hảo bèn tìm người hỏi về ngôi mộ “vô chủ”. Xuôi về phía đồng bằng hơn ba cây số, cô gặp một ông già đi bẫy gà rừng. Cô bèn hỏi điều cần phải hỏi. Ông già cho biết:

- Trước đây, ngã ba này có sáu ngôi. Những mộ ấy chẳng có mấy xương thịt và xương thịt người bất hạnh cũng lẫn lộn cả. Trận bom hôm ấy ác lắm, người ta dò hỏi tên những người dừng chân ở ngã ba hôm ấy rồi gặp họa dựng bia, mà chắc gì đã đúng.

Cô Hảo lại hỏi:

- Thưa ông, sao ở đây chỉ còn có một ngôi? Nếu không người nhận, địa phương phải đưa về nghĩa trang chứ?

Ông già đáp:

- Nghe nói là có chủ. Chủ lại rất gàn không cho ai đụng đến ngôi mộ này.

Ông già nói: “Nghe nói là có chủ…” Vậy chủ ngôi mộ là ai? Câu hỏi ấy cứ xoáy vào đầu cô Hảo. Đêm ấy ngủ tại khách sạn Đông Hà, cô Hảo không sao chợp mắt được. Sáng dậy, Trần Hùng nói với chị:

Chị ạ, phải quay lại “Ngã Ba Cưa” thôi, phải tìm hiểu thêm việc này…

Cậu nói đúng ý chị. Đêm qua, chị có ngủ được đâu!

Phương đông vừa mới xòe rẽ quạt, xe của Trần Hùng đã chuyển bánh. Cách “Ngã Ba Cưa” hơn một cây số, xe phải dừng bánh. Sương dày quá, cách mươi mét không nhìn rõ người, cô Hảo và Trần Hùng phải rẽ sương mà đi. Tới gần ngôi mộ, hai người đều sững lại. Có một người đàn ông đang quỳ trước mộ khấn lầm rầm. Trên mộ là những bông hồng trắng muốt. Trầm thơm lặng lẽ tỏa vào hư vô. Cô Hảo tự hỏi thầm: “Có phải là anh không?” Cô định thần. Ai mà lại có nét giông giống anh? Trống ngực cô đập liên hồi. Nín thở, cô khẽ bước tới phía sau người đang quỳ trước mộ “Trần Thị Hảo”. Cách người đàn ông chừng ba bước, cô dừng lại. Có lẽ là anh rồi! Cô không thể nín lặng được nữa.

- Có phải là anh Phấn?

Người đàn ông giật mình quay lại rồi từ từ đứng lên, mắt găm vào cô Hảo. Một lúc sau, người đàn ông kêu lên:

- Hảo!

- Anh Phấn.

Hai người sững sờ nhìn nhau! Mây trắng vờn trên đầu họ. Kỹ sư Hùng cũng ngây ra. Sự thật trần gian hay là cổ tích? Ông Phấn chập chạp bước đến với cô Hảo.

- E…m

Cô Hảo gục đầu vào ông Phấn. Nước mắt con gái đẫm vai ông. Một lúc sau, cô hỏi nhỏ:

- Anh có biết em về quê anh không? Bà hàng bún nói là anh đã báo tử!

- Đúng là có chuyện đó, nhầm lẫn trong chiến tranh trách ai được? Anh cũng lên Bắc Ninh tìm em… Người ta nói em cũng đã báo tử! Mẹ thì đã lên ở với con trai.

Cô Hảo lời nghẹ trong cổ:

Truy điệu em xong, anh trai em đón mẹ em và cậu Hùng lên Thái Nguyên, nơi anh trai em công tác. Khi em ở chiến trường ra, gia đình em chuyển đi rồi. Em bay ngay lên Thái Nguyên, rồi sau quay về trường. Tốt nghiệp, em về dạy gần nơi anh trai em công tác để có điều kiện chăm sóc mẹ. Hòa bình, mẹ em muốn về Triệu Phong nhưng anh trai em không cho về. Vì bà già đã yếu rồi mà Quảng Trị ngày ấy khó khăn lắm. Cuộc sống ở Thái Nguyên ngày ấy chưa sung túc nhưng còn hơn Quảng Trị rất nhiều. Vả lại, đất mình đâu cũng là quê hương.

Ông Phấn bước tới bắt tay Trần Hùng:

- Cậu!

- Anh!

Không gian im phăng phắc. Đại úy Trần Hùng chớp chớp mắt nói:

- Trời không phụ công chị em đã đợi anh mấy chục năm.

- Cảm ơn cậu! Trời không đang tâm cướp lại cái mà Người đã ban cho anh. Người lính hôm nay oai quá!

- Thế hệ chúng em là bản sao của thế hệ các anh mà.

- Nhưng cậu phải nhớ, bản sao ấy phải có công chứng đấy …

Cô Hảo chen vào:

- Việc gì phải công chứng. Không có bản chính là gì có bản sao. Anh phải cảm ơn cậu Hùng đi. Theo ý em, cậu Hùng đã đặt cho em một loại hương. Nó chỉ cháy được chừng một đốt ngón tay là tắt. Không thế, em tiếp làm sao được khách vào nhà nhẵn ngõ, chó cũng phải quen.

Sương đã tan hết. Nắng hoa đào trải lụa làm sáng “Ngã Ba Cưa”. Mấy chục năm rồi, hôm ấy, Trần Hùng mới thầy mắt chị gái ngời lên …

Cô giáo Hảo thắp hương tạ trời đất và anh linh đồng dội. Ba người rời “Ngã Ba Cưa” không quên mang theo một tấm bia.

P.T.Q

Phạm Thái Quỳnh
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 122 tháng 11/2004

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

16/04

25° - 27°

Mưa

17/04

24° - 26°

Mưa

18/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground